Cha tôi – người sống trọn vẹn cuộc đời mình với hai niềm đam mê lớn: VIẾT và CON

 10:37 | Thứ sáu, 01/12/2017  0
LTS: Trong chuyến viếng thăm chính thức Việt Nam từ 27.11 đến 30.11.2017, Tổng thống Ba Lan Andreije Duda đã đích thân trao tặng Huân chương Công trạng của Nhà nước Ba Lan cho ba dịch giả Việt Nam là Nguyễn Thị Thanh Thư, Tạ Minh Châu và Lê Bá Thự. Nhân dịp này, với tình cảm của một trong những người làm vai trò “đại sứ văn hóa” cho cả Việt Nam và Ba Lan, dịch giả Nguyễn Thị Thanh Thư - con gái nhà văn Nguyên Hồng, đã gửi cho Người Đô Thị bài viết sau đây.

Từ khi còn bé lắm, còn ở nhà với cha mẹ, các anh và các em, tôi đã nghe mẹ tôi nói: “Các bác (bạn văn, cùng đi kháng chiến với cha tôi), vẫn bảo: Nguyên Hồng chỉ có hai niềm đam mê, đó là mê viết và mê con”. Đúng là các ông nhà văn, nhận xét thật chính xác.

Hồi nhỏ, lời nhận xét ấy với tôi cũng chỉ như nhiều câu chuyện khác về cha tôi. Chúng tôi hồn nhiên sống bên sự viết lách cần cù, bền bỉ của cha và trong tình thương yêu, chăm sóc, lo lắng hàng ngày của ông mà coi đó như một sự đương nhiên. Đương nhiên như mặt trời thức dậy mỗi sớm mai vậy. Riêng điều này thì tôi phát hiện ra ngay từ hồi học cấp 2, đó là cha tôi là một con người đầy mâu thuẫn.

Thường thì ông dịu dàng như một người mẹ, giọng nói của ông ấm và ngọt, chúng tôi vẫn bảo giống như giọng của cha cố khi giảng đạo. Nhưng nếu như đúng lúc ông cần một cuốn sách nào đó mà chúng tôi đã đánh mất hoặc đang cho ai mượn thì ông gầm lên như một con hổ.

Nhà văn Nguyên Hồng và một cháu bé người Nga. Ảnh: TL

Có một lần như vậy, tôi lỉnh ra sau bếp đứng một mình và thầm nghĩ: “Thế mà hôm nọ viết thư về bảo nhớ và thương các con lắm!”. Tôi thấy khi tả về cha tôi, mọi người thường vẽ nên hình ảnh một lão nông xuề xòa, nhưng chỉ có trong gia đình tôi mới biết rằng lão nông ấy đã dạy dỗ những đứa con gái của mình hết sức tỉ mỉ. Trong bữa ăn, ông dậy chúng tôi phải gắp rau như thế nào, chấm nhẹ vào bát nước chấm rồi đưa bát cơm hứng lấy, sau đó để miếng rau vào bát cơm rồi mới và vào miệng chứ không được đưa miếng rau từ bát nước chấm thẳng lên miệng.

Khi chúng tôi lớn hơn, ông dạy cách quấn nem, phải quấn vừa tay, cái nem nhỏ thôi, nhiều lá, ít nhân thì khi ăn mới có độ ròn. Tôi còn nhớ có lần sau bữa ăn, tôi đưa khăn cho ông và nói “Thày lau mồm đi ạ”, ông sửa lại ngay “Con phải nói là lau miệng”. Thế đấy. Chúng tôi được cha rèn cho từng lời ăn tiếng nói.

Cô em gái áp út Yên Thế, nhờ có sữa Liên Xô, là nhuận bút của cuốn Bỉ Vỏ được dịch sang tiếng Nga, nên mũm mĩm, cao lớn nhất trong bốn chị em, bây giờ vẫn kể lể về nỗi thiệt thòi của mình. Rằng cha tôi thương cô út Diệu (con gái rượu của bố mà!).

Trong bữa ăn cuối cùng của cha, mẹ và hai em gái tôi vào sáng ngày 2.5.1982, có món đậu đũa xào. Vì thấy Diệu rất thích món này nên cha tôi cứ loay hoay sắp xếp lại các đĩa thức ăn trong mâm để cuối cùng thì đĩa đỗ xào đang ở gần Yên Thế chạy hẳn sang phía Diệu. Cả mấy người đều bật cười sau động tác đó. Riêng cha tôi chỉ cười mủm mỉm. Đó là cái cười đặc trưng của ông. Và rất có thể là nụ cười cuối cùng của đời ông. Bởi sau bữa cơm ấy, hai em tôi đều đến trường. Ở nhà chỉ còn lại cha mẹ tôi. Và không ai ngờ được, cha tôi đã từ bỏ cuộc đời mà ông yêu đến tận cùng này chỉ mấy tiếng sau đó!

