Nhiệt điện than đang làm gì thế giới?

 16:23 | Thứ ba, 31/05/2016  0

nhiệt điện than

Khai thác than đá - ảnh: TL

Khiến trái đất sẽ nóng lên 6 độ C

Theo tính toán của các nhà khoa học trên thế giới, các nhà máy nhiệt điện than chiếm 37% tổng lượng CO2  phát thải trên toàn thế giới và chiếm 72% lượng khí nhà kính (GHG) phát thải từ ngành điện, trong khi đó tổng lượng phát thải GHG của ngành năng lượng chiếm đến 41% toàn cầu.

Nếu nhu cầu than toàn cầu tăng, và 1200 nhà máy nhiệt điện than đang trong quy hoạch được xây dựng trên toàn thế giới, thì lượng phát thải khí nhà kính sẽ khiến nhiệt độ Trái Đất tăng thêm 6 độ C vào năm 2100. Nhiệt độ trái đất chỉ có thể tăng thêm tối đa 2 độ C so với thời kì tiền cách mạng công nghiệp. Nếu vượt mức này, chúng ta sẽ bị đẩy vào thảm họa khí hậu với hàng loạt các loài bị tuyệt chủng và một cuộc sống vô cùng khắc nghiệt.

Trên thế giới đang nổi lên một phong trào tạo sức ép lên các chính phủ và tổ chức buộc họ phải hành động để chấm dứt sự phụ thuộc vào than. Trong Liên minh châu Âu, 109 dự án nhà máy nhiệt điện than đã bị hủy bỏ. Năm ngoái, chính phủ Trung Quốc đã ra lệnh cấm việc cấp phép xây dựng cho các nhà máy nhiệt điện than trên ba vùng kinh tế trọng điểm xung quanh thành phố Bắc Kinh, Thượng Hải và Quảng Châu, khu vực chiếm tới 30% công suất phát điện than hiện tại của Trung Quốc. Tại Mỹ, 179 dự án nhiệt điện than mới đã bị ngăn chặn và 165 nhà máy đang vận hành đã ngừng hoạt động.

Các tổ chức tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Tái thiết và Phát triển châu Âu và Ngân hàng Đầu tư châu Âu, đã áp dụng các chính sách hạn chế hoặc xóa bỏ hoàn toàn trợ cấp cho nhiệt điện than. Mỹ và một số nước châu Âu cũng đã ban hành các lệnh cấm hỗ trợ tài chính cho các dự án than ở nước ngoài, trừ một số trường hợp đặc biệt.

nhiệt điện vĩnh tân 2

Bốn nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân (Bình Thuận) nằm liên hoàn dọc bờ biển - ảnh: Lê Quỳnh

Châm ngòi xung đột tài nguyên nước

Hoạt động khai thác than và xây dựng các nhà máy nhiệt điện than tại các vùng khô hạn trên thế giới đã châm ngòi cho những xung đột về tài nguyên nước. Từ năm 2001-2010, nông dân ở khu vực Vidarbha Trung Ấn đã rơi vào tình trạng nợ nần chồng chất vì chính phủ nước này thực hiện tự do hóa nền kinh tế, rút lại các khoản trợ cấp cho các hộ nông dân nhỏ, ưu tiên cung cấp nước cho các nhà máy điện, phần lớn là nhiệt điện than thay vì cung cấp nước cho nông nghiệp. Tình trạng nợ nần là nguyên nhân gây nên 6000 vụ nông dân tự tử. Bất chấp thảm kịch này, quốc gia này vẫn đang xem xét cấp phép cho 71 nhà máy nhiệt điện, cỗ máy tiêu thụ 2 tỷ mét khối nước hàng năm.

Ấn Độ vẫn đang cố thực hiện các kế hoạch xây dựng hàng trăm nhà máy nhiệt điện than bất chấp các dự đoán về nhu cầu nước của quốc gia này sẽ vượt cung trong 30 năm tới. Những dự án nhà máy nhiệt điện than được đề xuất sẽ tiêu thụ 2500-2800 triệu mét khối nước mỗi năm. Lượng nước này có thể đáp ứng được nhu cầu sử dụng cho người dân tại 6 thành phố lớn nhất Ấn Độ gồm Mumbai, Delhi, Banglagore, Hyderabad, Ahmabadad và Chennai (giả định mỗi người dân tiêu thụ 135 lít nước mỗi ngày)

