GS-TSKH. Vũ Minh Giang: Phải đặt lợi ích quốc gia lên trên ý thức hệ

 07:56 | Thứ bảy, 28/04/2018  0
Hòa hợp hòa giải dân tộc là chủ trương đã được Đảng và Nhà nước khởi xướng từ những ngày đầu thống nhất đất nước. Đã có nhiều chính sách được ban hành nhằm xóa đi những định kiến chính trị, thống nhất lòng người sau sự kiện 1975. Ở khía cạnh lịch sử, việc nhìn nhận, đánh giá khách quan các sự kiện trong thời đoạn lịch sử này tác động như thế nào đến quá trình khép lại quá khứ đau thương? Người Đô Thị có cuộc trao đổi với GS-TSKH. Vũ Minh Giang - Phó chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam.

Thưa ông, lịch sử tự thân nó là một môn khoa học, nhưng lại vừa liên quan mật thiết với ý thức hệ chính trị khiến cho cách đánh giá sự kiện chưa thật sự toàn diện, khách quan. Ông đánh giá như thế nào về những ảnh hưởng của điều này đến quá trình hòa hợp hòa giải dân tộc và những hệ lụy về niềm tin xã hội trong thời gian qua? 

Tôi nghĩ câu chuyện hòa hợp dân tộc cần được nhìn nhiều chiều, nhiều phía. 

Thứ nhất, phải coi chuyện có những hận thù, mâu thuẫn giữa tập hợp người này với tập hợp người khác sau một cuộc chiến tranh là tất yếu. Chính nghĩa thì cũng phải bắn vào kẻ thù của mình. Phi nghĩa thì cũng phải tiêu diệt đối tượng mà họ cho là kẻ thù của họ. Thương vong này sẽ tác động lên cả hai bên, đến gia đình mỗi bên. Nên chuyện hận thù sau mỗi cuộc chiến là điều không tránh khỏi. 

Còn làm sao để hòa giải, hòa hợp nhanh chóng là chủ trương lớn, có tầm nhìn xa. Có tầm ở chỗ nhìn thấy nếu cứ để hận thù tiến triển một cách vô thức thì sẽ làm tổn thương khối đại đoàn kết dân tộc, sức mạnh quốc gia. Nhưng chủ trương là một chuyện, thực hiện chủ trương như thế nào lại là chuyện khác. Bốn mươi ba năm qua, quá trình hòa giải dân tộc đã cải thiện được rất nhiều chuyện mâu thuẫn giữa hai phía tham gia chiến tranh là người Việt. Nhưng cuộc chiến tranh này có sự hiện diện của bên thứ ba là Hoa Kỳ. Bằng quan sát của mình, tôi thấy sự hòa giải giữa Việt Nam và Hoa Kỳ nhanh hơn giữa người Việt với nhau. Điều này cũng tác động ngược trở lại quá trình hòa giải giữa người Việt. 

Tuy nhiên, kết quả của quá trình hòa giải này chưa được như kỳ vọng. Nó còn khá nặng nề ở chỗ này chỗ kia, việc này việc kia. Chẳng hạn gần đây trên mạng có luồng ý kiến tranh luận rằng liệu có tiếp tục gọi đội quân ấy là “ngụy quân, ngụy quyền” hay không? Tôi nghĩ rằng thực sự vẫn còn những lấn cấn trong những người trực tiếp cầm súng. Ở đâu đó tôi từng nói rằng hòa giải phải bắt đầu từ trong đầu của những người từng tham chiến.  

Thứ hai, có những lằn ranh của quan niệm, chẳng hạn về mặt ý thức hệ, một bên đề cao mình là người chiến thắng, mình là chính nghĩa, đối phương là phi nghĩa, nên có tư tưởng rằng kẻ thua cuộc thì không thể coi ngang bằng, không thể “hòa”. 

Thứ ba là có vấn đề kỳ thị do thù địch chưa hết. Chẳng hạn những người đã từng cầm súng ở đội quân phía bên kia thì luôn luôn bị nhìn bằng con mắt dè chừng. Vì vậy, năng lực của họ và của cả con cái họ đã không được sử dụng trong giai đoạn đất nước thống nhất. 

