Đào tạo tiến sĩ: Nhìn từ số liệu thực tế

 09:28 | Thứ sáu, 01/12/2017  0
Muốn đánh giá số lượng tiến sĩ là nhiều hay ít, không thể chỉ nhìn vào những con số tuyệt đối bao nhiêu người một ngày hay một năm, mà phải dựa trên tổng thể quy mô nền giáo dục của một quốc gia.

LTS: Mấy tuần nay, dư luận rộ lên câu chuyện Bộ Giáo dục và Đào tạo (BGD&ĐT) trình Chính phủ đề án “Nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục đại học và các trường cao đẳng sư phạm đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo giai đoạn 2018-2025, tầm nhìn 2030”, trong đó kiến nghị chi 12.000 tỉ để tiếp tục đào tạo và thu hút thêm 9.000 tiến sĩ (TS) cho các trường đại học (ĐH) và cao đẳng sư phạm (CĐSP) trong vòng 8 năm.

Rất nhiều ý kiến phản biện, đóng góp đã được nêu ra trên khắp các phương tiện thông tin đại chúng và mạng xã hội. Tựu trung, các ý kiến này đều xoay quanh các vấn đề sau đây: 1) số lượng TS tại các trường ĐH Việt Nam; 2) chất lượng và năng lực công bố quốc tế của các TS Việt Nam; 3) ngân sách đào tạo và chế độ đãi ngộ sau đào tạo TS.

Trong bài này, tác giả sẽ lần lượt đề cập đến từng vấn đề dưới góc nhìn tổng hợp, có số liệu dẫn chứng và có đối chiếu quốc tế khi cần thiết, nhằm gợi ra những suy nghĩ lâu dài về sự nghiệp giáo dục và đào tạo của đất nước. Bài viết mở đầu sẽ đề cập đến số lượng tiến sĩ.

Ảnh minh hoạ: TL

Mục tiêu chính của đề án là nâng tỉ lệ giảng viên (GV) có trình độ TS công tác tại các trường ĐH và CĐSP lên 30 % vào năm 2025. Nhiều ý kiến phản biện cho rằng số lượng TS trong nước đã quá nhiều (trên 24.300 người) nhưng chất lượng không tương xứng, và đề án này cũng như các đề án trước (322, 911) có nguy cơ chạy theo số lượng. Có người còn làm phép chia cơ học để than rằng mỗi ngày mở mắt sẽ thấy ra đời 3 TS, hay đặt lại vấn đề có cần nhiều TS đến vậy hay không.

Tuy nhiên, muốn đánh giá số lượng TS là nhiều hay ít, không thể chỉ nhìn vào những con số tuyệt đối bao nhiêu người một ngày hay một năm, mà phải dựa trên tổng thể quy mô nền giáo dục của một quốc gia. Theo đó, các con số thống kê cho thấy số trường ĐH và số lượng sinh viên tăng liên tục trong suốt hơn 15 năm qua, đặc biệt là từ 2005 (hình 1).

Trong khi đó, số lượng GV ĐH và tỉ lệ GV có trình độ TS chỉ gia tăng ở mức độ vừa phải. Thậm chí, trong tương quan chung với tổng thể quy mô nền giáo dục đại học thì tỉ lệ GV có trình độ TS có xu hướng diễn biến giảm chứ không tăng (từ trên 19 % năm 2000 xuống xấp xỉ 14 % những năm 2009-2013 và chỉ mới tăng lại vượt mức 20 % vào năm 2017).

Có quan điểm cho rằng do chính chúng ta đã mở quá nhiều trường ĐH, rồi tự tạo ra nhu cầu đào tạo TS, nên chỉ cần tiết giảm nhu cầu lại là được. Quả thật là, giáo dục ĐH Việt Nam đã có một thời kì phát triển “nóng” một cách quá mức. Nhưng một mặt, câu chuyện ngày hôm nay không phải là quy trách nhiệm cho các thế hệ trước mà phải tìm giải pháp khắc phục cho tương lai. Mặt khác, áp lực dân số lên nền giáo dục nói chung và giáo dục ĐH nói riêng là điều tất yếu ở mọi quốc gia ngày nay.

Xét ở thời điểm bắt đầu “bùng nổ” số lượng trường đại học ở Việt Nam, số lượng sinh viên cả ĐH và cao đẳng (CĐ) của Việt Nam là vào khoảng 1,3 triệu, tương đương với 1,6 % dân số cả nước (khoảng 83 triệu). Tỉ lệ này tăng dần đến 2,6 % vào năm 2015 (khoảng 2,3 triệu sinh viên trên 91,7 triệu dân), góp phần vào việc nâng tỉ lệ lao động đã qua đào tạo bậc CĐ và ĐH lên 11 % (bảng 1).

