Một tháng trong một trăm năm

 11:32 | Thứ sáu, 08/02/2019  1
Tháng 2.1919, tờ Nam Phong Tạp chí đăng kỳ thứ ba cũng là kỳ cuối tác phẩm Một tháng ở Nam Kỳ - thiên du ký do Thượng Chi Phạm Quỳnh chấp bút, kể từ đó đến nay đã được trăm năm.

Trăm năm trong cõi người ta, chàng thanh niên 26 tuổi xuống tàu ở Hải Phòng để khởi sự chuyến đi Nam kỳ đầu tiên của mình năm 1918 giờ đã thành người thiên cổ. Trăm năm nhìn lại một thiên du ký cũng là trăm năm nhìn lại hành trang của một con người cho đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi, một nhà báo, một học giả, một nhà chánh trị, và nếu nói theo ngôn ngữ thế kỷ XXI, ông còn là một “phượt thủ” đến từ thế kỷ trước. 

Ngày 24.8.1918, Phạm Quỳnh lần đầu tiên được hưởng cái không khí nắng ấm của Sài Gòn, sau bốn ngày lênh đênh trên biển kể từ khi đặt chân xuống con tàu Porthos ở cảng Hải Phòng, và trước đó nữa ông phải đi xe lửa xuống Hải Phòng từ Hà Nội. Thời ấy, đường từ Bắc vô Nam còn trắc trở, lên tàu hỏa rồi xuôi tàu thủy mới đến được vùng đất trung tâm của Nam kỳ, xa xôi vậy nhưng chàng thanh niên đầu thế kỷ XX vẫn quyết chí xuống tàu để khẳng khái chứng tỏ bản thân theo câu:

Làm trai cho đáng nên trai, 
Phú Xuân đã trải, Đồng Nai cũng từng

Thực hành đúng ca dao, mùa xuân năm 1918, Phạm Quỳnh trải qua mười ngày ở Huế, và đến mùa thu ông khởi sự cuộc hành trình một tháng ở Nam kỳ, để nhận mặt “vùng đất mới”, nhận mặt cái phần mở rộng xuống phía Nam của Tổ quốc, dẫu đã khiêm cung tự nhận: “Ôi! Đương buổi Quốc triều gây dựng cơ đồ, đánh nam dẹp bắc, thiếu gì những kẻ tang bồng hồ thỉ, chí khí nam nhi, nay tòng quân ở Thuận Hóa, mai viễn thú đất Đồng Nai, vào sinh ra tử chốn sa tràng, mong lập công danh cùng xã tắc: lời ca dao kia là tả cái chí của những bậc vô danh anh hùng đó, chớ đâu lại hợp cái cảnh một kẻ thư sinh nhỏ mọn như bỉ nhân đây, thừa lúc trong nước còn hiếm người mới ra lạm một phần ngôn luận với quốc dân, nghĩ mình lắm lúc đã thẹn thay, có đâu lại mê cuồng đến đem lời khen của cô nhân mà tự gán cho mình!...” (Một tháng ở Nam kỳ). 

Khi viết những câu trên, Phạm Quỳnh chưa đến tuổi “tam thập nhi lập” như người xưa nói, ấy vậy mà nếu ta nhìn ra sau lưng chàng trai trẻ Thượng Chi, đã thấy bóng dáng của một sự nghiệp kiệt hiệt: 16 tuổi anh đã làm việc tại trường Viễn Đông Bác cổ ở Hà Nội; 25 tuổi trở thành chủ nhiệm đồng thời là chủ bút tờ Nam Phong Tạp chí và tại vị ở đây đến năm 1932 thì thôi chức để tập trung vào con đường chính trị, ở tờ báo này Phạm Quỳnh phụ trách phần quốc ngữ trong khi Phạm Bá Trác phụ trách phần chữ nho (năm 1934 Nam Phong đình bản, sau khi ra được tổng cộng 210 số trong 17 năm). Đường công danh đã thế, đường gia đạo của Phạm Quỳnh cũng đề huề: có con đầu lòng năm 19 tuổi, đến chuyến đi Nam Kỳ năm 1918, ông đã kịp có hai trai hai gái. So với lớp thanh niên của một trăm năm sau, cùng lứa tuổi ấy vẫn còn loay hoay với những dự định, những chọn lựa để lập một vị trí trong xã hội thì Phạm Quỳnh đã hoàn thành một chặng đường trong sự nghiệp đa dạng của mình. 