Năm 1964, anh trai cả Hồng Hà đi bộ đội, đóng quân tận Điên Biên. Những buổi tối mát trời, cha tôi nằm ngoài đồi phía trước cửa nhà, tôi và em gái Nhã Nam nằm hai bên nghe ông kể chuyện. Ông kể rằng có một con chim đại bàng rất to, hạ cánh xuống đồi này, hai chị em Thư và Nhã trèo lên lưng đại bàng, thế là đại bàng vỗ cánh bay lên đưa Thư, Nhã vượt qua rất nhiều cánh đồng, làng mạc và núi non, lên tận Điện Biên để gặp anh Hà…

Chúng tôi thích lắm, tưởng như được đại bàng cõng và bay trong không trung thật, những đứa trẻ lên chín lên mười làm sao mà biết được trái tim cha mình đang thao thức hướng tới đứa con đầu lòng đang ở rất xa?! Tôi nhận thấy cha tôi dành tình yêu thật đặc biệt cho anh cả Hồng Hà của chúng tôi. Trong bài thơ “Hồng Hà tên con dòng sông yêu dấu” ông đã bao lần thốt lên: “Hồng Hà tên con …”:

Hồng Hà

Ngẩng trán lên

Cha hôn

Cha đón con

Đêm ấy

Áo cũ bọc che

Sao khuya vời vợi trên đầu

Canh khuya đất thở

Trái đất từ đây trên tay cha ôm giữ

Có tên con và những nguồn thơ.

Đó là cảm xúc thiêng liêng của người cha lần đầu tiên được ôm giọt máu của mình trong tay. Và với ông, con, đó là cả trái đất, là suối nguồn không bao giờ cạn của tình yêu, của văn chương.

Rồi:

Hồng Hà

Tên con

Dòng sông chảy miết

Hồng Hà

Tên con

Dòng sông lặng lẽ.

Hồng Hà

Tên con

Dòng sông lấp lánh

Và câu kết của bài thơ:

Hồng Hà

Tên con

Dòng sông bát ngát

Con dắt tay cha trên dòng sông đi mãi .

Không, cha không dắt tay con, mà là con dắt tay cha. Mãi tận khi cha đã mất đi, tôi mới thấm thía rằng, cha đã sống từng giây từng phút vì những đứa con của mình.

Nhà văn Nguyên Hồng (ngoài cùng bìa trái) tại đám cưới con gái Nguyễn Thị Thanh Thư năm 1979. Ảnh: TL

Anh em chúng tôi chẳng thể nào quên được mỗi lần cha tôi chuẩn bị đi Hà Nội, nào cặp bản thảo, nào túi quần áo, nào thức ăn đã được buộc gọn ghẽ trên chiếc xe đạp Liên Xô (cũng là nhuận bút của cuốn Bỉ Vỏ được dịch sang tiếng Nga) đã được dựng bên tường nhà, ông gọi chúng tôi lại, đưa cho đứa lớn nhất khoảng hai, ba hoặc năm hào gì đấy toàn bằng tiền xu để chúng tôi ở nhà mua quà.

Quà hồi ấy chỉ là những cây mía tím chặt ngay trên ruộng nhà cụ Chương Long ở đầu xóm, hay là những quả sấu chín vàng nhà bà Lành mà chúng tôi phải tự trèo lên cây hái.

Sau này chúng tôi mới biết rằng, sau khi bứng cả gia đình về lại ấp Cầu Đen, bỏ tem phiếu, bỏ việc bán sách của mẹ tôi ở Hiệu Sách Nhân Dân Tràng Tiền, bỏ mọi tiện nghi cho việc học hành của các con để cả nhà bắt đầu sống cuộc sống của những người nông dân, nhiều khi cha tôi cũng xót xa lắm.

Có vẻ như ông tận dụng mọi cơ hội để “đền bù” cho chúng tôi. Mùa hè nào ông cũng cho chúng tôi “về Hà Nội chơi”. Anh Sơn tôi yêu âm nhạc, ông cho anh đi học nhạc, học đàn viôlin, đàn măngđôlin. Thỉnh thoảng, chắc là những khi có nhuận bút, ông đưa chúng tôi đi ăn phở. Với chúng tôi hồi ấy, đó còn hơn cả sơn hào hải vị. Thậm chí ông còn cho chúng tôi vào cả nhà hàng Phú Gia bên Bờ Hồ!.