Chính phủ Trung Quốc cũng đang lên kế hoạch xây dựng 14 cơ sở khai thác than quy mô lớn và 16 nhà máy nhiệt điện than mới, chủ yếu ở các tỉnh miền Tây, bất chấp các dự báo về tình trạng thiếu nước nghiêm trọng của quốc gia này vào năm 2030. Tổ chức Greenpeace ước tính rằng, những nhà máy nhiệt điện than này sẽ tiêu thụ 10 tỷ mét khối nước mỗi năm (tương đương 1/6 lượng nước sông Hoàng Hà). Hiện tại, lượng nước trên đầu người ở những vùng đất khô hạn này chỉ bằng 1/10 trung bình cả nước. Phát triển ngành than sẽ lấy đi lượng nước đáng kể đang được sử dụng để cung cấp cho mục đích sinh hoạt, nông nghiệp và các loài động thực vật hoang dã tại những khu vực này.

Tại Nam Phi, mở rộng ngành than sẽ khiến tình trạng thiếu nước trở nên trầm trọng hơn. Dự đoán nhu cầu về nước sẽ vượt khả năng cung ứng 17%. Với 13 nhà máy nhiệt điện than được đề xuất xây dựng, tình trạng sẽ càng trở nên tồi tệ. Mở rộng khai thác than đồng nghĩa với việc tiêu thụ một lượng nước lớn và sẽ gây ô nhiễm nguồn nước ngọt vốn đã khan hiếm.8 Mở rộng khai thác than tại những khu vực nguyên sơ và nhạy cảm tại Waterberg, phía Bắc Nam Phi, là mối đe dọa lớn bởi nguồn nước chỉ được ưu tiên cho ngành than và không hề có đảm bảo nào cho những mục đích sử dụng khác ví dụ như ngành nông nghiệp.

Việc vận hành các nhà máy than tại những khu vực khan hiếm nước có thể ảnh hưởng đến phát triển kinh tế tại những địa phương này, Nếu những nhà máy than không có đủ nước để hoạt động, chúng buộc phải đóng cửa. Thời tiết nóng bức có thể làm tăng nhiệt độ nguồn nước được dùng cho hệ thống làm mát của nhà máy, dẫn đến giảm sản lượng điện trong mùa cao điểm. Sản lượng điện giảm kéo theo giảm doanh thu và gây khó khăn trong việc trang trải các khoản nợ.

 nhiệt điện vĩnh tân 2

Nhiệt điện Vĩnh Tân 2 gây ô nhiễm kéo dài gây nhiều bức xúc cho người dân - ảnh: TL

“Nguồn sống” bị hủy diệt vì ô nhiễm

Hàng năm, các nhà máy nhiệt điện than thải ra hàng triệu tấn kim loại nặng độc hại bao gồm thạch tín, bo, ca-đi-mi, chì, thủy ngân, sê-len và các kim loại nặng khác. Chất thải từ quá trình đốt than thường được tập trung tại các bãi thải khô hoặc trộn với nước và trữ trong các hố được ngăn tạm bằng những con đập đất. Việc lưu trữ như thế này làm gia tăng nguy cơ rò rỉ các chất ô nhiễm vào hệ thống nước ngầm và nước mặt, gây nhiễm độc nguồn nước uống.

Tại Mỹ, các nhà máy nhiệt điện than là nguồn gây ô nhiễm nước lớn nhất, xét theo độ độc hại của các chất gây ô nhiễm. các chất thải độc hại rò rỉ từ các bể tro xỉ than đã làm nhiễm độc nguồn nước uống của hơn 100 cộng đồng. Nước thải từ các nhà máy nhiệt điện than chứa hàm lượng lớn các kim loại nặng và các chất hóa học độc hại khác, làm chết các loài thủy sinh và nhiễm độc nguồn nước uống. Các nhà máy điện than tại Mỹ hàng năm thải ra 127 triệu tấn chất thải, đủ để lấp đầy một diện tích bằng 60 sân vận động.

Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ (EPA) chỉ ra rằng, các đập bùn than thường được xây vội vàng và không tích hợp đủ những biện pháp bảo vệ để đảm bảo độ an toàn và độ bền kết cấu. Khi các đập này bị vỡ, hàng triệu lít bùn than độc hại sẽ tràn ra và gây ô nhiễm các vùng đất và hệ thống sông hồ. Thảm họa vỡ đập lớn nhất tại Mỹ là vụ vỡ đập bùn than xảy ra vào tháng 12/2008 tại Kingston, Tennessee đã làm 3.8 tỷ lít bùn than tràn vào con sông Emory. Nhà cửa đã bị phá hủy và các hộ gia đình phải tái định cư bởi vùng đất của họ đã bị chôn vùi trong bùn than độc hại.

