Đào tạo tiến sĩ: Chất lượng và năng lực công bố quốc tế

 22:54 | Thứ sáu, 01/12/2017  1
Không phải ai theo học tiến sĩ cũng đều có khả năng công bố quốc tế, nhưng không ai có thể công bố quốc tế mà không cần được học hành một cách chuẩn mực ở trình độ tiến sĩ hoặc với sự hướng dẫn của một người có trình độ tiến sĩ quốc tế.

Ảnh manh tính minh hoạ (nguồn: Internet)

Nhiều ý kiến phản đối đề án mới của bộ Giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) vì lo ngại chất lượng đào tạo tiến sĩ (TS) không đạt yêu cầu, do chạy theo số lượng mà xem nhẹ chất lượng.

Có thể hiểu sự lo ngại này xuất phát từ các vụ lùm xùm gần đây trong vấn đề chất lượng ở một số cơ sở đào tạo TS trong nước, hoặc liên quan đến tình trạng văn bằng giả hiệu của các trường “dỏm”. Một lần nữa, để làm rõ vấn đề thì rất cần Bộ GD&ĐT công khai các số liệu thống kê và báo cáo liên quan, cho phép dư luận cũng như giới nghiên cứu tiếp cận được dễ dàng.

Tạm thời bóc tách các thông tin được cung cấp rời rạc trên báo chí, có thể biết rằng mỗi năm cả nước đào tạo ra trên 1.100 TS, trong khi tổng số nghiên cứu sinh trong nước theo đề án 911 trong 5 năm 2012-2016 là 2.050, tức bình quân mỗi năm 410 người. Vậy điều kiện nào để các chương trình đào tạo TS trong nước tham gia đề án 911? Liệu các cơ sở đào tạo TS kiểu “lò ấp” hay chất lượng kém mà dư luận lo ngại có lấy kinh phí từ đề án này không, và nếu có thì bao nhiêu? Câu trả lời xin dành cho Bộ GD&ĐT, nhưng cá nhân tác giả tin rằng phần chất lượng kém sẽ không chiếm tỉ lệ lớn.

Chất lượng TS và năng lực nghiên cứu khoa học được biểu hiện qua nhiều mặt khác nhau, mà một trong những chỉ số đánh giá được ưa chuộng là số lượng bài báo đăng trên các tạp chí khoa học có trong danh mục của Viện Thông tin Khoa học (Institute for Scientific Information – ISI**). Nhiều người dựa vào con số bài báo công bố trên các tạp chí ISI của Việt Nam quá thấp để kết luận rằng số TS hiện có quá nhiều về số lượng mà quá kém về chất lượng, từ đó cho rằng không nên tiếp tục đào tạo TS tiếp nối các các đề án 322, 911…

Ở điểm này, cần phải tách bạch hai quá trình: học làm nghiên cứu ở trình độ TS (với vai trò là sinh viên) và thực hành nghiên cứu (với vai trò là nhà nghiên cứu). Không phải ai theo học TS cũng đều có khả năng công bố quốc tế, nhưng không ai có thể công bố quốc tế mà không cần được học hành một cách chuẩn mực ở trình độ TS hoặc với sự hướng dẫn của một người có trình độ TS quốc tế. Vì vậy, để tăng cường năng lực nghiên cứu khoa học và công bố quốc tế, không có cách nào khác ngoài việc phải liên tục và liên tục đầu tư đào tạo ngày càng nhiều hơn nữa lực lượng TS trẻ theo chuẩn mực thế giới.

Chuẩn mực thế giới ở đây là gì, thiết nghĩ cũng cần nêu rõ. Đó là gửi người đủ khả năng chuyên môn và ngoại ngữ đi học trực tiếp ở một trường ĐH đáng tin cậy ở một nước có trình độ phát triển cao hơn Việt Nam (phần 5.000 TS đào tạo ở nước ngoài của đề án mới).

Đó cũng có thể là tạo điều kiện thuận lợi cho những cơ sở đào tạo trong nước liên kết với các đối tác quốc tế uy tín để phối hợp đào tạo trong nước (đề án mới dự kiến 500 TS). Đó là kiên quyết đảm bảo chất lượng của các cơ sở đào tạo TS trong nước khi tham gia đề án mới (chỉ tiêu 2.000 TS trong 8 năm).

Đó là thu hút luôn các TS đã được đào tạo sẵn một cách bài bản vào làm việc tại các trường ĐH trong nước (dự trù trên 180 người/năm trong đề án mới). Có thể nói các mục tiêu chiến lược của đề án đều đã được vạch đầy đủ, chỉ còn là vấn đề lập kế hoạch khả thi với quy trình triển khai chặt chẽ, đồng bộ và minh bạch; và đây mới chính là khâu yếu nhất của mọi đề án do Bộ GD&ĐT điều hành.