Anh Sơn tôi kể, có một lần ông đưa hai anh đến Phú Gia, nhưng ông chỉ gọi hai bát phở cho hai anh, còn ông thì ngồi nhìn các con ăn! Khi anh Sơn tôi kể lại chuyện này, thì hóa ra đứa nào cũng đã từng được bố đưa đến đây ăn phở, ăn bún. Không chỉ cho đi ăn, ông còn dẫn chúng tôi đi chơi vườn Bách Thảo, chỉ cho chúng tôi bảo tàng Lịch sử, Văn Miếu, cổng Hoàng Thành Thăng Long…

Một người cha chăm chút cho con đến như vậy sẽ như thế nào khi tiễn con đi bộ đội, đi vào cuộc chiến tranh đang trong thời kỳ khốc liệt nhất ấy? Tôi còn nhớ lần anh trai thứ hai tôi là Nguyễn Vũ Giang lên đường nhập ngũ, tôi được theo ông đến buổi tiễn quân ấy. Ông đã đọc bài thơ “Tiễn chân con” và khóc. Rất nhiều người có mặt hôm đó đã khóc. Còn tôi, mãi về sau, khi đã làm mẹ, đã ngộ ra nhiều điều, tôi mới khóc khi đọc bài thơ này.

Bài thơ tiễn chân con

Con chúng ta năm xưa võng ru

Mụ dạy cười mơ rồi nức nở

Chim hót, nắng bừng cũng giật mình bỡ ngỡ

Vú mẹ đêm này ấp ủ thịt măng tơ

Con chúng ta làng xóm đặt tên

Với mưa nắng sao trăng

Với hoa thơm quả chín

Với khoai sắn ruộng đồng

Với thú rừng cá biển

Với những chuyện thần kỳ với tên tuổi cha ông

Con chúng ta lớn lên

Tướt lẫy

mọc răng

tênh tênh

rồi chập chững

Lên ba

lên sáu

rồi mười sáu trăng tròn

Hôm nay đây mười tám thanh xuân

Mười tám thanh xuân

Con chúng ta ngực căng vai rộng

Mắt cũng như môi như rừng hoa như trời nắng

Hồn và tim tươi sáng tuyệt trần

Đứa con ấy hôm nay làng xóm đưa chân

Bà mẹ cha anh

bạn trai bạn gái

Quà tặng khăn thêu sổ tay giấy hoa quạt Hới

Trống ếch rộn đường từ gà gáy tan canh

Con chúng ta đi

Nghe Tổ Quốc gọi tên ôm hôn cài sao vàng mé ngực

Súng trao tay rồi trỏ:

giặc thù trước mặt

Bước qua xác chúng chiến thắng trở về

Nợ nước ngàn năm trọn vẹn

Nào con đi khỏe nhé

Cha đưa con hôm nay ra đi tòng quân nghĩa vụ

Cha chào con

chào anh bộ đội

chào con

(1963)

Đó là sự dung hòa giữa tình yêu đất nước, giữa niềm khát khao hòa bình với sự nức nở của tình phụ tử khi tiễn chân đứa con mà mình đã từng nâng niu, ấp ủ đến như vậy.

Một nhà văn Tiệp Khắc đến thăm gia đình nhà văn Nguyên Hồng tại Ấp Cầu Đen, Nhã Nam - 1971 (từ phải qua trái, hàng đầu: chị Yên Thế - con thứ 6, thân mẫu nhà văn Nguyên Hồng, chị Diệu - con út nhà văn Nguyên Hồng. Hàng sau: Nhà văn Tiệp Khắc, nhà văn Nguyên Hồng cùng vợ, chị Nhã Nam - con thứ 5 cùng hai cán bộ hội nhà văn). Ảnh: TL

Vì mồ côi cha từ bé, nhà lại nghèo, phải bỏ dở việc học nên sau này cha tôi hết sức trọng sự học hành. Ông coi việc học của chúng tôi cũng thiêng liêng như cái sự viết của ông vậy. Ông trân trọng từ thầy cô giáo đến các bạn học của chúng tôi.

Trong “Cát bụi chân ai”, nhà văn Tô Hoài đã viết đại ý rằng ở nhà tôi, nhất nhất đều nghe theo cha tôi “vì thầy nó bảo thế”. Nhưng tôi lại thấy cha tôi là người khá “dân chủ”. Ông cho phép anh em chúng tôi ngồi hóng chuyện mỗi khi các bạn văn đến nhà chơi. Những buổi đàm đạo văn chương của các ông bao giờ cũng sôi nổi và có phần cao siêu đối với tụi trẻ con chúng tôi. Và các buổi truyện trò ấy rất nhiều, với các bác Nguyễn Huy Tưởng, Kim Lân, Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Huy Cận, Hoàng Trung Thông…

Các bạn học của chúng tôi thường kéo đến nhà tôi vào buổi tối để học bài rồi ngủ lại, mai đi học sớm. Có lần phải đến bốn năm đứa con gái chúng tôi nằm trên một cái giường làm giường bị sập. Cha tôi lại thấy thú vị vì chuyện đó. 