Thứ tư, có thể chúng ta đã không lường đến chuyện có những thế lực không muốn dân tộc chúng ta hòa hợp. Họ muốn chúng ta tiếp tục thù hằn, mâu thuẫn, người nọ ghét người kia thì họ mới trục lợi được. 

Điều gì cần làm để thúc đẩy hòa hợp hòa giải dân tộc đạt kết quả mong muốn, thưa ông?

Tôi cho rằng phải bắt đầu từ suy nghĩ: lợi ích quốc gia, dân tộc là trên hết, chứ không phải ý thức hệ. Đừng tin rằng ai đó cùng ý thức hệ với mình thì họ sẽ bảo vệ mình. Không có chuyện đó. Bằng chứng là, tất cả các triều đại phong kiến phương Bắc đánh ta, thực hiện những hành vi cực kỳ dã man trên đất nước chúng ta, thì họ đều chung ý thức hệ Nho giáo với chúng ta. Một khi còn lấn cấn, không đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết, mà phân biệt người này theo chủ nghĩa này, người kia theo chủ nghĩa kia thì mục tiêu hòa hợp dân tộc sẽ còn khó khăn. 

GS-TSKH. Vũ Minh Giang (trái) và giáo sư sử học Phan Huy Lê. Ảnh: TL

Mặc dù chúng ta có Nghị quyết 36 (của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, ban hành ngày 26.3.2004 - PV) nhưng khi thực thi thì chưa được thông suốt. Ngày 30.4 năm nay chúng ta càng phải nói nhiều về những bài học này. Chiến tranh đã lùi sâu vào quá khứ mà vẫn còn giữ hận thù tới thế hệ thứ hai, thứ ba thì vô hình trung sẽ làm suy yếu quốc gia, dân tộc. Muốn hòa giải thì đầu tiên phải giải phóng tư tưởng. Muốn giải phóng tư tưởng thì phải có tâm, phải biết đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên hàng đầu. 

Như ông nói, việc hòa giải giữa người Việt Nam và người Mỹ lại dễ dàng hơn và nhanh chóng hơn cuộc hòa giải giữa những người Việt Nam với nhau, vì sao?

Tại vì Mỹ là một cường quốc kinh tế. Hòa giải với Mỹ thì người Việt Nam sẽ có lợi. Hơn nữa, người Âu Mỹ có cái nhìn rành rọt và sòng phẳng, việc nào ra việc nấy. Ngay khi cuộc chiến tranh đang diễn ra thì nhiều người Mỹ đã phản đối cuộc chiến tranh này. 

Một khi còn lấn cấn, không đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết, mà phân biệt người này theo chủ nghĩa này, người kia theo chủ nghĩa kia thì mục tiêu hòa hợp dân tộc sẽ còn khó khăn.

Phải nói thêm rằng chính người Mỹ đã tạo điều kiện hòa giải cho những người Việt Nam trong nước - bên thắng cuộc - với những người Việt ở phía bên kia. Khi chính quyền đại diện cho cả nước Mỹ đã chọn bình thường hóa quan hệ với Việt Nam thì những người Việt ở Mỹ vẫn còn lấn cấn nhưng khó mà giữ mãi thái độ đối lập, thù địch. 

Là một nhà sử học, ông có thấy lịch sử về cuộc chiến tranh mà chúng ta vẫn gọi là cuộc chiến chống Mỹ đã không được ghi lại một cách hoàn toàn khách quan?

Cái không khách quan chỉ là một phần. Tôi đã chỉ ra bốn, năm điều hạn chế của việc viết sử hiện nay. Hạn chế thứ nhất là lấy tiếp cận nội dung làm phương thức chủ đạo, cho nên viết quá nhiều thứ khiến người đọc đau đầu, rối trí, khiến hiệu quả của những bài học lịch sử không lớn. Thứ hai là không khách quan, trình bày một trận chiến theo công thức bên ta rất anh hùng, chính nghĩa, giỏi giang; còn địch thì rất kém, phi nghĩa, dã man, thua là tất yếu. Thứ ba, đôi khi viết sử của chúng ta còn áp đặt vào khách quan lịch sử, những nhận định có sẵn bằng những bài học lịch sử cho học sinh. Những bài học này đôi khi là mục đích chính trị hơn là khoa học lịch sử. Chính trị ở đây theo nghĩa người học phải chấp nhận một loạt các định đề: cái này xấu xa, cái này phải lên án. Và hệ lụy của nó là khiến người đọc nhìn nhận vấn đề bị lệch lạc.

