TS. Nguyễn Thị Hồng Minh: Thực phẩm an toàn cần minh bạch

 11:42 | Thứ ba, 31/10/2017  0
Giải mã câu chuyện an toàn thực phẩm ở tầm nhìn xa, độc lập, TS. Nguyễn Thị Hồng Minh (nguyên Thứ trưởng Bộ thủy sản) đã đóng góp nhiều công lao trong việc xây dựng dịch vụ truy xuất nguồn gốc điện tử ở Việt Nam. Trong thời điểm mà vấn đề an toàn thực phẩm đang hết sức cấp thiết, bà lại xuất hiện với vai trò kiến tạo một sân chơi mới, táo bạo hơn: Hiệp hội Thực phẩm minh bạch.

Trò chuyện với Người Đô Thị, TS. Nguyễn Thị Hồng Minh nói: “Tôi muốn các nhà sản xuất đồng lòng với nhau xây dựng Hiệp hội Thực phẩm minh bạch. Những người đàng hoàng, những doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội, làm ăn chân chính cần liên kết với nhau để phát triển thị trường, giúp người tiêu dùng có kênh mua sắm thực phẩm an toàn cho sức khỏe”.

TS. Nguyễn Thị Hồng Minh

Vì sao bà chọn truy xuất nguồn gốc khi tiếp cận vấn đề an toàn thực phẩm?

Nói về truy xuất nguồn gốc (traceverified), Thái Lan đã làm được mười năm nay. Ấn Độ cũng rất thành công trong truy xuất nguồn gốc cho trái cây, chính vì vậy mà họ xuất khẩu rất tốt. Các nước EU hay Mỹ đều quy định xuất khẩu phải có truy xuất nguồn gốc. Gần đây nhất, EU vừa ra nghị quyết phải truy xuất nguồn gốc bằng điện tử, dùng mã (code) để người tiêu dùng có thể nhận biết, lại tránh gian lận. Ở Việt Nam có hai thông tư của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, quy định truy xuất nguồn gốc với các sản phẩm nông - thủy sản, tuy nhiên hai thông tư này chủ yếu áp dụng cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Rất tiếc với nội địa chỉ mới khuyến khích, chưa bắt buộc. Đan Mạch là nước đã đề xuất hỗ trợ cho ngành thủy sản từ 2007, cử chuyên gia tư vấn về truy xuất nguồn gốc sang khảo sát ở Việt Nam hai tháng trời. Rất tiếc, một thời gian sau hỏi lại thì Đan Mạch không tài trợ tiền nữa vì đối tác Việt Nam - một cơ quan quản lý an toàn thực phẩm - không sẵn sàng!

Đến năm 2011, lúc này Đan Mạch đã chuyển sang hỗ trợ thương mại (đã cắt viện trợ ODA) thông qua doanh nghiệp, Tổ chức Hỗ trợ cạnh tranh toàn cầu (GCF) giúp doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh. Chúng tôi đã để xuất dự án traceverified và Đan Mạch lập tức ủng hộ, cho chuyên gia sang tư vấn. Do đặc thù chương trình lúc bấy giờ, chúng tôi chỉ làm cho các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản, nước ép trái cây, rau quả... GCF tài trợ 60% kinh phí thực hiện, còn lại là vốn đối ứng. Đến năm 2014 chúng tôi bắt đầu quay lại thị trường nội địa, lúc đấy vấn đề an toàn thực phẩm đã bắt đầu nóng và tôi nghĩ truy xuất nguồn gốc sao không phục vụ cho người Việt Nam? Chả lẽ một doanh nghiệp nội địa chỉ làm truy xuất cho nước ngoài mà không làm cho nội địa. Tháng 2.2016, Công ty cổ phần Giải pháp và dịch vụ truy xuất nguồn gốc được thành lập.

Đó là nền tảng tiến tới thành lập Hiệp hội Minh bạch thực phẩm?

Có thể nói từ năm 2015 chúng tôi đã có ý tưởng cùng một số doanh nghiệp muốn làm một cái gì đó cho thực phẩm, bởi đã an toàn là phải minh bạch.

Có vẻ mọi việc được đón nhận?

Từ trước đến nay kinh nghiệm làm với các doanh nghiệp cho thấy cái gì miễn phí thì người ta làm còn đóng phí, dù rất ít, thì họ rất ngại. Thói quen, văn hóa doanh nghiệp nói chung còn ngại minh bạch, ngại chia sẻ thông tin. Đó có thể coi là một trong những lực cản lớn đối với truy xuất nguồn gốc.

