Chuyên đề “Nguyên Ngọc vẫn đang trên đường”

Tên ông gắn liền với đổi mới 

 23:40 | Chủ nhật, 12/11/2017  0
Tên tuổi Nguyên Ngọc gắn liền với công cuộc đổi mới văn học (1986), thậm chí nói đến ông là nói đến đổi mới.

Nhưng đổi mới văn học bấy giờ không phải là sản phẩm của Nguyên Ngọc, cũng như không hẳn là của chính sách “cởi trói” của Đảng và Nhà nước. Mà, trên hết và chủ yếu, là sự vận động theo quy luật nội tại của chính văn học. Điều mà Nguyên Ngọc gọi là “nội lực”. Nếu như vậy, thì đổi mới không bắt đầu từ 1986, mà từ Nhân văn và hậu Nhân văn, và xa hơn, từ “thơ không vần” Nguyễn Đình Thi (1947) và “thơ chắp chữ” Nguyễn Xuân Sanh “thời xuân thu nhã tập” (1942)... 

Từ trên xuống...

Nhưng cũng không ai phủ nhận được vai trò “bà đỡ” của chính sách “cởi trói”, và của Nguyên Ngọc trên cương vị tổng biên tập báo Văn nghệ (1986-1989). Minh chứng cho điều này là câu chuyện Nguyên Ngọc tìm thấy Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp trong đống bản thảo bị loại bỏ, biến nhà văn này thành tiêu biểu của đổi mới. Đồng thời cũng ra đời thêm nhiều cây bút khác như Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh... Chính sách “cởi trói” cũng đã cởi trói cho nhiều người, đặc biệt giúp cho nhiều người khác biết mình bị trói để mà tự cởi, hay nói như Nguyên Ngọc “phá trói”. 

Nhà văn Nguyên Ngọc. Ảnh: Nguyễn Á

Tôi gọi giai đoạn văn học này là đổi mới từ trên xuống. Trước hết nó mang tính phong trào, có bề rộng nhưng chưa có bề sâu, thậm chí lôi cuốn không ít những kẻ có đầu óc cơ hội “kinh doanh đổi mới”. Người ta phê phán các cơ chế cũ, bao cấp kinh tế và tư tưởng, kêu gọi “tháo khoán”. Đa số mới chỉ nghĩ đến tự do khỏi mà chưa kịp nghĩ đến tự do để.

Bởi vậy, trừ một số cây bút có viết khác, hiện đại chủ nghĩa, như Thiệp, Hoài, Bảo Ninh, còn đa số vẫn viết cũ. Người đọc hả hê, khoái trá với những Cái đêm hôm ấy... đêm gì?, Người đàn bà quỳ..., tức công năng chính trị-xã hội của văn chương hơn là bản thân văn chương, tức tư duy nghệ thuật, lối viết. Bởi thế khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, đổi mới xã hội ngừng lại, thì đổi mới văn học cũng sụp xuống, nhất là sau khi Nguyên Ngọc bị mất chức tổng biên tập.

... Từ dưới lên

Giai đoạn từ 1991 trở đi thường được các nhà nghiên cứu gọi là hậu đổi mới. Nhưng theo tôi, văn học Việt Nam vẫn tiếp tục đổi mới. Có điều đổi mới lần này không ở bề nổi mà ở bề sâu, không có tính chất phong trào, mà có tính chất cá nhân. Rất may lúc này mạng xã hội bắt đầu phát triển rộng rãi ở Việt Nam. Thế giới đi vào mỗi người không phải bằng cửa sổ như trước đây, mà bằng cửa chính. Do đó, nhà văn tiếp xúc được với văn hóa hậu hiện đại, vừa có tính đương đại vừa phù hợp với một đất nước còn nhiều yếu tố tiền hiện đại như Việt Nam. Tôi gọi đổi mới này là đổi mới từ dưới lên, mang tính cá nhân và tính tự giác. 

Trong thời gian này, đóng góp của Nguyên Ngọc cho đổi mới văn học là từ xa và gián tiếp. Ông dịch Độ không của lối viết của R. Barthes để giới thiệu một cách tiếp cận xã hội học khác với cách tiếp cận xã hội học dung tục còn phổ biến ở Việt Nam; dịch Nghệ thuật tiểu thuyết, Bản di chúc bị phản bội của M. Kundera để nói về sự vận động của tư tưởng và của nghệ thuật tiểu thuyết châu Âu từ Phục hưng đến nay, nhất là tiểu thuyết Kundera lại là tiểu thuyết từ Đông sang Tây, từ hiện đại sang hậu hiện đại.

Đồng thời, Nguyên Ngọc còn viết về những vấn đề xã hội nóng bỏng, đặc biệt là đất và rừng Tây Nguyên. Có lẽ Nguyên Ngọc thấy sự hụt hơi của đổi mới vừa qua do thiếu “nội lực”, mà cái tạo nội lực chính là “vốn văn hóa”, nên ông muốn bổ túc văn hóa cho các nhà văn.

Quyết định là nội lực cá nhân

Từ những nếm trải bản thân, tôi tự rút ra cho mình một số “bài học” sau: Đổi mới, trước hết, là một vận động nội tại của văn học, hoàn cảnh bên ngoài chỉ có thể làm chậm hoặc đẩy nhanh tiến trình của nó mà thôi. Tuy nhiên, để chiến thắng được sự cản trở và “lợi dụng” được sức nâng của hoàn cảnh, thì các nhà văn cần phải có điều mà Nguyên Ngọc đã gọi tên là “nội lực”.  

PGS-TS. Đỗ Lai Thúy
                      

bài viết liên quan
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm
*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.