Thủ tướng Phan Văn Khải - nhà chính trị và kỹ trị

 13:01 | Thứ bảy, 17/03/2018  0
LTS: Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải đã từ trần vào hồi 1 giờ 30 ngày 17.3.2018 tại quê nhà Củ Chi, TP.HCM. Là một trong những nhà lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước ở chặng đường đầu của công cuộc đổi mới, phát triển đất nước, Thủ tướng Phan Văn Khải là người tích cực và quyết tâm xây dựng thể chế theo tinh thần đổi mới, phát huy khả năng của mọi thành phần kinh tế.

Ban biên tập trân trọng giới thiệu bài viết riêng cho Người Đô Thị của bà Phạm Chi Lan - là một trong những chuyên gia kinh tế gắn bó với Ban nghiên cứu của Thủ tướng thời ông Phan Văn Khải.

Với 15 năm tham gia điều hành Chính phủ, ông Phan Văn Khải được tín nhiệm bầu giữ chức Thủ tướng qua 2 nhiệm kỳ, từ năm 1997- 2007.Ảnh: Reuters.

Ấn tượng đầu tiên của tôi về ông Phan Văn Khải như một nhà chính trị và kỹ trị là khi ông đến dự và phát biểu tại Đại hội Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), tổ chức cuối tháng 3 năm 1993.

Lúc đó, dù đã 6 năm sau Đổi mới, nhưng vai trò của doanh nghiệp, đặc biệt của khu vực tư nhân vẫn chưa được coi trọng, nên việc một ủy viên Bộ chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ đến Đại hội của VCCI - một tổ chức của cộng đồng doanh nghiệp với quy mô và vị thế còn khá khiêm nhường - đã trở thành một sự kiện đặc biệt.

Trong bài phát biểu trước đại hội, vượt khỏi những lời khuôn sáo thường thấy, ông đã nói khá sắc sảo, rõ ràng về các vấn đề phát triển doanh nghiệp và quan hệ giữa Chính phủ với doanh nghiệp trong cơ chế thị trường, về sự cần thiết phải thúc đẩy vai trò của tổ chức đại diện và hỗ trợ cho cộng đồng doanh nghiệp VCCI…

Ấn tượng đó càng được củng cố thêm khi trong những năm kế tiếp, với cương vị Tổng thư ký VCCI, tôi không ít lần được đưa các đoàn doanh nhân các nước phương Tây đến gặp ông. Ông thường không tiếp họ theo kiểu xã giao, mà lắng nghe, hỏi han kỹ về những ý tưởng và dự định đầu tư, kinh doanh của họ ở Việt Nam, trước khi giải thích về các vấn đề, chính sách hiện hành và đường hướng phát triển của nước nhà. Các vị khách đều rất hài lòng về sự am hiểu công việc cũng như thái độ thẳng thắn, chân thành, cởi mở của ông.

Thủ tướng Phan Văn Khải hội kiến Tổng thống George W. Bush tại Nhà Trắng trong chuyến thăm lịch sử đến Mỹ năm 2005. Ảnh: Getty.

Khi trở thành Thủ tướng Chính phủ, ông vừa kế thừa tư duy và những thành quả quan trọng, đặc biệt về cải cách, mà người tiền nhiệm để lại, vừa đổi mới cách điều hành nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu lực của Chính phủ theo đòi hỏi cao hơn của một nền kinh tế thị trường đang hình thành, và tập trung thúc đẩy cuộc cải cách về thể chế, tạo nền tảng cho sự phát triển kinh tế-xã hội bền vững hơn của đất nước.

Trong phạm vi quyền hạn của mình, ông chú trọng chọn lựa, sắp xếp, phân công công việc cho các cơ quan, các vị lãnh đạo và cán bộ chủ chốt theo chức năng, nhiệm vụ, yêu cầu công việc và năng lực chuyên môn của họ.

