Về Bản Thăng theo mùi men lá

 18:08 | Thứ bảy, 02/07/2022  0
Nhắc đến Bản Thăng - miền đất xa tít, cách Quản Bạ chừng hơn giờ xe chạy, giáp biên Trung Quốc - bạn bè thân quen trong giới nghệ đã từng ngao du xứ ấy, ai cũng tủm tỉm đầy ẩn ý, bởi lần nào hạnh ngộ, đều hơn một lần… say.

Biết đến Bản Thăng, bởi đấy là quê vợ của Quách Ngạn Vỹ - một thanh niên xứ Đài, khi làm luận án nghiên cứu mỹ thuật Việt đương đại, lò dò lên Quản Bạ, rong chơi cao nguyên đá Đồng Văn, rồi phải lòng cô gái Bố Y của Bản Thăng, và quyết định rời quê hương, lên miền cao này ở rể. Cứ thế qua từng năm, cánh họa sĩ thân quen với Vỹ ở Hà Nội, theo lời rủ rê, tụ về Bản Thăng khi thì tham gia vào dự án “Ngôi sao miền núi” - đem hội họa đương đại đến với trẻ miền cao, khi thì sáng tác, mùa thì rong chơi, nhưng lần nào cũng một kết quả chung là phê say đến quên đường về. 

Cái say đầu tiên có phần e ngại khi lăm le tìm về Bản Thăng, ấy là một hành trình xa xôi, đầy trắc trở, lắc lư đèo dốc miền đông bắc với nhè nhẹ 8 - 10 giờ xe chạy từ Hà Nội mới đến được trung tâm Quản Bạ. Cung đường khổ ải ấy dễ khiến khách xuôi xanh mày xanh mặt vì say xe, xây xẩm. 

Những quanh co trên cung đường Hà Giang - Quản Bạ.


Gạt chuyện đường xá, ngựa xe qua một bên, cái đã đời, phiêu phiêu của cung đường núi cùng cảnh đẹp ngoạn mục nơi đất trời Hà Giang, là một đặc sản cộng thêm, đủ đưa kẻ lên non chuyển cơn say sang cảnh giới khác. Ở cơn say mới này, cheo leo đèo dốc hòa quyện trong sương khói đất trời, khi quang đãng khi mây vờn, khi âm u, mù mịt, giữa ban ngày mà lắm lúc nhìn không tỏ lối, nhưng chỉ vài phút sau núi rừng - đèo dốc lại bừng sáng, cứ như một trò đùa con tạo ghẹo trêu khách miền xa. 

Những cái say kể trên, chỉ mới khúc dạo đầu cho hành trình tìm đến Bản Thăng. Từ trung tâm Quản Bạ, đường vào Bản Thăng không còn nhiều quanh co, ngoằn ngoèo, đèo dốc, thay vào đó là hoang sơ, bình dị của bản làng với điểm ấn tượng là những mái nhà trình tường đã qua nhiều đời người gắn bó. 

Những ngôi nhà trình tường cổ kính của người Bố Y trên đường vào Bản Thăng.


Nhớ lần lên Bản Thăng đúng ngày Tùng Vài vào chợ phiên. Đây là phiên chợ biên giới, họp vào thứ Sáu hàng tuần ngay trên tuyến đường liên xã từ Quản Bạ vào Bản Thăng. Không gian chợ như bức tranh đa sắc, mỗi tộc người như H’mông, Dao, Bố Y, Thái… diện trang phục bản sắc riêng, quây quần từng nhóm nhỏ bên các gian hàng ăn uống, bên khu bán gia súc, gia cầm, khu rau củ quả… đầy nhộn nhịp. Và ở chợ phiên ấy, một góc toàn chị em bán rượu ngô men lá, được cánh đàn ông đi chợ mong ngóng nếm trải. Chưa cần thử qua những giọt nồng ở chợ phiên Tùng Vài, chỉ hít hà trong không khí cái se lạnh, đã thấy thơm ngậy mùi ngô, cùng chút nồng hăng của hơi men lan tỏa trong không gian sau mỗi lần người đi chợ phiên thử rượu.  

Quả thực, bao cái say cảnh, tình, khi va phải nồng nàn ngô men lá chốn này, hình như đều nghiêng ngả, chếnh choáng hết cả. Khi theo anh bạn Quách thổ địa về quê vợ Bản Thăng, câu chuyện men lá trở nên rôm rả, hào hứng, bởi nơi đây còn giữ những bí kíp làm men lá truyền đời của người Bố Y mà các bà, các mẹ, các thím trong bản thuộc nằm lòng. 