Mùa thi, dù công việc ở Hội có bận đến đâu ông cũng về nhà để chăm sóc chúng tôi. Năm tôi chuẩn bị tốt nghiệp lớp 10 cũng thế, ông ở nhà để nhắc nhở chúng tôi ăn, ngủ, học hành đúng giờ. Ông chỉ sợ chúng tôi học khuya quá sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe.

Năm ấy tôi đã là con gái lớn rồi, nhưng ông bảo “quần áo thay ra cứ để đấy, thày giặt cho”. Tất cả bảy anh em chúng tôi đều được cha cầm tay nắn nót những chữ cái đầu tiên. Trong tất cả các bức thư ông gửi cho các con, dù chúng tôi ở đâu, bao nhiêu tuổi thì vẫn là sự lo lắng quan tâm của một người mẹ. Ông ít khi nói ra những khó khăn về kinh tế để chúng tôi yên tâm học hành.

Mùa hè năm 1970, khi tôi chuẩn bị đi du học, ông đã viết trong nhật ký của mình: “ 20.7.1970 – Thứ hai, Giang Thư đi sớm. Thư đi tàu điện. Giang đi cái xe đạp nhỡ. Khi Thư đi tôi thấy buồn buồn. Có thể 26 này nó đã đi rồi. […] Trong túi tôi chỉ còn đủ tiền tiêu khem khổ cho đến cuối tháng, nên chỉ mua cho Bé Diệu cái áo và không thể mua sắm cái gì cho Nhã”.

Tất cả lưu học sinh đoàn Hà Bắc cho đến tận bây giờ vẫn kể lại câu chuyện cha tôi đã dắt tay tôi vào tận Ban Tuyển Sinh và nói: “Đây, tôi giao con gái tôi cho các anh đây nhé “ “Giao” xong ông vẫn ngồi đấy chờ, khi cả đoàn lên đường ra Hà Nội tập trung, ông còn đạp xe đi theo tôi. Lúc ấy tôi xấu hổ lắm, vì chỉ có mỗi mình mình bị bố kèm như vậy. Năm 1976, khi tôi sắp tốt nghiệp về nước, anh Giang tôi đi B cũng đã có tin ra, cha tôi đã viết trong thư:

“Cầu Đen ngày 7/3 76

Hồng Hà và Nhã Nam hai con.

Hà đã gởi tiền cho Nhã chưa?

Ở nhà vẫn mong các con, các cháu về. Dạo này u khỏe hơn. U sang hẳn bên đồi quét rồi khệ nệ gọi cái Bé khiêng về. Chiều nào nắng ấm cũng như buổi trưa u đều vừa quét lá vừa đun bếp. Những đêm tốt trời u ngủ được. Buổi trưa còn đọc sách mấy giờ. [… ] Nước da u đã có vẻ hồng hào hơn mấy năm gần đây. Như vậy khi Thư hay Giang về, chắc sức u còn lại nữa. [… ] Còn Nhã cho thày biết việc học hành của con. Nhã phải sắp xếp sự ăn uống cho hợp lý, không nên giữ gìn dè dặt quá. U một phần vì nghĩ ngợi chỉ vì thấy Sơn, Nhã gày yếu, rồi lo buồn các con ở xa ốm đau, thiếu thốn. Riêng Nhã, con phải làm sao cho u vui vì con khỏe mạnh cũng như học hành thật tốt… “.

 Mẹ tôi là người ốm yếu, bệnh tật nên cha tôi luôn lo lắng cho bà. Trong một bức thư gửi con gái Nhã Nam ông viết:

“Thế có vẻ biết nghĩ và thương u lắm, đón các việc cứ bảo “U để đấy, con làm cho!” [… ]. Đến tháng 3 này anh chị Sơn về phép, thày sẽ cho u đi chơi Hà Nội.

Con nhớ phải sắp xếp sự ăn uống cho tốt, cố theo lời thày dặn. Nếu con cần thêm tiền, con kê thật rõ các khoản tiền để thày gởi. Chỗ con ở có muỗi để thày gởi màn lên”.