Quay lại câu hỏi về chất lượng TS đào tạo qua các đề án 322, 911 và ảnh hưởng của họ đến mặt bằng nghiên cứu khoa học trong nước. Nếu tính theo từng giai đoạn 5 năm kể từ năm 2000 (bắt đầu có số liệu thống kê của Bộ GD&ĐT), số lượng TS tại các trường ĐH Việt Nam (A) tăng nhẹ trong giai đoạn đầu, sau đó chững lại và chỉ bắt đầu tăng mạnh kể từ 2010. Đó cũng là thời điểm số bài báo ISI của Việt Nam (B) bắt đầu gia tăng đáng kể. Nếu như trong giai đoạn 2001-2008 hệ số tương quan giữa sự gia tăng số TS (dA) và số bài báo ISI (dB) hàng năm là -0,20 thì trong giai đoạn 2009-2016 con số này là 0,63. Còn nếu xét sự thay đổi của hai yếu tố này trong từng quãng thời gian 5 năm thì hệ số tương quan tổng thể là 0,88 (bảng 4).

Chúng ta đều biết tương quan không mặc nhiên là quan hệ nhân quả, cũng như là một phần kết quả nghiên cứu công bố quốc tế của Việt Nam không thuộc các trường ĐH. Nhưng kết quả phân tích sơ bộ như trên vẫn cho thấy có một mối quan hệ nhất định giữa sự gia tăng số bài báo ISI của Việt Nam và số TS ở các trường ĐH từ những năm 2009-2010 trở về sau, mà nguồn bổ sung đáng kể chính là từ các đề án 322, 911, song song với nhiều nguồn học bổng trong nước và quốc tế khác.

Dĩ nhiên, rất cần các số liệu thống kê và báo cáo chính thức từ phía Bộ GD&ĐT để kiểm chứng và nghiên cứu sâu hơn, nhưng mối tương quan này có một cơ sở nhất định thông qua một số dẫn chứng dù vẫn còn rời rạc trên báo chí. Ví dụ điển hình nhất là trường hợp giáo sư (GS) trẻ nhất Việt Nam năm 2014, Phan Thanh Sơn Nam, cùng với 55 phó giáo sư (PGS) được phong cùng đợt, là những người đã được đào tạo ở nước ngoài bằng học bổng 322 và có nhiều thành quả nghiên cứu xuất sắc sau khi quay về nước giảng dạy và nghiên cứu[1].

Lại có ý cho rằng chất lượng giáo dục đại học Việt Nam trong bối cảnh hiện nay cần ưu tiên thay đổi ở khâu giảng dạy-đào tạo chứ không phải nghiên cứu. Câu hỏi đặt ra là, một giảng viên đại học để dạy giỏi có cần nghiên cứu tốt không? Và ngược lại, một giảng viên nghiên cứu tốt thì có đương nhiên dạy giỏi không?

Nếu giữ quan niệm về “tiến sĩ” như truyền thống thi cử khoa bảng từ ngàn xưa để lại, chỉ cần thông làu kinh sử, biết cách diễn giải lại lời giảng huấn của cha ông để lại qua sách vở, thì quả thật người giảng viên không cần nghiên cứu giỏi.

Vấn đề là, nền giáo dục đại học Việt Nam ngày nay đã được tạo dựng theo mô hình phương Tây, điều càng không thể tránh khỏi trong thời đại toàn cầu hoá, với ba sứ mạng chính: 1) nghiên cứu để khám phá ra cái mới; 2) giảng dạy-đào tạo để truyền bá kiến thức từ cái cũ đến cái mới; 3) chuyển giao tri thức cho xã hội[2]. Một giảng viên đại học có khả năng giảng dạy tốt mà không làm nghiên cứu giỏi thì cũng chỉ là một người truyền rao lại kiến thức của người khác, và sinh viên đại học khi đó chỉ giản đơn trở thành “học sinh cấp IV”.

Để đào tạo tốt theo mô hình đại học hiện đại, người giảng viên phải có đủ năng lực nghiên cứu để khám phá cái mới và không ngừng mở rộng chân trời tri thức của chính mình, từ đó gợi mở ra nhiều con đường cũng như lan truyền cảm hứng cho các thế hệ trẻ hơn tiếp bước và đi về phía trước.

Vì vậy, nâng cao trình độ nghiên cứu cho đội ngũ giảng viên ĐH là một xu hướng tất yếu và không thể đảo ngược.

Kỳ tới: Tiến sĩ, nhìn từ ngân sách và chế độ đãi ngộ sau đào tạo

Nguyễn Tấn Đại

(Tác giả bài viết là tiến sĩ Khoa học Giáo dục, Đại học Strasbourg - Pháp; Nhà nghiên cứu độc lập về khoa học giáo dục và truyền thông khoa học)


** Do Eugene Garfield sáng lập năm 1960, được Thomson Scientific & Healthcare mua lại năm 1992, và từ cuối năm 2016 đã được bán gộp trong mảng hoạt động sở hữu trí tuệ của Thomson Reuters, với tên gọi mới là Clarivate Analytics.

[1] Văn Chung. (2015). Hai tân giáo sư đang là thứ trưởng. VietNamNet, ngày 04/02/2014. Truy cập ngày 23/11/2017 tại: http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/hai-tan-giao-su-dang-la-thu-truong-220281.html

[2] Etzkowitz H. 2003. Innovation in innovation: the triple helix of university-industry-government relations. Social Science Information, 42(3): 293-337.

 

bài viết liên quan
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm
*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.