Tổ Tư vấn được nâng cấp thành Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, có bộ máy làm việc chuyên trách tinh gọn bên cạnh các chuyên gia tư vấn kiêm nhiệm, hầu hết là những người vừa có đầu óc cải cách, vừa am tường các vấn đề chuyên môn thuộc lĩnh vực của mình. Các quyết định của Thủ tướng và Chính phủ ban hành phần lớn được xem xét, bàn bạc cẩn trọng không chỉ trong các cơ quan nhà nước, mà cả trong giới chuyên gia và tham vấn các đối tượng liên quan trong xã hội.

Thủ tướng Phan Văn Khải và Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ.Ảnh: TL

Trong những dấu ấn Thủ tướng Phan Văn Khải để lại, ta ít thấy những công trình hoành tráng. Song những nền tảng về thể chế thì rất rõ.

Ngay từ đầu nhiệm kỳ thứ nhất, được giao chủ trì xây dựng văn kiện trình Hội nghị Trung ương 4 khóa VIII (tháng 12 năm 1997), ông đã đưa ra một số quan điểm và chủ trương tiếp tục đổi mới kinh tế, đặc biệt là đối với sự phát triển các doanh nghiệp và đội ngũ doanh nhân.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa VIII lần đầu tiên nêu chỗ yếu cơ bản của nền kinh tế là chất lượng phát triển thấp, hiệu quả kém, sức cạnh tranh yếu và muốn khắc phục chỗ yếu đó, cần xây dựng đội ngũ doanh nghiệp mạnh với những nhà kinh doanh và các tập thể lao động năng động, kinh doanh có hiệu quả.

Nghị quyết khẳng định vị trí và vai trò quan trọng của kinh tế tư nhân bao gồm nhiều loại hình kinh doanh, và việc phải tạo môi trường và điều kiện cho kinh tế tư nhân phát triển mạnh, song song với tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả khu vực doanh nghiệp nhà nước.

Trên cơ sở Nghị quyết này, ông chỉ đạo việc soạn thảo Luật Doanh nghiệp mới, thay thế cho Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân ban hành từ năm 1990-1991 với quá nhiều trói buộc theo cơ chế xin-cho. Và Luật Doanh nghiệp 1999 ra đời với những đột phá thực sự, giải phóng sức dân và trả lại quyền tự do kinh doanh cho doanh nghiệp, tạo nên bước phát triển vượt bậc của khu vực tư nhân trong nước từ năm 2000 trở đi.

Thủ tướng Phan Văn Khải trao tặng VCCI bức tranh Bác Hồ với giới công thương Hà Nội nhân dịp công bố "Ngày Doanh nhân Việt Nam" năm 2004. Ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI đại diện tiếp nhận. Ảnh: Vneconomy

Tiếp đó, hàng loạt các luật và văn bản pháp quy quan trọng về kinh tế cũng được sửa đổi hoặc ban hành mới trong những năm 2001-2005, vừa theo tinh thần đổi mới, vừa phù hợp với các nguyên tắc của WTO, như các luật về đất đai, lao động, thương mại, thuế, ngân hàng và các tổ chức tín dụng, khoáng sản, môi trường, chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ…, kể cả Luật Doanh nghiệp (thống nhất) và Luật Đầu tư (chung) 2005.

Chưa bao giờ Chính phủ và Quốc hội cùng nhau tăng tốc, phối hợp làm được nhiều luật tốt như vậy. Những thành quả của cải cách thể chế kinh tế trong thời kỳ này rất rõ ràng.

Với tấm lòng nhân hậu, với phong thái điềm đạm, cầu thị và biết tôn trọng người khác, không định kiến với những lời “trái tai”, thủ tướng Phan Văn Khải luôn chan hòa được với các cấp thấp hơn và doanh nghiệp, người dân. 

