Bài học nhỏ từ bồ công anh

 14:33 | Thứ tư, 06/09/2017  0
Chiều nọ trên đồi, lúc tha thẩn nhìn mây, rảo chân qua những nẻo cỏ, dõi mắt theo những đóa bồ công anh bay lượn trong gió, tôi đã nhớ đến Maurice Polidore Marie Bernhard Maeterlinck.

Vào năm 1907, khi ông đặt bút viết cuốn L’intelligence des fleurs (Trí tuệ của hoa) (1), thì nhà thám hiểm A. Yersin đang loay hoay đổi phương tiện đi lại như đổi áo sau những chuyến khám phá cao nguyên (2).

Trong các ghi chép của Yersin có nhiều trường đoạn lãng mạn mô tả cảnh thiên nhiên hoang dã của cao nguyên Lang Bian, nhưng không thấy chi tiết nào nói về hoa bồ công anh. Nhưng hẳn rằng loài hoa dại này đã có trên vùng núi đồi này từ rất sớm.

Mối quan tâm đến loài hoa dại trên ngọn đồi chiều hôm ấy, sự ham mê xê dịch của ông Yersin và cuốn tiểu luận triết học của nhà văn Bỉ Maurice Polidore Marie Bernhard Maeterlinck có gì chung hay không? Trong sự dẫn dắt của suy tưởng, có vẻ như tôi đã tìm ra manh mối. Từ khóa ấy là “tự do”.

Ảnh minh họa. Ảnh: Nguyễn Vinh

Maurice Polidore Marie Bernhard Maeterlinck tự do trong tư tưởng để khi cúi xuống những bông hoa dại, ông tìm thấy trong cõi lặng thinh của những tạo vật ấy, có sự di chuyển chống lại cái nghiệt ngã khi số phận cầm tù chúng ở một nơi trên mặt đất. Và tự bứt mình khỏi cuống để bay đi, đó chính là biểu hiện cho ý chí sinh tồn.

Mỗi loài hoa sẽ có một cơ chế tư duy, ý niệm về tự nhiên và kinh nghiệm riêng để tạo cho mình thế mạnh trong cuộc du hành uyên áo lộng lẫy đó. Trong những trang luận triết bay bổng của Maeterlinck, là cả vùng trời thi ca đầy phóng khoáng của thực vật. Đó là loài linh lăng đỏ tuy ốm yếu nhưng chứa hạt trong những ống xoắn nhẹ ba hay bốn vòng gì đấy để khi đến một độ chín, hạt không rớt xuống mà nhờ gió, bung mở, kéo dài cuộc hành trình. Đó là loài linh lăng đen biết thêm vào trong các dây xoắn những hàng hạt đúp vươn ra trên những lối đi lại chờ bám vào áo khách bộ hành hoặc lông thú mà được cùng viễn du. Riêng loài linh lăng đã hội tụ được cả hai phương pháp: anemophily (khuếch tán, rắc phấn theo gió) cộng thêm phương pháp eriphily (khuếch tán hạt giống nhờ lông thú).

Những người đắm đuối với Đà Lạt, tình yêu của họ cũng như loài bồ công anh. Họ mang thứ hạt mầm tự do của thành phố để bay đi trong cuộc đời, chỉ bằng những cánh dù nhỏ của sự lãng mạn nhuốm màu hoài niệm!

Đó có thể là cây hẹ nước, nhị của hoa đực và nhụy của hoa cái nổi trên mặt nước, nằm quá xa nhau vì thế cây đực phải bứt mình khỏi cuống để trôi dạt về phía bạn tình trong cuộc hôn phối bi thương mà tuyệt đẹp, từ đó có cơ chế thụ phấn diễn ra, kéo dài sự sống của loài. Cây đậu chổi có thể tự cắt được những cánh mỏng, láng mượt như lụa để bắn mạnh phấn vào không trung. Hay đến cây mướp đắng quen thuộc, khi quả đã chín vàng, cuống sẽ rụng xuống, từ các lỗ xoắn trong thân quả bắn ra trong dòng chất nhầy vô số hạt bay xa như có một bàn tay vô hình nào đó gieo rắc...

Rõ là từ khi thụ tinh đến lúc tựu hạt, già cỗi, những loài cây luôn biết cách khuếch tán ảnh hưởng mình theo những cách thế riêng để chu du trong đất trời. Maurice Polidore Marie Bernhard Maeterlinck đuổi theo một bông bồ công anh để dành cho loài hoa này những lời lẽ lấp lánh: “Cho đến bao giờ ta mới chế tạo được những chiếc dù hay máy bay nhẹ, cứng, ổn định và an toàn như cánh bồ công anh?”. Và triết gia - thi sĩ này viết: “Trong một thế giới mà ta cho là vô thức và thiếu vắng sự hiện diện của trí tuệ, ta bắt đầu mường tượng ra rằng, trí khôn của mình hầu như là cô độc. Khi tới gần ngắm nhìn vạn vật, ta thấy mình dường như không có khả năng tạo tác ra bất cứ điều gì như thế. Chúng ta chỉ là những kẻ xuất hiện muộn mằn trên trái đất này, như những đứa trẻ ngơ ngác...”.

Một khung cành Đà Lạt. Ảnh: Nguyễn Vinh

Maurice Polidore Marie Bernhard Maeterlinck thả tôi về cánh đồi khi chiều xuống, như gã hoàng tử không còn bé bỏng, lòng chất đầy sầu muộn loanh quanh với tinh cầu của mình. Chỉ có những vạt bông bồ công anh chốc chốc lại bay lên theo từng đợt gió. Hạt mầm khô nhẹ tênh đang nương theo những cánh dù trắng mà bay lượn. Hình như chúng đang ríu rít vẫy chào nhau trong không trung bừng sáng, không phải để nhân rộng sự sống, mà có khi dệt nên những bài thơ tự do và lãng mạn của tạo hóa mà phải hết sức tĩnh lặng và hòa mình vào cỏ cây thì mới nhận ra được.

Đà Lạt tạo ra một vùng khí quyển mà những cuộc du lãng lặng lẽ trong tự nhiên đất trời được khuyến khích, những cuộc kiếm tìm tự do được xiển dương. Điều này khiến tôi nghĩ rằng, những người đắm đuối với Đà Lạt, tình yêu của họ cũng như loài bồ công anh. Họ mang thứ hạt mầm tự do của thành phố để bay đi trong cuộc đời, chỉ bằng những cánh dù nhỏ của sự lãng mạn nhuốm màu hoài niệm!

Nơi chốn của hạnh phúc là viễn cảnh trước mặt hay khung cảnh bỏ lại sau lưng con người trong các cuộc lữ hành?

Tùy bút Nguyễn Vĩnh Nguyên

____________________

(1) Trí tuệ của hoa, Thi Hoa dịch, Sao Bắc Media và NXB Thế Giới, 2016
(2) Yersin là người mê những phương tiện di chuyển mới. Năm 1907, ông mua chiếc Alcyon sau khi bán chiếc Serpollet năm mã lực cho một công sứ tại Nha Trang. Sau đó, ông đổi xe nhiều lần: năm1912 ông đổi sang chiếc Clément Bayard và năm 1925 ông đi chiếc Zèbre để chạy từ Nha Trang lên D’ran, Đà Lạt, Hòn Bà, Di Linh… Có lần suýt mua phi cơ nhưng do Đông Dương thời bấy giờ không có sân bay dân dụng nên ông từ bỏ ý định

bài viết liên quan
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm
*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.