Trước đây, khi mới nghỉ làm công việc nhà nước, tôi có tiến hành khảo sát. Các nhà cung cấp sản phẩm cho các siêu thị rất muốn kết nối vào dữ liệu tồn kho, hàng ngày có thể kiểm soát được lượng hàng bán ra, tính được doanh số cũng như hàng tồn để có sự chuẩn bị sản xuất. Nhưng các nhà sản xuất Việt Nam lại không thích điều đó. Ai cũng muốn giữ kín thông tin. Thực ra những dữ liệu này khi liên kết với nhau sẽ có lợi chung cho cộng đồng.

Người tiêu dùng có quyền truy xuất nguồn gốc để kiểm tra độ an toàn của thực phẩm trước khi mua về. Ảnh: CTV

Theo bà, thói quen không muốn bạch hóa thông tin là do đâu?

Có thể xuất phát từ văn hóa phương Đông không thích thể hiện cá nhân, ít thích nói về mình và khi nói thường dựa vào bên ngoài, xem đám đông nói gì. Thứ nữa, xã hội mình có quá nhiều thứ không có thật, cho nên chẳng dại gì người ta thật. Trong khi đó những công ty không thật, làm không an toàn lại ung dung hưởng lợi.

Vậy theo bà cần tháo gỡ vướng mắc này như thế nào?

Một là phải tăng áp lực lên người tiêu dùng. Hai là phải có sự bắt buộc của Nhà nước yêu cầu minh bạch thông tin cho người tiêu dùng toàn bộ quá trình sản xuất của doanh nghiệp. Như EU vừa rồi có quy định dù một con cá cũng phải gắn mã truy xuất. Mỹ từ lâu công bố các doanh nghiệp thủy hải sản phải áp dụng HACCP (Phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn - Hazard Analysis and Critical Control Points). Các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam muốn vào những chuỗi siêu thị cao cấp của Mỹ và châu Âu phải qua kiểm tra rất ngặt. Thậm chí những chuỗi siêu thị đó không mua trực tiếp của Việt Nam mà mua qua trung gian thứ ba, có vấn đề gì thì đơn vị trung gian chịu trách nhiệm.

        Từ trước đến nay kinh nghiệm làm với các doanh nghiệp cho thấy cái gì miễn phí thì người ta làm còn đóng phí, dù rất ít, thì họ rất ngại. Thói quen, văn hóa doanh nghiệp nói chung còn ngại minh bạch, ngại chia sẻ thông tin. Đó có thể coi là một trong những lực cản lớn đối với truy xuất nguồn gốc.

Tạm bỏ qua mục đích thương mại, hãy nói đến mục đích an toàn, rõ ràng ở Việt Nam không có một bắt buộc nào. Tôi từng gửi kiến nghị tới Thủ tướng trước Hội nghị An toàn thực phẩm vừa tổ chức. Theo đó, Chính phủ cần đưa ra một chương trình quản lý an toàn thực phẩm dựa trên cách tiếp cận quản lý hệ thống, phải có hệ tiêu chuẩn công bố rõ ràng. Chẳng hạn đến năm 2020, 100% trang trại nông sản phải áp dụng và được chứng nhận đạt tiêu chuẩn VietGAP; hay 100% cơ sở chế biến thủy sản, thịt... phải áp dụng và đạt chứng nhận đạt tiêu chuẩn HACCP...

Vạy là phải kỳ vọng vào ngoại lực tác động, như HACCP với ngành thủy sản, và những hiệp định thương mại đã ký như TTP, FTA?