Dù chúng tôi đã đi làm thì sự quan tâm của cha tôi dành cho các con vẫn không đổi. Ông rất vui khi thấy chúng tôi đi học thêm ngoại ngữ. Có lần được tặng một cái cặp da rất đẹp, ông mang sang cho Nhã Nam và bảo: “Tặng cho con nhân dịp con đi học tiếng Anh”. Cái cặp ấy bây giờ Nhã Nam vẫn giữ để đựng các tài liệu quí của gia đình.

Trái tim nhân hậu và rộng lớn của cha tôi không chỉ dành thương yêu cho gia đình, mà còn cho tất cả những thân phận thiệt thòi mà ông gặp trên đường đời. Tôi không nhớ hai anh Giang và Sơn của tôi chơi thân với anh bạn học cùng lớp tên là Lê Văn Phòng từ năm lớp mấy, chỉ biết rằng anh qua lại nhà tôi như một đứa con trong gia đình. Đó là những năm đói kém. Nhà anh nghèo lắm. Anh Phòng đi học về là về nhà tôi, ăn cơm cùng chúng tôi. Khi có việc cần, anh lấy xe đạp của các anh tôi để đi. Chúng tôi gọi bố anh là “bác Phòng”.

Anh từ trái sang là các dịch giả: Nguyễn Thị Thanh Thư, Lê Bá Thự, Nguyễn Chí Thuật, Nguyễn Thái Linh thành viên đoàn dịch giả Việt Nam tại Đại hội Quốc tế các dịch giả văn học Ba Lan tổ chức tại Villa Decius (Ba Lan) năm 2009. Tại đây, bằng tài trợ của Book Institute, các dịch giả có thể đến đây thực hiện công việc dịch thuật từ một đến ba tháng.

Năm 1953-1954, cha tôi đi chữa bệnh ở Trung Quốc, được phía bạn tặng một cái áo bông mà mọi người gọi đùa là áo Mao Trạch Đông. Khi thấy bác Phòng rét quá, cha tôi cũng đưa luôn chiếc áo ấy cho bác dùng. Nhà tôi với nhà bác thân thiết với nhau như ruột thịt cho tới tận bây giờ.

Ở xóm Cầu Đen, nhà tôi cũng toàn chơi với những nhà khá đặc biệt. Đó là vợ chồng anh Cát, chị Lĩnh. Tính anh hơi khùng khùng, tính chị hơi lẩn mẩn, chậm chạp. Anh chị có tới năm, sáu đứa con, đứa con gái lớn lại bị khiếm thính và thần kinh không bình thường. Có lẽ đó là một gia đình khó khăn nhất xóm. Anh chị làm nhà ở ven đồi, trước nhà tôi. Anh chị thường giúp nhà tôi làm các việc nặng như cày ruộng, cấy lúa. Cha mẹ tôi có cái gì ngon cũng bảo đưa xuống cho anh chị.

Mỗi lần đi Hà Nội về, cha tôi lại bảo chúng tôi đưa xuống cho cái Hải (tên đứa con gái lớn) khi thì bánh xà phòng thơm, khi thì cái khăn mặt. Những khi anh chị túng tiền đều lên nhà tôi “giật tạm”. Nhưng thường thì anh chị chỉ trả bằng khoai, thóc hoặc mớ tôm con cá.

Anh chị cũng coi chúng tôi như người nhà. Thích nhất là nhà anh chị có cái giếng nước rất sâu, bên dưới là đá gan gà. Anh em chúng tôi toàn xuống đó tắm và gánh nước về dùng rất tự nhiên, không cần phải hỏi han gì cả. Đó là nguồn nước trong lành, mát ngọt không bao giờ quên được của tuổi thơ tôi. Bây giờ chị Lĩnh vẫn còn sống và sống sung túc đàng hoàng. Chúng tôi vẫn hỏi thăm nhau về chị và các con của chị.

Tôi nghĩ rằng cha tôi, dù sống cả một đời vất vả, thiếu thốn, nhưng là người hạnh phúc. Vì ông được sống suốt đời với người “mẹ hiền từ và yêu dấu” của mình. Thực ra cả cha tôi và bà nội tôi đều ít nói, chỉ lặng lẽ làm việc, lặng lẽ yêu thương. Những khi ở nhà, buổi sáng dậy, cha mẹ tôi thường pha trà và ngồi trước hiên nhà thưởng thức. Nhưng bao giờ cha cũng bảo chúng tôi mang trà xuống mời bà trước.