Đọc văn Phạm Quỳnh viết ở tuổi hai mươi để thấy cái hùng tâm của một chàng trai nước Việt, thấy cái khát vọng muốn giúp nước; có lẽ chính vì khát vọng ấy mà càng về sau Phạm Quỳnh càng dấn sâu vào con đường chính trị, con đường khiến ông đi mãi không về. 

Phạm Quỳnh yêu thích cái khoái thú của sự lên đường, đi cho biết đó biết đây, đi để kết giao bè bạn. Vị thế chủ bút báo Nam Phong chính là tấm danh thiếp để đi đến đâu ông cũng được tiếp đón nồng hậu, trọng thị, nên dù ở Nam Kỳ tận một tháng cũng không thấy ông than phiền về chỗ ăn chỗ ngủ lần nào. Dễ thấy sự khác biệt với những “phượt thủ” ngày nay, thường trang bị cho mình gọn nhẹ, đi tự túc và chủ yếu di chuyển bằng xe, so với vẻ tiêu sái của Phạm Quỳnh ngày trước thì khác xa. Phạm Quỳnh chính là người nối dài truyền thống của các bậc hành giả phương Đông: một túi thơ, một bầu rượu ngao du sơn thủy, kết bạn với thiên nhiên, thắt chặt tình bằng hữu rồi để lại những áng thơ tuyệt cú. So với nhật ký hành trình Chuyến đi Bắc kỳ năm Ất Hợi của Trương Vĩnh Ký viết hồi năm 1876, thiên bút ký của Phạm Quỳnh dầy dặn hơn. Chàng trẻ tuổi không chỉ đi như một chuyến viễn du, mà còn ngẫm ngợi những cảnh những tình của đất nước, nên những đoạn miêu tả cảnh quan, thắng cảnh địa phương thì ít, mà nói về những điều ẩn dưới cảnh quan ấy thì nhiều. 

Thẻ căn cước của Phạm Quỳnh. Ảnh: TL

Dưới nhãn quan của nhà báo trẻ Phạm Quỳnh, “Nam tiến” là cuộc di dân vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc, vùng đất mới Nam bộ không chỉ trù phú về đất đai, trù mật về sản vật, nó còn ẩn chứa tiềm năng của một trung tâm văn hóa mới. Ngay tại Sài Gòn, nơi Phạm Quỳnh đặt chân đến đầu tiên trong chuyến đi Nam Kỳ, đã có một nền báo chí và sách vở cực thịnh, tuy vậy, Phạm Quỳnh không chỉ chú ý đến số lượng các đầu sách báo ở Sài Gòn mà còn đi sâu phân tích nội dung của chúng và đã đưa ra những nhận định vô cùng nghiêm khắc: “Những tiểu thuyết Tàu tự tám mươi đời triều ấy văn chương đã chẳng ra gì mà truyện thì toàn những truyện huyền hoặc quái đản, của mấy bác cuồng nho bên Tàu đời xưa ngồi không bịa đặt ra để khoái trá những bọn hạ lưu vô học. Thế mà dịch nhiều như vậy, thịnh hành như vậy, nghĩ cũng khả kinh thay!” (Một tháng ở Nam kỳ). Cái họa “truyện Tàu” của năm 1918 đến nay vẫn còn, tuy khoác lên những tên gọi mỹ miều như “ngôn tình” hay “đam mỹ”, tuy không phải “của mấy bác cuồng nho bên Tàu đời xưa” viết nhưng “dịch nhiều như vậy, thịnh hành như vậy” thì cũng kinh hãi thay. 

