Quyết sách cho ĐBSCL, các nhà khoa học đề xuất gì?

 13:04 | Thứ ba, 26/09/2017  0
Một “hội nghị Diên Hồng” bàn quyết sách cho ĐBSCL đang được tổ chức tại Cần Thơ hôm nay, 26.9 và 27.9, đang được kì vọng sẽ đưa ra được những lựa chọn, quyết sách đúng đắn.

Sáng nay, ngày 26.9, Hội nghị về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long, thích ứng với biến đổi khí hậu vừa được khai mạc tại TP Cần Thơ.

Hội nghị  được tổ chức trong hai ngày 26.9 và 27.9, có sự tham dự của Thủ tướng Chính phủ.

Hội nghị sáng nay. Ảnh: Zing.vn

Tại phiên khai mạc sáng nay, Phó thủ tướng Vương Đình Huệ cũng đề nghị các đại biểu tập trung thảo luận, làm rõ bốn vấn đề cốt yếu: 

Thứ nhất, phân tích, nhận diện được đầy đủ hơn các thách thức do biến đổi khí hậu, quá trình phát triển nội tại của vùng ĐBSCL, các hoạt động sử dụng nguồn nước ở thượng nguồn. 

Thứ hai, dự báo được các xu thế tác động chính, nhận diện được các cơ hội trong ngắn hạn và dài hạn làm cơ sở cho định hình mô hình phát triển vùng đồng bằng sông Cửu Long và các định hướng chuyển đổi lớn. 

Thứ ba, thảo luận và đề xuất các cơ chế chính sách đổi mới có tính đột phá nhằm tận dụng cơ hội chuyển hoá các thách thức thúc đẩy quá trình chuyển đổi, phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long. 

Tập trung vào các cơ chế về đất đai, thuế, kiến tạo thị trường, xúc tiến đầu tư, khoa học công nghệ, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực. 

Thứ tư, xác định các dự án, các nhóm nhiệm vụ, chương trình, đề án, dự án ưu tiên với nguồn lực, lộ trình thực hiện phù hợp trong tổng thể phát triển toàn vùng với sự tham gia của các bên bao gồm: Chính phủ, địa phương, các tổ chức trong và ngoài nước, đặc biệt là người dân và doanh nghiệp trong vùng ĐBSCL các khu vực lân cận, nhất là TP.HCM. 

Ngay sau phiên khai mạc, Hội nghị sẽ bắt đầu các phiên thảo luận chuyên đề về định hình chiến lược phát triển bền vững với bốn mục tiêu: 

Thứ nhất, nhận diện thách thức, cơ hội và giải pháp chuyển đổi mô hình phát triển cho vùng ĐBSCL.

Thứ hai, quy hoạch tích hợp, phát triển hạ tầng và cơ chế điều phối vùng. 

Thứ ba, phát triển nông nghiệp bền vững, hạ tầng thủy lợi, chủ động phòng chống thiên tai, sạt lở. 

Thứ tư, nhu cầu, cách thức huy động và điều phối nguồn lực. 

Theo Bộ trưởng Bộ Tài nguyên môi trường Trần Hồng Hà, từ trước đến nay chưa có hội nghị nào bàn một cách toàn diện và tổng thể tất cả vấn đề của ĐBSCL. Đây là hội nghị định hình chuyển đổi mô hình phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu, nhằm hiệu triệu các tư tưởng lớn giúp Chính phủ Việt Nam và các địa phương ĐBSCL xác định các nhóm giải pháp chiến lược về chuyển đổi có quy mô lớn nhằm phát triển bền vững ĐBSCL với tầm nhìn đến 2100.

“Nếu ô nhiễm môi trường xảy ra có thể cả một vùng bị ảnh hưởng. Vì vậy, vấn đề môi trường phải được chú trọng hơn.”, ông Trần Hồng Hà nói thêm.

ĐBSCL đã, đang và sẽ đối mặt với nhiều tác động nghiêm trọng do biến đổi khí hậu, nước biển dâng, khí hậu cực đoan, khai thác và sử dụng nước ở thượng nguồn sông Mekong, khai thác cát tại ĐBSCL, và các hoạt động nhân sinh khác.

Đồng thời, mô hình phát triển ở ĐBSCL hiện thiếu tính tổng thể, gắn kết nội tại trong vùng, quản lý nhà nước còn bất cập, thừa chồng chéo, thiếu phối hợp.

Các nhà khoa học đề xuất gì?