Cây rau lợn - vì thường mọc gần chuồng lợn - là loại lá chính trong công thức men lá của Bản Thăng.


Bản Thăng yên bình với khoảng 30 ngôi nhà trình tường, nằm êm đềm trong một vùng thung lũng ngay dưới chân núi, nơi có con suối đón nước thượng nguồn trong veo từ biên giới đổ về. Ngay trong những ngày hè oi nóng, nguồn nước vẫn lạnh ngắt như nước đá, nghiệm ra ở những chốn phát tiết rượu ngon, nguồn nước ắt phải mang nhiều dị biệt.

Tìm đến nhà ông Văn Tình, người dân tộc Bố Y, chưa kịp hóng về chuyện men lá, chén trà pha từ nồi nước sôi sùng sục ở bếp than hồng mời khách đã khiến ngạc nhiên bởi độ ngọt của nước tạo cho hậu vị trà thêm sâu, kéo dài từ vòm họng, qua vài lần chép miệng vẫn thấy độ ngọt của nước, của trà vương quyện. Bản Thăng cũng là vùng nổi danh với cây trà cổ thụ mọc hoang dã trong các vạt rừng và dãy núi đá vôi quanh vùng. 

Lợn gác bếp, món lai rai khoái khẩu trong bữa cơm đãi khách ở Bản Thăng.


Thong thả tận hưởng chén trà vụ xuân, để ý kỹ vào gian bếp, mới thấy rõ ở gia chủ sự sung túc, ấm no. Ngay trên bếp lửa hồng đang tỏa khói, là một giàn thịt lợn muối gác bếp. Người Bố Y khi mổ lợn, thường vào dịp năm mới hoặc gia đình có việc trọng đại, sẽ mời mọi người trong bản sang nhà để chung vui, chia phần, ăn một bữa cơm tình cảm. Phần thịt ngon nhất của con lợn mổ sẽ được gia chủ giữ lại, ủ muối, rồi đem gác bếp để dành, chủ yếu dùng đãi khách quý.

Bên cạnh thứ quý giá là thịt lợn muối, gian bếp người Bố Y còn được thiết kế như một nhà kho đặc biệt. Do đặc tính khí hậu, sương mù nhiều nên người Bố Y thường thiết kế gian bếp có tầng gác, và trên đó là cơ man ngô, trà cổ thụ, gạo, thóc… làm của để dành, dùng ăn dần hoặc tích trữ. 

Men lá trộn thành từng bánh, gác bếp để phụ nữ Bản Thăng dùng nấu rượu ngô.


Cũng ở căn gác trên gian bếp, hầu hết trong các gia đình người Bố Y ở Bản Thăng đều dành một góc ưu ái ủ men lá để dành nấu rượu. Công thức men lá được người phụ nữ nắm giữ. Đến mùa, họ vào rừng, hái đủ loại lá, đem về pha chế, trộn lẫn, rồi vo thành từng chiếc bánh nhỏ, đem lên gác bếp ủ và dùng dần vào việc nấu rượu ngô men lá.

Nữ gia chủ cho hay, mỗi người có cách riêng để tạo men, lá cây thì có nhiêu đấy loại, chẳng biết tên vì xưa ông bà dạy sao giờ làm đúng như vậy, duy có một cây không thể thiếu trong công thức men là rau lợn - một loại rau rừng, mọc tự nhiên, nhưng vì thường phát triển ngay chuồng lợn nên gọi rau lợn cho tiện. Từng loại lá khi làm men được gia giảm theo kinh nghiệm riêng, nên tùy từng người nấu rượu, sẽ cho ra các dòng hương vị khác biệt.

Cảnh thì đẹp, đồ ăn uống toàn kiểu cây nhà lá vườn, thực phẩm sạch, không khí trong lành, nhịp sống bình yên, trong gian bếp lại ê hề thực phẩm đặc sản… thế nên, dịp nào vào Bản Thăng, khách xuôi luôn phải xác định… khó về nếu còn tỉnh!.

Bài và ảnh: Thiên An  

bài viết liên quan
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm
bài viết cùng chuyên mục
Xem nhiều nhất

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.