Bà nội tôi mất năm 1973, cha tôi dặn cả nhà không cho tôi biết, sợ ảnh hưởng đến việc học của tôi, vì tôi vốn là đứa cháu được bà yêu nhất và tôi cũng là đứa cháu gắn bó với bà nhất. Mãi về sau này, không hiểu sao trong một bức thư, trang thư của em Diệu, chắc vẫn tuân thủ lệnh của bố nên em viết “À, bà vẫn khỏe chị ạ.”, nhưng đến trang của mẹ tôi viết, chắc do tôi hỏi về bà nhiều quá nên mẹ tôi đã phải nói thật về chuyện bà tôi mất. Sau đó tôi đã nhận được thư của cha tôi:

“Hà nội, 29.5.74

Thanh Thư, con vô cùng thương yêu.

Thày vừa nhận được thư con. Bu đã báo tin bà chết. Thật ra, thày không muốn cho con biết, vì chính thày vẫn thấy bà không mất, mà đang ở đâu như bên cô Quế hay về Hải Phòng-Nam Định. Sáng hôm 12 tháng chạp ta, bà còn ăn cháo thịt, rồi bà vào bếp thổi cơm, lúc ra còn rửa mặt, rửa chân, len lỏi qua các đống chậu, bát, rổ rá, thùng khiến thày và bu phải gắt lên sợ bà vấp ngã. Sau đó bà vào bế thằng Hào cho chị Hà đi giặt. Lúc về, chị Hà đón cháu, bà về giường nằm thì sỉu đi. Từ đấy không còn tri giác. Y sĩ bảo bị xuất huyết não. Luôn 4 đêm thày nằm bên bà, nghe bà thở pho pho như mọi đêm ngủ ngon, da mặt càng đỏ hồng, thỉnh thoảng lại nhấp ừng ực từng thìa nước đường thày cố gạn vào miệng. 12 giờ đêm 15 tháng chạp, thì bà thở rất mạnh, như người chạy mệt, toàn thở hắt ra rồi giật cục, nhỏ dần, nhỏ dần, lìm lịm. 12 giờ 10 thì thày gọi bà lần cuối, kéo chân tay cho bà rồi cùng bác Mai thay quần áo dài và lót chăn để bà nằm mãi mãi. Sáng ra mới đánh thức cả nhà dậy.

Thật ra bà vẫn ngủ, mặc áo the, tay chân mềm mại, nét mặt tươi tỉnh, người khô khan, sạch sẽ, bà con ai đến thăm cũng cứ bảo bà cụ ngủ. Phải! Bà đang ngủ, một giấc ngủ sau 80 năm trải qua không biết bao nhiêu tình cảnh, đoạn đời và cuối cùng thì được sống đầy đủ ước vọng: cách mạng thành công, kháng chiến thắng lợi thày u và vợ chồng cô Quế gia đình đông đúc, các cháu khôn lớn, nên người và trong hai năm chót đời ẵm hai chắt nội nếp có tẻ có ở dưới mái nhà làm bằng mồ hôi nước mắt và bao nhiêu kỷ niệm thấm thía.

Con có nhắc thày, chuyến con về nhà thày không cho con sang bà và cô Quế, chính vì thày muốn giữ sức khỏe và sự yên tâm cho con cũng như bây giờ vậy, thày vẫn nhận lấy bất kỳ sự lo lắng vất vả nào cũng chỉ để cho các con được khỏe mạnh và yên tâm ăn học, cũng chỉ để cả nhà không phải khổ. Phải lo và có nhiều thời giờ nhất chăm chút cho những công việc xã hội.

[…]

Con phải biết sắp xếp kỳ hè này cho thật hợp lý. Thày chỉ mong con học và hành thật tốt để lúc nào thày cũng được tự hào, vui mừng và càng nhiều hy vọng về con, về tất cả các con …

Cha con

Nguyên Hồng”

Còn mẹ tôi thì nhất mực tôn trọng bà nội tôi. Có những lúc hai ông anh nghịch như quỉ sứ của chúng tôi trêu bà quá, mẹ tôi bảo: “Không có bà làm sao có bố mày” . Chỉ một câu nói ấy thôi, cũng đủ để thấy được mẹ tôi trọng cái “tài” của cha tôi đến nhường nào, và vì thế nên trọng cả người đã sinh ra chồng mình. Có thể nói rằng, cha mẹ tôi thực sự là hai người bạn đời của nhau.

Mẹ tôi mê cha tôi “từ cái nhìn đầu tiên”. Bà bảo rất yêu cái dáng “luôn ngẩng cao đầu của bố mày”. Hai ông bà có thể đàm đạo với nhau về mọi chuyện. Về văn chương, về con cái, về bè bạn, xóm giềng, về quê cha đất tổ, về cả tuổi học trò. Cha tôi có viết một bài về kỳ thi của lớp nhì, mà đề thi là viết bài luận bằng tiếng Pháp về cái xe đạp. Mẹ tôi bảo: “Chỉ vì cái đề tài oái oăm ấy mà tôi suýt trượt đấy!”. Thế là cả hai cùng cười rất thú vị.