Trong bộ Lịch sử Việt Nam vừa tái bản năm 2017, cách gọi “ngụy quân, ngụy quyền” được thay thế bằng “Chính quyền Việt Nam Cộng hòa” hay “quân đội Việt Nam Cộng hòa”. Ông có nghĩ việc thay đổi cách gọi phần nào tác động đến nhận thức xã hội? 

Cách gọi này từng được dùng nhiều trong các tài liệu của Tổng cục Chính trị, của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây chỉ là một cách diễn đạt không biểu cảm về một thực thể chính trị là chính quyền và quân đội phía Nam. Để cho người đọc có cảm giác rằng những gì viết trong cuốn sử là khách quan thì cách xưng hô phải giảm biểu cảm đi. 

Một trong những chủ trương của sử học hiện đại là gọi đúng tên. 

Một số nhà sử học từng nhắc tới những “khoảng trống trong lịch sử” và “khoảng trống trong nhận thức”. Ông nghĩ sao về những khoảng trống này? 

Có một quan niệm rất sai rằng ai đó viết ra một cuốn sử thì điều đó là đúng. Tất cả những cuốn sách lịch sử, kể cả những công trình hay nhất thì cũng chỉ tiệm cận chân lý thôi. Quá khứ quá nhiều lớp lang. Tôi ví dụ, có mỗi chuyện xe tăng nào vào Dinh Độc Lập trước thôi mà các nhà sử học cãi nhau không biết bao nhiêu hội thảo. Thứ hai là, không bao giờ có thể kỳ vọng tất cả lịch sử chúng ta đều biết hết, đều nhận thức đầy đủ. Những cái không có ấy chính là khoảng trống. Thí dụ, Mỵ Châu - Trọng Thụy là câu chuyện đau thương. Mỵ Châu chết ai cũng biết. Nhưng bà ấy có con hay không thì trước đây ta không biết. Gần đây người ta nói rằng con của bà là cháu Triệu Đà, làm vua ở bên Phiên Cung.

Còn một loại khoảng trống thứ hai là chuyện hiểu không đúng về lịch sử. 

Giáo sư sử học Phan Huy Lê:

Những khoảng trống lịch sử ảnh hưởng đến chủ quyền lãnh thổ quốc gia

Hôm 11.4.2018, tại Hà Nội, trong buổi giới thiệu và phát hành tủ sách Thành tựu khoa học và chuyển giao tri thức, GS. Phan Huy Lê nói có nhiều khoảng trống trong lịch sử Việt Nam, từ đó đưa đến những lỗ hổng rất lớn trong nhận thức lịch sử, chẳng hạn như khu vực Nam Trung bộ, trước Nguyễn Hoàng là “khoảng mù”. “Và phải nói là, những khoảng trống trong nhận thức lịch sử như vậy, theo tôi không chỉ lịch sử Việt Nam bị ảnh hưởng mà còn gây ra hận thù, từ đó có thể dẫn đến rất nhiều quan điểm sai trái, ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức, không những về lịch sử văn hóa Việt Nam mà cả những vấn đề về chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam”. 

Trao đổi với báo chí, GS. Phan Huy Lê cũng cho biết: “Lịch sử phải rất khách quan, trung thực, cái gì đã là thực tế lịch sử được tồn tại thì mình phải công nhận, mô tả nó một cách trung thực như nó đã từng tồn tại. Có thời kỳ mình bỏ qua, đơn giản hóa, hoặc đã trình bày lịch sử một cách hơi cực đoan, hoặc là phủ định vai trò của nó. Tôi lấy ví dụ như chính quyền Việt Nam Cộng hòa từng tồn tại thì lịch sử phải trình bày, mô tả nó đúng như nó từng xuất hiện. Trong đó, có quan hệ với Mỹ thế nào, quan hệ với các tổ chức khác thế nào, với cách mạng Việt Nam thế nào”...

Hoàng Hương thực hiện

bài viết liên quan
Loading...
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm
*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.