Theo ThS Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia độc lập về môi trường ĐBSCL, để ứng phó các thách thức này cần hiểu những đặc trưng của vùng. ĐBSCL do quá trình bồi đắp phù sa, cát, sỏi của sông Mekong tạo nên, là một phần của lưu vực Mekông tiếp giáp với biển nên chịu ảnh hưởng từ thượng nguồn, từ biển và khí hậu toàn cầu. Giải pháp cho ĐBSCL phải được đặt trong tổng thể, có thượng nguồn, có biển.

Vùng đất này được thiên nhiên ban tặng hệ điều hòa nước tự nhiên gồm 3 túi nước, hồ Tonle Sap ở Campuchia, vùng Đồng Tháp Mười và vùng Tứ giác Long Xuyên hằng năm nhận nước lũ vào, tạm trữ làm giảm ngập cho hạ lưu và cân bằng mặn - ngọt vùng ven biển vào mùa khô.

Mặt khác, ĐBSCL là hệ thống mở, ăn thông ra biển bằng hàng chục, hàng trăm cửa sông, rạch lớn nhỏ, chịu ảnh hưởng của thủy triều Biển Đông và biển Tây tạo nên chế độ nước độc đáo, có nước ròng, nước lớn mỗi ngày, nước rong nước kém hằng tháng theo tháng âm lịch. Chế độ thủy văn này tạo nên lối sống, văn hóa, sinh thái, sinh kế của người dân. Sinh thái biển phụ thuộc vào sự trao đổi với đất liền qua hệ thống sông ngòi.

Phù sa, cát sỏi rất quan trọng đối với nông nghiệp, bồi đắp và duy trì bờ sông, bờ biển ĐBSCL. Khi thiếu phù sa, cát sỏi, đất đai sẽ bạc màu và sạt lở sẽ gia tăng dữ dội. Vùng nước ven biển là một hợp phần quan trọng của nền kinh tế và hệ sinh thái tổng thể của ĐBSCL. Lượng phù sa mang ra ven biển giúp bồi đắp, duy trì bờ biển. Phù sa mang theo dinh dưỡng, quyết định năng suất thủy sản. Sự trao đổi, liên thông giữa biển với bờ và nội địa thông qua hệ thống sông ngòi là rất quan trọng. Khi cắt đứt sự trao đổi, sinh thái biển sẽ suy thoái.

Đập Cảnh Hồng Trung Quốc là một trong các đập thủy điện hiện nay đã được xây dựng và dự kiến sẽ được xây dựng là một trong những hiểm họa với ĐBSCL hiện nay Ảnh: TL 

Đồng thời, trong giải pháp ứng phó, cần tôn trọng quy luật tự nhiên và tránh can thiệp thô bạo vào tự nhiên. Cụ thể, không nên thực hiện những công trình lớn, can thiệp dòng chảy. Làm mất ảnh hưởng thủy triều thì sẽ không còn đặc điểm ĐBSCL nữa.

Đối với nông nghiệp, vì canh tác thâm canh ba vụ liên tục trong đê bao khép kín làm đất đai ngày càng nghèo kiệt, ảnh hưởng nghiêm trọng an ninh lương thực về sau. Đê bao khép kín làm gia tăng ngập lụt nơi khác vào mùa lũ, gia tăng hạn mặn ven biển vào mùa khô. Canh tác ba vụ lúa phải sử dụng nhiều phân bón, thuốc trừ sâu, nếu tính đúng, tính đủ chi phí không làm cho người dân thoát nghèo mà còn gây ô nhiễm nguồn nước mặt.

Chính vì vậy cần đổi tư duy từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp. Nghĩa là chuyển hướng dần sang canh tác bền vững, đầu tư vào chuỗi giá trị, chú trọng chất lượng hơn số lượng. Để nông nghiệp phát triển, nâng cao giá trị cần có công nghiệp chế biến hỗ trợ, đồng thời tránh những ngành công nghiệp ô nhiễm nước và không khí.

Hiện tại ĐBSCL sụt lún nhanh gấp nhiều lần nước biển dâng. Theo Ông Nguyễn Hữu Thiện, Con đường duy nhất để giảm sụt lún là giảm khai thác nước ngầm. Vùng ven biển, áp dụng công nghệ lọc nước biển để cấp nước sinh hoạt cho người dân. Chuyển đổi canh tác sang hệ thống canh tác mặn, lợ bền vững ít phụ thuộc nước ngọt. Chuyển hướng sang công nghiệp sạch, quản lý môi trường để giảm ô nhiễm.