Phạm Chi Lan

Trước hết, nó giúp Việt Nam vượt qua sự suy giảm tăng trưởng do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính trong khu vực năm 1997-1998 (khiến cho hàng loạt các dự án FDI rút khỏi nước ta và xuất khẩu sụt giảm mạnh), lấy lại tốc độ tăng trưởng cao từ năm 2000 trở ra, và khiến cho giai đoạn 10 năm 1997-2006 trở thành giai đoạn tăng trưởng trung bình cao và ổn định nhất trong 3 thập kỷ cải cách ở nước ta.

Hơn nữa, sự tăng trưởng đó đã đi cùng với ổn định vĩ mô, với kiềm chế lạm phát, bội chi ngân sách ở mức thấp và giữ nợ công không vượt ngưỡng 50% của GDP.

Thứ hai, nó giúp Việt Nam tạo lập và phát huy được vai trò động lực của khu vực tư nhân trong nước trong phát triển kinh tế-xã hội. Khi hai động lực FDI và xuất khẩu tuột dốc đột ngột, thật không thể hình dung nền kinh tế nước ta, công ăn việc làm và thu nhập của người dân ta sẽ ra sao nếu không có khu vực tư nhân trong nước bừng nở, mỗi năm tạo thêm hàng triệu việc làm và biết bao sản phẩm mới cho xã hội, góp phần tiếp tục công cuộc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xóa đói giảm nghèo ở nước nhà.

Cho đến nay, dù còn bị phân biệt đối xử và thiếu thốn các nguồn lực cho đầu tư phát triển, thì khu vực tư nhân trong nước vẫn đang cung cấp phần lớn việc làm và thu nhập cho những người lao động Việt Nam.Thứ ba, nó giúp nước ta tiến những bước mới quan trọng trong hội nhập quốc tế. Hoàn tất đàm phán và thực hiện Hiệp định thương mại song phương BTA với Hoa Kỳ, hoàn tất đàm phán gia nhập WTO, cùng các nước ASEAN đàm phán và ký kết các FTA với các đối tác quan trọng…, tất cả sẽ không thể có được nếu không có hệ thống pháp luật kinh tế mới mà chúng ta đưa ra trong những năm này theo các nguyên tắc cơ bản của kinh tế thị trường và luật chơi tự do hóa thương mại. Rồi hội nhập quốc tế lại giúp chúng ta tiếp tục đổi mới tư duy, cải cách và phát triển thành công hơn.

Thủ tướng Phan Văn Khải chào đón Chủ tịch tập đoàn Microsoft Bill Gates ngày 22.4.2006 trong chuyến thăm ngắn của vị tỷ phú số 1 thế giới tới Việt Nam. Ảnh: AFP/Getty

Quá trình cải cách thể chế trong những năm tại nhiệm thể hiện rõ con người chính trị và kỹ trị của Thủ tướng Phan Văn Khải.

Là một nhà chính trị, ông đã biết phối hợp, thuyết phục các nhà lãnh đạo chính trị khác đồng thuận, ủng hộ và chấp thuận những chủ trương cải cách cần thiết, chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế và hành chính thuộc trách nhiệm của ông. Với tính cách khiêm nhường, ông không tỏ ra là một người quyết liệt nhưng biết tiến, biết thoái và rất kiên tâm, bền bỉ với những ý tưởng cải cách của mình.

Là một nhà kỹ trị, ông luôn coi trọng việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn, học hỏi kinh nghiệm các nước khác và những bài học thực tiễn ở nước ta, lắng nghe các chuyên gia trong nước và quốc tế, phân tích nhiều chiều cạnh về lợi ích và chi phí của các chính sách và công cụ thực hiện trước khi ra các quyết định.