Nguyên Hồng cùng các nhà văn Quảng Ninh 1982. Ảnh: TL

Cha mẹ tôi cũng hay nhắc đến những người thầy người cô của mình thuở nhỏ, như cô Thục Viên. Thậm chí cha tôi “Tối khuya còn nằm võng chuyện với nhà tôi về Tư sản dân tộc và tư sản mại bản … “( Nhật ký ngày 29-30 – 1962) nữa chứ. Theo tôi, đó là hạnh phúc.

Mẹ tôi có vai trò như một trợ lý của cha tôi. Bà không chỉ chép bản thảo cho ông, mà còn giúp ông nhớ lại những tích xưa, nhiều bài thơ hay nhiều sự kiện, bởi mẹ tôi là một người ham đọc và có trí nhớ có lẽ còn tốt hơn cả cha tôi. Chẳng hiểu sao mà những người nông dân quanh vùng lại “đồn” rằng: “Bà Duyên Hồng toàn chữa văn cho ông ấy đấy”. Cả nhà tôi đều rất thích thú với cái tên “Duyên Hồng” cũng như sự khẳng định hồn nhiên này!

 Với các con, cha tôi không chỉ lo lắng, quan tâm mà còn luôn chia sẻ như với những người bạn. Trong mỗi bức thư gửi, ông đều “báo cáo” những công việc mình đã làm, chia sẻ những dự định cho tương lai.

Trong thư viết cho tôi ngày 15.6.1978, có đoạn: “Cũng trong hai tuần nay, cả nhà đều mong con về . Nhất là thày. Vì thày chỉ đợi con để sắp xếp một số công việc. Thày đang sửa hai tiểu thuyết Hơi thở tàn và Quán Nải để chuẩn bị cho in toàn tập tác phẩm trước Cách mạng Tháng 8 cùng với Bỉ Vỏ, Những ngày thơ ấu và một số truyện ngắn chưa in. Vì thế thày phải ngừng viết Núi rừng Yên Thế (đã xong chương VIII, vẫn đều tay, cuốn hút). Có lẽ sang tháng 7, trung tuần tháng 8 này thì xong, đồng thời thày sẽ về Hà Nội sửa bản in Những nhân vật ấy đã sống với tôi, và xem tình hình xuất bản tuyển tập”.

Cha tôi coi việc viết văn thiêng liêng còn hơn cả một tôn giáo. Trước khi ngồi vào bàn viết, ông chuẩn bị rất cẩn thận, các bạn văn của cha tôi gọi đó là “dọn ổ đẻ”. Ông trải chiếu ra nền nhà, cái bàn viết bằng gỗ nhỏ nhắn, chân thấp được sắp xếp gọn gàng. Giấy viết, bút, nghiên mực (cái nghiên mực bằng thủy tinh do một người bạn nào đó bên Liên Xô tặng), mà mực thường là mực tím, đôi khi ông còn đặt thêm một quả khế hay quả ổi lên bàn. Mùa hè còn thêm một cái quạt nan nữa. Bao giờ ông cũng ngồi viết ở nhà ngang. Tất cả chúng tôi đều hiểu, khi ông đã ngồi vào bàn viết là không được gây tiếng động, không được làm bất cứ việc gì phiền đến ông.

Nhà văn Nguyên Hồng uống rươuj cùng nhà văn Kim Lân và vợ chồng họa sĩ Nguyễn Thị Hiền. Ảnh: TL

Nếu có khách đến, thì người gác cổng là mẹ tôi. Bà sẽ tùy cơ ứng biến. Có thể bà sẽ phải nói dối là cha tôi không có nhà. Cái vùng đất trung du bán sơn địa ấy, mùa hè thì nóng hầm hập, mùa đông lại rét buốt. Cha tôi ngồi viết, mồ hôi chảy từng giọt, từng giọt vào mùa hè. Còn vào mùa đông thì ông phải quấn thêm cái chăn. Lạnh hơn nữa thì đốt củi sưởi.

Chúng tôi không biết, nhưng khi đọc nhật ký của ông, tôi thấy ông rất hay kêu đau đầu. Vậy mà ông chỉ lặng lẽ chịu đựng. Tôi cũng không bao giờ quên hình ảnh ông xoài người trên một tấm bảng lớn cỡ bảng học trên lớp, trên đó là sơ đồ khối các chương trong tiểu thuyết “Sóng gầm”. Ông phải làm vậy bởi có quá nhiều nhân vật. Mà ông vốn là người cẩn thận, chỉn chu.