Như vậy, với tỉ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm theo thống kê chính thức là khoảng 4 %, ước tính tỉ lệ dân số trong độ tuổi lao động có bằng cấp từ cao đẳng trở lên của Việt Nam đã gia tăng từ gần 10 % năm 2010 đến dưới 15 % năm 2015.

So với thế giới, tỉ lệ lao động đã qua đào tạo chuyên môn, kĩ thuật trong dân số Việt Nam như vậy là rất thấp. Ở các nước phát triển thường xuyên được dùng làm “chuẩn” tham khảo cho các vấn đề giáo dục của Việt Nam, tỉ lệ dân số trong độ tuổi lao động (25-64 tuổi) có trình độ từ cao đẳng trở lên dao động từ 25 % (Pháp, Đức) đến 46 % (Canada, Israel) vào năm 2005, và không ngừng gia tăng cho đến nay (từ 28 % đến 57 % vào năm 2015). Áp lực dân số và phát triển kinh tế - xã hội thúc đẩy nhu cầu tăng trưởng đại học, đó là điều tất yếu.

Để đảm bảo chất lượng đào tạo ĐH trong bối cảnh tăng trưởng mạnh về số lượng ấy, một trong những chỉ số đánh giá cần được chú trọng đó là tỉ lệ SV/GV. Số liệu thống kê do Bộ GD&ĐT cung cấp (hình 1) cho thấy tỉ lệ SV/GV ở bậc ĐH biến động theo chiều hướng tích cực, giảm dần từ 31,8 % năm 2000 đến 31,8 % năm 2005, rồi 29,6 % năm 2010 và 27,8 % năm 2015. Tuy nhiên, so với các nước có trình độ phát triển cao thì tỉ lệ này vẫn còn một khoảng cách khá xa, vì hầu hết đều dưới 20 % (bảng 2).

Qua những số liệu khái quát trên đây, có thể nói rằng các ý kiến cho rằng Việt Nam đã có quá nhiều TS so với nhu cầu thực tế là hoàn toàn thiếu cơ sở. Con số trên 24.300 TS hiện có thường được nêu ra như minh chứng cho việc không cần đào tạo thêm TS cho các trường ĐH. Nhưng cần lưu ý là không phải người nào học xong TS cũng tham gia giảng dạy, nghiên cứu ở trường đại học.

Ở Na Uy, một nghiên cứu năm 2009 cho thấy có 74 % số TS tốt nghiệp tham gia khu vực công, và chỉ 40 % làm việc trong lĩnh vực giáo dục[1]. Bên cạnh đó, có người quan niệm rằng trường đại học ngày nay không cần mất thời gian đào tạo nhiều TS, mà chỉ cần tài cao đức trọng và tự học là đủ. Những ý kiến này đúng, nhưng chưa đủ: có khả năng và biết tự học là điều kiện cần, học tới nơi tới chốn để đạt trình độ TS theo chuẩn mực của thế giới là điều kiện đủ; thiếu một trong hai vế đều không thể thành tài và hội nhập trong tư thế “bằng vai phải lứa” với bạn bè thế giới.

Ở các nước phát triển hàng đầu, để đạt được ngạch giảng viên chính thức của trường ĐH cần phải có học vị TS, và tỉ lệ GV có trình độ TS thường chiếm ít nhất phân nửa tổng số cán bộ nhân viên của một trường ĐH. Ở các nước đang phát triển, do thiếu hụt nguồn nhân lực nên họ có thể chấp nhận GV có trình độ thạc sĩ, nhưng cũng luôn chú trọng khâu đào tạo TS. Cụ thể, Brazil đặt mục tiêu từ 2005 tăng gấp đôi số lượng GV ĐH có trình độ TS sau 10 năm; Malaysia phấn đấu từ 2007 tăng tỉ lệ GV có trình độ TS từ 30 % lên 75 %.

Trong giai đoạn 1991-2004, quy mô đào tạo TS ở Úc, Nhật Bản, Anh tăng từ 46 % đến 82 %, ở Hàn Quốc tăng 166 %, ở Đài Loan tăng 379 %, còn ở Trung Quốc tăng 817 % (từ 2.556 TS/năm lên 23.446 TS/năm). Ở Đức tuy tỉ lệ tăng không cao (khoảng 3 %), nhưng số lượng bằng TS cấp hàng năm là trên 23.000[2]. Tính trên phạm vi toàn cầu từ một thập niên gần đây, mỗi năm có trên 174.000 bằng TS được cấp ra, trong đó phân nửa là tại châu Âu và Bắc Mỹ, với tỉ lệ lớn người học, còn gọi là nghiên cứu sinh (NCS), xuất thân từ các nước đang phát triển[3] (dĩ nhiên ở đây không tính các văn bằng TS giả hiệu).