Còn vào tháng 10/2013, một đập bằng đất đã bị vỡ, làm tràn 670 triệu lít bùn than vào các nhánh của sông Athabasca, Canada. Lượng bùn than này có chứa hàm lượng lớn các chất thạch tín, ca-đi-mi, thủy ngân và chì, buộc các chính phủ phải cảnh báo cộng đồng không được sử dụng nước sông đến khi bùn thải trôi xuống hạ lưu. 

EPA cũng ước tính rằng, những người dân sống trong phạm vi một dặm xung quanh các bãi thải xỉ có 2% nguy cơ mắc các bệnh ung thư do uống phải nước bị nhiễm độc. Con số này gấp 2,000 lần mức độ cho phép của EPA. Ngoài ra, ô nhiễm than cũng tác động nghiêm trọng tới đa dạng thủy sinh. Nhiều tài liệu đã ghi lại rằng ô nhiễm xỉ than có thể gây ra hiện tượng biến dạng đối với nhiều loại cá và các loài lưỡng cư, giảm tỷ lệ sinh sản, thậm chí làm một số loài biến mất hoàn toàn. 


Thực tế có tồn tại “than sạch”?

Mặc chúng ta vẫn thường nghe thấy cụm từ “than sạch”, nhưng thực tế không có gì có thể thực sự làm sạch các nhà máy điện than. Ngay cả những nhà máy có hiệu suất cao nhất với công nghệ kiểm soát ô nhiễm tốt nhất vẫn hút cạn nguồn nước của người dân địa phương và thải những hóa chất độc hại ra môi trường. Chính phủ và các doanh nghiệp chỉ có thể áp dụng những thực tiễn tốt, đồng thời thay đổi công nghệ để giảm thiểu những tác động chết người từ các nhà máy nhiệt điện than.

Hơn 40 năm qua, những người ủng hộ nhà máy nhiệt điện than đã dùng cụm từ “Than sạch” cho các dự án mới, ngay cả khi họ phản đối phát triển và áp dụng các hệ thống kiểm soát ô nhiễm không khí hiện đại, các chính sách sử dụng nước cũng như các biện pháp kiểm soát tro xỉ than. Thực tế là định nghĩa của cụm từ này vẫn còn gây rất nhiều tranh cãi. Tương tự như vậy cụm từ “Công nghệ sẵn có tốt nhất” (BAT) cũng rất mơ hồ.

Vì vậy, khi một nhà máy nhiệt điện than được đề xuất, điều quan trọng là cần phải xác định cụ thể công nghệ kiểm soát ô nhiễm nào sẽ được lắp đặt, các cơ quan cấp giấy phép cho nhà máy cần kiểm tra hiệu quả hoạt động của những công nghệ này, đồng thời cần có kế hoạch giám sát để người dân có thể chắc chắn những thiết bị này vẫn được vận hành.    


 L.Quỳnh

Nguồn: (hỗ trợ tiếng Việt: GreenID)

Waterkeeper Alliance: waterkeeper.org

World Resources Centre: wri.org/aquaduct

Greenpeace: http://grnpc.org/IgHhy

Union of Concerned Scientists: http://bit.ly/1xQuhCR

Point of No Return: The massive climate threats we must avoid, Greenpeace International, January 2013, http://bit.ly/1rmktL1

Redrawing the Energy-Climate Map, International Energy Agency, June 2013, http://bit.ly/1xwZOWE

New unabated coal is not compatible with keeping global warming below 2°C, Statement by leading climate and energy scientists, November 2013, http://www.europeanclimate.org/documents/nocoal2c.pdf

 “Global Warming’s Terrifying New Math,” Bill McKibben, Rolling Stone, July 19, 2012, http://rol.st/1zo0W0Z

Intergovernmental Panel on Climate Change: Working Group 3 Assessment Report 5- Summary for Policy Makers, http://bit.ly/15k1wnK

 www.ampd.epa.gov

Coal Activist Resource Centre: endcoal.org

Greenpeace International: greenpeace.org/coal

Sierra Club: sierraclub.org/coal

Union of Concerned Scientists: ucsusa.org/clean_energy/

International Renewable Energy Agency: irena.org  

» Cần cải cách chính sách giá điện 

» Điều chỉnh Quy hoạch điện VII: Sẽ chuyển đổi mạnh thị trường điện?

bài viết liên quan
TAGS
Loading...
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm

Đọc tin nhanh

#mù công nghệ
*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.