Để viết “Núi rừng Yên Thế”, ông đã phải cần mẫn thu thập tài liệu hàng mấy chục năm trời. Từ năm 1962, trong nhật ký ông đã viết “Ngày 29-30-1962. Tôi tranh thủ về để lấy tài liệu về Hoàng Hoa Thám. Tôi vào bà Cả Trọng. Bà Vui đương cấy ba giăng ở chân ruộng tát nước.” Cha tôi được coi như thành viên trong gia đình của Hoàng Hoa Thám.

Giỗ chạp, lễ tết nào ông cũng có mặt. Tôi đã được theo ông đến thăm nhiều đình, chùa của vùng Yên Thế như chùa Lèo, đồn Phồn Xương cũng như gia đình cháu con của Hoàng Hoa Thám. Cha tôi có mối gắn kết thân thiết với các sư ông trụ trì ở các chùa đó. Tôi còn được đến cả nơi gọi là mộ của Hoàng Hoa Thám, nằm trong rừng, bên một con suối.

Khi lên cấp 3, tất cả anh em chúng tôi đều phải đi trọ học. Và chúng tôi đều trọ ở nhà cụ Cả Huỳnh (cụ bà Cả Huỳnh là con của Cả Trọng, người con trai lớn của Hoàng Hoa Thám). Những lần nhà cụ Cả Huỳnh có giỗ, cha tôi hay mang xuống đôi chim bồ câu của nhà nuôi được.

Sau này, khi con gái của Hoàng Hoa Thám là bà Hoàng Thị Thế về nước, cha tôi và bà vẫn hay gặp nhau để nói chuyện về Đề Thám. Bà Thế gọi cha tôi là anh Nguyên Hồng. Tôi còn nhớ cái lần bà đến nhà tôi ăn cơm, cả bà nội và mẹ tôi đều nói chuyện với bà bằng tiếng Pháp, tự nhiên, thân thiết.

Cha tôi là thế. Rất xởi lởi, hồ hởi với mọi người. Từ con người ông tỏa ra một tình người nồng ấm, tươi trong. Ông hạnh phúc, bởi mặc dù phải trải qua bao nhiêu “tình cảnh, đoạn đời”, nhưng ông đã sống và làm việc đúng như mình muốn.

Trong bất cứ hoàn cảnh nào, ông luôn là chính mình. Như một điềm báo, như một dự cảm, vào đúng nửa cuộc đời mình, ông đã viết trong nhật ký: “Hôm nay cũng sáng giăng sau một trận mưa. Tôi man mác thấy buồn và cũng thấy náo nức vui. Hình như bắt đầu từ đây tôi bắt đầu một bước sáng tác vậy. Năm nay tôi 32 tuổi. Tôi vừa thấy mình già sau mười lăm năm viết nhưng cũng thấy mình chưa làm gì cả, chưa viết gì cả. Tình yêu của tôi có lẽ giờ mới rõ ràng và đằm thắm. Tôi đi dần đến sự sáng suốt mà yêu, bình tĩnh, sân si mà yêu. Và có lẽ tình yêu ấy là thấy trong sự sống có một cái gì đó không chết, không bao giờ chết, nó tiếp tục, nẩy nở và tươi đẹp hơn lên”.

Hà Nội, 10.5.2017

Nguyễn Thị Thanh Thư

 

Nguyên Hồng (1918-1982)

Quê quán: phố Hàng Cau, Nam Định

Nghề nghiệp: nhà văn

Tác phẩm chính: Bỉ Vỏ, Những ngày thơ ấu, bộ tiểu thuyết: Sóng gầm, Thời kỳ đen tối, Cơn bão đã đến, Khi đứa con ra đời.

Giải thưởng Hồ Chí Minh 1996 (đợt 1).

Dịch giả Nguyễn Thị Thanh Thư sinh năm 1953. Thạc sĩ Điện tử viễn thông, tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Ba Lan. Là con gái của nhà văn Nguyên Hồng.

Tác phẩm chính:

Cô đơn trên mạng; Tình nhân; Trường học cho các bà vợ; Lâu đài cát; Người đầu tiên trong danh sách…

Giải thưởng dịch thuật văn học của Hội Nhà văn Hà Nội.

Huân chương Công trạng của Nhà nước Ba Lan do đích thân Tổng Thống Ba Lan Andreije Duda trao tặng nhân chuyến thăm chính thức Việt Nam từ ngày 27.11 đến 30.11.2017.

Đã cùng 3 dịch giả Việt Nam khác tham dự Đại hội Quốc tế các dịch giả văn học Ba Lan năm 2009 với sự tham dự của 215 dịch giả đến từ 56 quốc gia.

bài viết liên quan
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm
*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.