Hiệp định Thương mại tự do (FTA), Hiệp định Đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP)... tác động không chỉ về an toàn thực phẩm. Ví dụ như thủy sản, người mua đến không chỉ xem nhà máy mà còn yêu cầu xem vùng nuôi, quản lý nước, chất xả thải có ảnh hưởng môi trường không... Riêng với TPP, ngoài vấn đề môi trường còn là trách nhiệm xã hội, lao động, giờ làm, nhân công, sở hữu trí tuệ... Vì vậy doanh nghiệp phải thay đổi. Tôi ví dụ một điển hình của Thái Lan mà chúng tôi mới tiếp cận ở hội thảo về truy xuất nguồn gốc diễn ra ở Bangkok: cả chục năm nay họ đưa ra hình ảnh trái sầu riêng có dán nhãn truy xuất thì giá 70 baht/kg, còn sầu riêng không dán nhãn truy xuất là 50 baht/kg. Rõ ràng nếu minh bạch sẽ mang lại lợi ích cho doanh nghiệp. Ở Việt Nam điều khó là tỷ lệ % hàng hóa lưu thông qua siêu thị vẫn còn thấp, chủ yếu qua chợ truyền thống, thường không có bao bì. Tôi chưa nói đến truy xuất nguồn gốc, nếu một bó rau, cân thịt không có bao bì, thông tin thời hạn sử dụng thì không thể nói là an toàn được. Thói quen của người tiêu dùng cần thay đổi và tôi nghĩ là thay đổi được. Tất nhiên phải có quá trình bởi người tiêu dùng Việt Nam quá dễ tính.

Với người nông dân, các hộ nhỏ lẻ thì sao, thưa bà?

Nông dân muốn làm truy xuất phải làm tận trang trại. Có những doanh nghiệp họ liên kết với trang trại, hỗ trợ tốt. Còn với hộ cá thể, quy mô nhỏ lẻ hầu hết mình phải hỗ trợ họ. Nhiều chủ trang trại diện tích khoảng 2.000m2 muốn làm truy xuất chúng tôi chỉ lấy phí 5 triệu đồng/năm nhưng họ vẫn rất khó khăn. Quay lại với Thái Lan: Bộ Nông nghiệp nước này hỗ trợ cho các nông dân nhỏ lẻ miễn phí đăng ký dịch vụ truy xuất, doanh nghiệp lớn hay HTX thì mới phải trả phí. Không bắt buộc, không có chính sách hỗ trợ thì làm sao người ta làm.

Có một nhận thức mà tôi thấy rất đúng: các sản phẩm nông nghiệp bao giờ cũng gắn với tên tuổi của địa phương, vùng miền chứ ít khi của anh A hay anh B. Ví dụ như cá hồi Na Uy, cá hồi Scotland, chuối Ecuador... hay ở Việt Nam có bưởi Phúc Trạch, xoài cát Hòa Lộc... Nên để phát triển thương hiệu vùng địa lý đó lên, cần kết nối tất cả mọi người ở địa phương đó.

Minh bạch thực phẩm giúp người tiêu dùng có kênh mua sắm thực phẩm an toàn cho sức khỏe. Ảnh: CTV

Hiện nay có những ngành nghề nào và bao nhiêu doanh nghiệp đăng ký dịch vụ với công ty bà?

Hiện có khoảng 10 doanh nghiệp trong các ngành hàng như thịt heo, rau, đồ ăn nhanh, một trang trại dâu ở Đà Lạt... Ngoài ra còn một dự án của HTX nuôi heo ở Hà Tĩnh chuẩn bị làm. Nói chung là còn ít. Chúng tôi biết là khó nhưng phải dấn thân vô vì không làm thì không ai làm.

Như vậy câu “bụt chùa nhà không thiêng” có vẻ ứng với việc bà đang làm?

Chúng tôi có uy tín với nước ngoài nhiều hơn ở Việt Nam bởi các nước họ thấy công việc này quan trọng. Khó khăn thì cũng phải kiên nhẫn vì cái gì cũng phải có thời gian. Tuy nhiên rất mong Nhà nước thấy chuyện này và vào cuộc, người tiêu dùng phải đòi hỏi. Còn Hiệp hội Thực phẩm minh bạch cũng từ ý tưởng các doanh nghiệp làm ăn đàng hoàng không phải ít. Họ làm đàng hoàng nhưng thấy xung quanh không đàng hoàng nên đã suy nghĩ lại. Hoặc họ làm đàng hoàng đến tận bây giờ nhưng làm sao sản phẩm an toàn có được vị trí xứng đáng trên thị trường và người tiêu dùng biết chỗ để chọn sản phẩm an toàn đó?

Chúng tôi ngồi lại cùng với một số doanh nghiệp thấy rằng, muốn an toàn thực phẩm thì phải minh bạch. Nhưng xin thông qua quyết định ban vận động thành lập Hội cũng là vấn đề đau đầu, tác động đủ kiểu và may là tôi có quan hệ rộng rãi, chứ người khác có ý tốt như mình mà không có quan hệ cũng không làm được.