Tách riêng các con số 23.400 TS đang có hay 9.000 TS trong 8 năm, có người sẽ tự “trầm cảm” với ý nghĩ mỗi ngày mở mắt thấy ra đời 3 TS hay ra đường đâu đâu cũng gặp TS. Nhưng đặt trong tương quan chung với các nước tiến bộ mà ta luôn phấn đấu theo đuổi, các con số ấy chỉ là những mục tiêu rất khiêm tốn. Về quy mô dân số, Việt Nam xếp thứ 14 thế giới, chiếm khoảng 1,3 % dân số toàn cầu. Giả sử đề án được phê duyệt và đạt hiệu suất 100 %, thì góp 3 TS trong số hơn 470 TS toàn thế giới mỗi ngày (khoảng 0,6 %) cũng không phải là điều gì ghê gớm. Tạm gọi là dốc toàn lực quốc gia, chúng ta cũng chỉ sánh ngang năng lực của 1-2 trường đại học thuộc nhóm hàng đầu ở Pháp (bảng 3).

Cũng liên quan đến số lượng TS, có người cho rằng hiện nay có quá nhiều TS trong nước kém chất lượng nên có đào tạo thêm bao nhiêu TS mới cũng vô ích. Cách tiếp cận này có nhiều điểm bất ổn, cả về lịch sử lẫn tương lai. Cần phải nhấn mạnh rằng, con số hơn 23.400 TS hiện có cũng như chất lượng tổng thể của lực lượng TS này không phải là hệ quả của riêng các chương trình đào tạo nhân lực trình độ cao bằng ngân sách Nhà nước. Đề án đầu tiên (322) được phê duyệt vào năm 2000 và tuyển hồ sơ đợt đầu năm 2002, và sau 10 năm thực hiện đã cử được 3.838 người đi học TS[4], với kết quả báo cáo sau cùng là 2.256 TS hoàn tất chương trình đào tạo[5].

Đề án tiếp theo là 911 được phê duyệt năm 2010, bắt đầu tuyển hồ sơ từ 2012, và sau 5 năm thực hiện đã bổ sung thêm được 3.819 NCS, trong số đó một phần đáng kể còn chưa học xong… Để biết đích xác tỉ lệ đóng góp của các đề án này vào con số TS hiện hữu tại Việt Nam là bao nhiêu, cần phải có số liệu thống kê và báo cáo chính thức, mà cho đến giờ Bộ GD&ĐT vẫn chưa cho thấy ý muốn công khai các thông tin này. Nhưng ngay cả khi các đề án này đạt hiệu suất 100 % thì tổng số TS được đào tạo qua các đề án này cũng chỉ không vượt quá 1/3 tổng số TS hiện có. Giả sử bình quân mỗi luận án TS thực hiện trong 4 năm, thì những thế hệ TS đầu tiên tốt nghiệp trong khoảng năm 2005-2010, tức họ chỉ mới gia nhập lực lượng nghiên cứu trong khoảng 5-10 năm trở lại đây. Vì vậy, không thể quy trách nhiệm cho các đề án này đối với sự yếu kém tổng thể về chất lượng TS của nền giáo dục đại học hiện nay.

Ngược lại, chính điểm này dẫn đến câu hỏi: chất lượng TS đào tạo qua các đề án 322 và 911 có đạt yêu cầu hay không? Và ảnh hưởng của số TS đào tạo mới này đối với mặt bằng nghiên cứu khoa học trong nước như thế nào?

Kỳ sau: Chất lượng tiến sĩ và năng lực công bố quốc tế

Nguyễn Tấn Đại

(Tác giả bài viết là tiến sĩ Khoa học Giáo dục, Đại học Strasbourg - Pháp; Nhà nghiên cứu độc lập về khoa học giáo dục và truyền thông khoa học)


[1] Kyvik, S. (2015). The acedemic career system in Norway. In M. Yudkevich, P. G. Altbach, & L. E. Rumbley (Eds.), Young faculty in the twenty-first century: International perspectives (pp. 173–200). Albany, NY, USA: State University of New York Press.

[2] Nerad, M. (2010). Increase in PhD production and reform of doctoral education worldwide. Higher Education Forum, 7, 69–84.

[3] Nerad, M. (2011). What we know about the dramatic increase in PhD degrees and the reform of doctoral education worldwide: Implications for South Africa. Perspectives in Education, 29(1), 1–12.

[4] Minh Hiếu. (2012). Hậu đề án 322. Người Đại Biểu Nhân Dân, ngày 05/06/2012. Truy cập tại: http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=78&NewsId=248467

[5] Lê Văn. (2017). Tại sao cần có thêm nhiều giảng viên tiến sĩ? VietNamNet, ngày 12/11/2017. Truy cập tại: http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/tuyen-sinh/tai-sao-can-dao-tao-them-nhieu-tien-si-410466.html

bài viết liên quan
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm
*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.