Thiếu phù sa nên sụt lún, sạt lở sẽ diễn ra trầm trọng hơn, khó cưỡng lại cho đến khi dòng sông tìm được điểm cân bằng mới. Đến nay, đã có gần 900 km bờ sông, biển bị sạt lở, chiếm hơn một nửa chiều dài bờ sông biển ĐBSCL hiện nay. Để giải quyết vấn đề này cần quản lý khai thác cát tràn lan. Lập bản đồ rủi ro sạt lở bờ sông để chủ động di dời người dân, tránh thiệt hại. Tránh những công trình lớn, can thiệp sai quy luật, đắt đỏ và kém hiệu quả.

Trên hết, ĐBSCL cần được tiếp cận một cách tổng thể và nhất quán, vì hành động của một địa phương có thể ảnh hưởng địa phương khác, hành động của một ngành đơn lẻ có thể ảnh hưởng đến ngành khác và ảnh hưởng đến tương lai. Do đó cần đẩy mạnh liên kết vùng, tránh cách làm cục bộ theo địa phương.

Còn theo GS.TS Võ Tòng Xuân, không tạo thêm “nhân tai” qua lạm dụng phân hóa học, thuốc trừ sâu do đắp đê bao ngăn lũ sản xuất lúa vụ 3. Bỏ tư duy “ham” trồng lúa. Năm nay bất chấp mọi dự báo xấu về mùa nước nổi, ngành nông nghiệp vẫn chỉ đạo tăng diện tích lúa vụ 3. Theo GS Xuân, việc chuyển sang mô hình tế phải dựa vào thị trườn. Người hiểu thị trường nhất chỉ có doanh nghiệp. Để doanh nghiệp tham gia làm nông nghiệp thì Nhà nước phải có cơ chế chính sách về đất đai hợp lý về dồn điền đổi thửa, nới hạn điền. Phải “kiến tạo” cho được những nông dân – doanh nghiệp giỏi, có tâm với nghề nông tham gia quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế của ĐBSCL.

GS.TS Bùi Chí Bửu thì nhận định, việc chuyển đổi qua mô hình nào, nuôi con gì cần tính toán nghiên cứu cẩn thận, tránh những sai lầm đáng tiếc. Đối với nuôi tôm, ngành nông nghiệp đặt mục tiêu xuất khẩu 10 tỉ USD vào năm 2025. Hiện thị trường tôm thế giới đạt giá trị khoảng 13 tỉ USD, riêng VN chiếm gần 3 tỉ USD và đứng thứ 5 thế giới, tốc độ tăng trưởng 6%/năm. Để đạt mục tiêu 10 tỉ USD, trung bình tăng trưởng của ngành phải đạt 15%/năm. Nếu Việt Nam đạt được mục tiêu trên, vào thời gian đó ước tính ngành tôm toàn cầu sẽ đạt 30 tỉ USD và ta chiếm 1/3. Đây là tham vọng rất lớn và cần cẩn trọng. Nuôi tôm là ngành cần vốn đầu tư lớn, rủi ro cao và tác động đến môi trường không hề nhỏ.

Việc trồng đậu nành, bắp (biến đổi gien) để giảm nhập nguyên liệu thức ăn chăn nuôi cũng đều không cho hiệu quả như mong muốn ở ĐBSCL. Những dẫn chứng trên cho thấy điểm then chốt vẫn là chuyển đổi trên cơ sở có nghiên cứu khoa học bài bản để bảo đảm phù hợp với yếu tố tự nhiên, thị trường, con người và xã hội.

Một vấn đề khác, theo TS Tô Văn Trường, cần cấm công nghiệp gây ô nhiễm tại ĐBSCL. Phải cấm gây ô nhiễm công nghiệp cho toàn vùng ĐBSCL, hạn chế tối đa việc xây dựng các nhà máy nhiệt điện than, dệt, nhuộm, giấy… Một yếu tố quan trọng là nâng cao dân trí, dạy nghề phi nông nghiệp, phục vụ chuyển dịch lao động ra ngoài vùng, vừa giải quyết việc làm. Chính phủ cần nhìn tổng thể toàn cục để xử lý vấn đề, đầu tư đúng chỗ, đúng lúc, hiệu quả. Nên đưa ra các bước ưu tiên, giải quyết từng bước trên cơ sở nhìn nhận vấn đề có tính hệ thống, dựa vào cốt lõi, đặc thù của ĐBSCL cả điều kiện tự nhiên lẫn con người nơi đây.

PV Tổng hợp 

Tuoitre, Thanhnien, Zing
bài viết liên quan
Loading...
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm
*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.