Theo bà tại sao ở Việt Nam dù nhiều bộ quản lý, giám sát mà thực phẩm bẩn vẫn tràn lan?

Đáng lẽ việc kiểm tra, giám sát phải làm hàng ngày, thường xuyên chứ không phải đặt ra tháng hành động theo định kỳ. Mà muốn làm hàng ngày thường xuyên thì doanh nghiệp phải là chủ thể trong chuyện này. Doanh nghiệp phải là người áp dụng tiêu chuẩn an toàn thực phẩm này. Cơ quan quản lý Nhà nước phải kiểm tra thường xuyên việc thực hiện đó và điều chỉnh khi cần thiết. Doanh nghiệp phải lên tiếng và phải cùng nhau chung tay xây dựng một ngành sản xuất thực phẩm an toàn, minh bạch.

Bà có thể miêu tả rõ hơn về vai trò của Hiệp hội Thực phẩm minh bạch?

Tôi tin Hiệp hội khi thành lập, với những tiêu chí rõ ràng thì mình sẽ kiểm soát tốt. Ví dụ rượu cognac của Pháp, khi muốn làm rượu phải đăng ký đúng loại nho, trồng đúng quy trình, dùng đúng loại men, và phải báo sản lượng hàng năm bao nhiêu để quyết định giá bán... Nếu doanh nghiệp có cùng lợi ích, họ tự kiểm soát nhau sẽ tốt hơn rất nhiều. Chính vì vậy ở các hội thảo sắp tới chúng tôi muốn kêu gọi doanh nghiệp tham gia, đưa ra một số tiêu chí, quy tắc ứng xử, tiêu chuẩn kỹ thuật. Truy xuất nguồn gốc sẽ áp dụng cho những sản phẩm đơn giản. Còn những nhà sản xuất nói chung, sản phẩm sản xuất công nghiệp thì cần minh bạch thông tin, như quy trình sản xuất, vùng nguyên liệu, công bố thành phần chất nhạy cảm và hàm lượng so với ngưỡng được sử dụng để đối chiếu.

Hiện nay một số doanh nghiệp nói với chúng tôi là tiêu chuẩn phải nghiêm khắc. Điều đó là tất nhiên nhưng cũng phải cần theo trình độ vì mình phải hiểu khái niệm an toàn thực phẩm là một khái niệm động. Nó thay đổi theo tiến bộ khoa học kỹ thuật, theo công nghệ chế biến mà người ta phát triển. Ngày hôm nay mình cho là an toàn, nồng độ đó là chấp nhận nhưng ngày mai lại không còn an toàn. Ví dụ ngày xưa đâu ai đặt ra vấn đề kim loại nặng, kháng sinh, chất phụ gia... Cho nên Nhà nước đóng vai trò quan trọng cập nhật thông tin cho doanh nghiệp. Chúng tôi hy vọng Hiệp hội sẽ là cầu nối để cập nhật kịp thời thông tin cho doanh nghiệp. Hiệp hội sẽ không làm chứng nhận GAP, HACCP, ATTP nhưng những người tham gia phải có chứng nhận.

Lộ trình của Hiệp hội Thực phẩm minh bạch như thế nào, thưa bà?

Tháng 3 vừa qua, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn mới ra quyết định thành lập Ban vận động thành lập Hiệp hội Thực phẩm minh bạch, và tôi làm trưởng ban. Sắp tới chúng tôi sẽ tổ chức hai hội thảo lấy ý kiến để hoàn chỉnh điều lệ, đăng ký với Bộ Nội vụ để thành lập chính thức. Dự kiến khoảng tháng 9, 10 sẽ tổ chức đại hội. Tất cả các sản phẩm của hội viên sẽ dán tem minh bạch hoặc tem truy xuất. Trước mắt số lượng không cần phải nhiều mà phải tinh đã, để lấy uy tín. Tôi rất muốn làm sao để những nhà sản xuất thực phẩm Việt Nam thấy trách nhiệm của mình song song với lợi ích, có vị trí đứng tốt trên thị trường. Và cũng rất cần sự tin cậy, ủng hộ của người tiêu dùng để những người làm ăn đàng hoàng phát triển được.

Ngô Gia thực hiện

(Bài viết đã đăng trên báo in Người Đô Thị số 49)

bài viết liên quan
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm
*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.