Tư duy phát triển và thứ tự ưu tiên của ông rất rõ: lợi ích của dân tộc-đất nước là trên hết, lợi ích của đông đảo người dân phải xem trọng hơn lợi ích của số ít, lợi ích tổng thể của nền kinh tế phải đặt trên lợi ích ngành, địa phương, phát triển kinh tế-xã hội-môi trường phải hài hòa và gắn kết, phục vụ cho phát triển con người…

Ông khá tinh tường trong việc nhận diện những lợi ích này từ vô vàn những dự án, tờ trình do các nơi gửi đến, và luôn sẵn sàng chấp nhận ý kiến của các “gián quan” ở Ban Nghiên cứu phù hợp với những nguyên tắc ưu tiên của ông.

Với tấm lòng nhân hậu, với phong thái điềm đạm, cầu thị và biết tôn trọng người khác, không định kiến với những lời “trái tai”, ông luôn chan hòa được với các cấp thấp hơn và doanh nghiệp, người dân. Ông thường tạo không khí cởi mở, thân tình trong các cuộc gặp gỡ và được người dân mách bảo cho rất nhiều điều, khiến lắm khi các chuyên gia tư vấn cũng phải ngạc nhiên vì ông biết nhiều chuyện cụ thể của dân đến thế.

Ấn tượng về Thủ tướng – nhà chính trị và kỹ trị Phan Văn Khải sẽ không bao giờ phai mờ trong tôi.

Phạm Chi Lan

Theo tin từ Ban Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ Trung ương, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải đã từ trần vào hồi 1 giờ 30 phút ngày 17.3.2018 tại quê nhà Củ Chi, TP.HCM.

Ông Phan Văn Khải sinh ngày 25.12.1933 tại huyện Củ Chi. Ông tham gia phong trào cách mạng từ rất sớm và vào Đảng năm 26 tuổi.

Từ năm 1947 đến năm 1954: Tham gia phong trào kháng chiến chống Pháp tại miền Nam.

Từ năm 1954 đến năm 1960: Tập kết ra miền Bắc, làm công tác nông thôn.

Từ năm 1960 đến năm 1965: Học tập tại trường Đại học Kinh tế quốc dân (Liên Xô trước đây)

Từ năm 1965 đến năm 1972: Công tác tại Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước.

Từ năm 1973 đến năm 1975: Công tác tại Uỷ ban Thống nhất của Chính Phủ.

Từ năm 1976 đến năm 1978: Uỷ viên Ban Chấp hành Đảng bộ, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch TP.HCM.

Từ năm 1979 đến tháng 6-1985: Uỷ viên Thường vụ Ban Chấp hành Đảng bộ, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, kiêm chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch TP.HCM.

Từ tháng 7-1985 đến tháng 8-1989: Phó Bí thư Thành uỷ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân TP.HCM.

Từ tháng 3-1989 đến tháng 8-1991: Chủ nhiệm Uỷ ban kế hoạch Nhà nước.

Trong thời gian này ông được bầu làm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng tại kỳ họp Quốc hội lần thứ 9, Quốc hội khoá VIII. Tháng 3.1982 ông được bầu làm Uỷ viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương.

Năm 1984: Được bầu làm Uỷ viên chính thức Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam. Được bầu làm Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam và được Ban chấp hành trung ương bầu làm Uỷ viên Bộ Chính trị tại Đại hội VII và VIII.

Tháng 9-1992: Được bầu làm Phó Thủ tướng Chính phủ.

Tháng 9-1997: Được bầu làm Thủ tướng Chính phủ tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá X.

Ngày 25.7.2002: Được tái bầu cử làm Thủ tướng Chính phủ tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá XI.

Với 15 năm tham gia điều hành Chính phủ, nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải được tín nhiệm bầu giữ chức Thủ tướng qua 2 nhiệm kỳ, từ năm 1997- 2007.

Tháng 6.2006 ông xin từ nhiệm trước khi kết thúc nhiệm kỳ của mình 1 năm. Người kế nhiệm ông là nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

TTXVN

bài viết liên quan
Loading...
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm
bài viết cùng chuyên mục
Xem nhiều nhất
*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.