Mộ Phạm Quỳnh tại chùa  Vạn Phước - Huế. Ảnh: TL

Thiên du ký Một tháng ở Nam kỳ không chỉ giúp ta dõi theo bước đường du ngoạn của một chàng trai hiểu biết, nó còn cho ta những manh mối để phác họa nên bức tranh sinh hoạt ở Nam kỳ một thuở, đồng thời hóa giải một số định kiến vốn sâu đậm trong nhân dân ta ở các miền khác, tỷ như: “… sách nhiều như thế, mà bán được chạy, có nhiêu người mua […] Chẳng bù với dân Bắc kỳ, Trung kỳ, trăm người chưa được một người đọc thông chữ quốc ngữ, mười người đọc thông chữ quốc ngữ chưa được một người thích xem văn quốc ngữ”. Đoạn trích trên cho thấy, đầu thế kỷ XX, ở vùng đất mới Nam kỳ trình độ người dân đã khá cao, không phải ngẫu nhiên mà tờ báo quốc ngữ đầu tiên lại thành lập ở Nam kỳ. Nam bộ luôn sẵn tinh thần cho sự xuất hiện của cái mới - không chỉ báo chí, mà cả những quyển tiểu thuyết quốc ngữ đầu tiên cũng xuất hiện ở Nam kỳ. Tuy vậy, dù con người Nam bộ có tính thích nghi cao, có tấm lòng rộng mở để dung hòa những khác biệt, nhưng lại không đủ gốc rễ sâu xa để phát huy tột cùng những tiềm năng ấy, thành ra tiểu thuyết Việt Nam chỉ đạt đến đỉnh cao của nó khi có Tự Lực Văn Đoàn. 

Không chỉ quanh quẩn đất Sài Gòn, chuyến đi xuống miền lục tỉnh của Phạm Quỳnh cho thấy vùng đất này đã hình thành một lớp trí thức mới đầu thế kỷ liên kết với nhau thành các tòa báo, hội khuyến học để khuyến khích dân trí của vùng như Hội Khuyến học Long Xuyên và Đại Việt tập chí (tờ báo có cuộc sống khá ngắn: ra đời và đình bản trong năm 1918, đến năm 1942 tờ báo xuất hiện trở lại ở Sài Gòn, chủ bút bấy giờ là Hồ Văn Trung). Cho nên cái đặc điểm chất phác, đơn giản khi nói về người miền Tây chỉ là cái nhìn phiến diện. 

Cũng ngay từ thiên du ký này, chàng trai Phạm Quỳnh đã cảnh báo mối họa “khách trú”, muốn thoát khỏi sự phụ thuộc, thì chỉ có cách đoàn kết tự cường của đồng bào trong nước với nhau. Đọc văn Phạm Quỳnh viết ở tuổi hai mươi để thấy cái hùng tâm của một chàng trai nước Việt, thấy cái khát vọng muốn giúp nước; có lẽ chính vì khát vọng ấy mà càng về sau Phạm Quỳnh càng dấn sâu vào con đường chính trị, con đường khiến ông đi mãi không về. 
Năm 2019, ngồi đọc lại một bài báo đăng từ năm 1919, gần trăm năm trước, chợt bồi hồi khi thấy những dòng này: “Tôi càng đi du lịch trong Nam kỳ lại càng thấy cái cảm giác rõ ràng rằng người Nam người Bắc thật là con một nhà, nếu biết đồng tâm hiệp lực thì cái tiền đồ của nước Nam ta không thể nào hạn lượng cho được”. 

Người hôm nay như muốn nói với người xưa: đất nước ta đã không còn phân kỳ, dân ta đã không còn nô lệ, ngày xuân trời đất giao hòa, xin tiền nhân về đây chứng giám cho những công việc của con cháu. Lời dạy đồng tâm xin ghi, tình đoàn kết phải cố giữ, bởi thế kỷ XXI này cũng như thế kỷ XX kia, cùng chung dòng chảy của trăm ngàn năm lịch sử của người đời trước, bài học dựng nước và giữ nước, bài học đoàn kết và tự lực, chính là những bài học căn bản để dân tộc ta vượt qua được những khó khăn đang chờ phía trước. 

Huỳnh Trọng Khang

bài viết liên quan
Loading...
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.