Mưa rơi không cần phiên dịch
Trần Dần
Biến một thế giới thực thành một thế
giới ảo là hành vi nghệ thuật.
Biến một thế giới ảo thành thế giới
thực phần nhiều là một hành vi phạm pháp.
Trong ngôn ngữ Hàng Buồm, người ta gọi đó
là hàng đểu.
Lê Đạt
Nguyễn Đức Dũng (sinh năm 1977) vốn xuất thân từ “dân tiếng Anh” của Đại học Ngoại ngữ. Trước đây, trong thời bao cấp bế quan toả cảng, ai biết một ngoại ngữ là trổ được một cửa sổ nhìn ra thế giới... Còn giờ đây, tiếng Anh, từ một ngôn ngữ giao tiếp, chủ yếu là thương mại, đã trở thành ngôn ngữ công nghệ thông tin, của máy tính và trí tuệ nhân tạo (AI). Người thầy giáo tiếng Anh Nguyễn Đức Dũng ngày nào đã nhanh chóng nắm bắt được làn sóng mới này của thời đại và, quan trọng hơn, dám một thuyền một chèo “cưỡi sóng vượt gió” để ra khơi.
Chỉ trong vòng vài năm, ngoài việc dịch đuổi, dịch cabin cho các lớp tập huấn về cuộc cách mạng 4.0, về đầu tư phát triển, hoặc ở các hội nghị quốc tế được tổ chức tại Việt Nam, Nguyễn Đức Dũng còn tích cực sưu tầm, xử lý, hệ thống hóa khối tài liệu khổng lồ Anh ngữ để biên soạn ra một bộ sách gồm 20 cuốn, trong đó có 19 cuốn về công nghệ thông tin và cuốn chốt hạ lại là Góc nhìn triết học Spinoza. Sách của Nguyễn Đức Dũng có chủ đề vừa rộng vừa sâu.

Dịch giả, tác giả Nguyễn Đức Dũng.
Đúng hơn, anh chọn một vấn đề nào đó rất nhỏ, hay tưởng như nhỏ, để đào sâu, và sâu đến một mức độ nào đó sẽ trở nên rộng, như một cá nhân, nếu tự đào sâu vào bản thân mình sẽ bắt gặp nhân loại. Những cuốn sách Kinh tế đêm, Kinh tế không gian, Tiêu dùng Xanh là các tác phẩm có giả trị như vậy.
Còn những công trình khác đều xoay quanh cuộc cách mạng 4.0: Xã hội số, Niềm tin số, Chính quyền số, Nguồn nhân lực 4.0, Quản trị Doanh nghiệp 4.0, thậm chí Tội phạm 4.0, Tâm lý tội phạm 4.0.
Nguyên tắc biên soạn sách của Đức Dũng là thiết thực và nhất quán. Anh không quá đi sâu vào những cạnh khía lý thuyết, mà chủ yếu đề cao các phương diện nhận thức và thực hành. Người đọc dễ tiếp nhận sách Dũng vì lối văn anh vừa khúc chiết, logic chặt chẽ lại vừa có nhiều các luận chứng thực tế.
Như vậy, bộ-sách-của- Dũng, có thể nói, là một ‘cơn mưa kịp thời’ (cập thời vũ) gieo những hạt nước ấm lành xuống cánh đồng tin học khô hạn. Đặc biệt là những ngày hôm nay, khi đất nước đang làm cuộc cách mạng 4.0. Công nghệ số, AI được sử dụng để quản lý toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội, kể cả con người, thì sách Dũng càng có giá trị hơn bao giờ hết.
Một mặt, nó thúc đẩy nhận thức, gia tăng kinh nghiệm, giúp đỡ thực nghiệm, thực hành, mặt khác, nó góp phần quản lý rủi ro. Bởi, thực hành cái mới thì rủi ro là không tránh khỏi, hoặc vì đơn giản là nó mới, hoặc vì tâm lý ăn thua, nóng vội, thậm chí vì xuất hiện những tội phạm mới, mà tin tặc chỉ là một ví dụ. Những cuốn sách kịp thời và thức thời như vậy hẳn sẽ như những hòn đá ném xuống mặt hồ tạo ra những vòng sóng nước truyền xa lan rộng. Nhất là qua trung chuyển của thế hệ bạn đọc trẻ, các bạn đọc tậm huyết, đặc biệt là bộ phận người trẻ đang quản trị chính quyền số.

Tác phẩm nghiên cứu triết học cổ điển Spinoza của Nguyễn Đức Dũng.
Có một điều làm không ít người ngạc nhiên là trong bộ sách về công nghệ tin học và AI rất hiện đại này lại "nảy nòi" một cuốn sách triết học cổ điển của triết gia Do thái Hà Lan Spinoza (1632-1677). Nhà triết học là người mang lại một quan niệm mới về thực tại. Các triết gia cổ điển ngoài việc tư duy tự biện về thế giới thì còn tiếp thu nhiều thành tựu của khoa học tự nhiên, nhất là vật lý học, để xây dựng nên “bức tranh thế giới”.
Như vậy, nhà triết học và nhà vật lý học vẫn còn là ngôi nhà một gian một trái. Nhưng từ đầu thế kỷ XX, khi thuyết tương đối của Einstein (1879-1955), thuyết lượng tử của Bohr (1855-1962) và Heisenberg (1901-1976) ra đời thì nhà vật lý trở thành nhà triết học, bởi họ đưa ra những quan niệm mới, phi cổ điển về thực tại thế giới. Ngày nay, với sự xuất hiện của AI và người máy, thì quan niệm về thực tại thế giới, một lần nữa, thay đổi, nên cần có một nhà nào đó tổng kết về lý thuyết, hoặc phát minh một triết thuyết mới.
Quả vậy, sự xuất hiện của AI có thể đưa con người đến một sự phát triển mới ở cấp độ cao hơn, thậm chí tiến đến thời kỳ hậu nhân loại, tức một nhân loại mới. Với kho dữ liệu lớn và ngày càng lớn hơn, người máy, quả thật, sẽ làm tốt hơn con người ở những công việc mang tính số liệu và hệ thống hóa, dành lại cho con người mảnh đất của các ý tưởng sáng tạo. Nhưng khả năng tự điều chỉnh và tự phát triển của AI sẽ đe dọa thu hẹp lãnh địa sáng tạo người.



Một số công trình tác giả Nguyễn Đức Dũng nghiên cứu các vấn đề xã hội đương đại.
Trong hoàn cảnh này, sự tồn tại của người chỉ thực sự hiện hữu khi nó còn có ý tưởng sáng tạo tự do và cá nhân độc đáo. Tức con người, sau khi đã là “động vật chính trị” (Aristotle) , “động vật kinh tế” (Marx), sẽ là “động vật sáng tạo”(Heisenberg). Sự xuất hiện của Spinoza dù là triết học cổ điển nhưng lại chứa đựng những hạt nhân của triết học hiện đại, như lòng nhân ái, sự tự do cá nhân và phiếm thần luận tự nhiên, mang giá trị định hướng và cảnh báo cho sự phát triển công nghệ 4.0, nhất là ở Việt Nam.
Nền văn hóa Kitô giáo phương Tây, theo R.Benedict, là “văn hóa tội lỗi”, còn văn hóa Nho giáo Á Đông là “văn hóa xấu hổ”. Sự tự vấn, xưng tội làm ý thức cá nhân phát triển, còn việc dùng sự bêu riếu, nhục mạ để quản trị, làm ý thức cộng đồng phát triển. Ý thức cộng đồng cao của Việt Nam làm người ta dễ chấp nhận chuẩn, theo chuẩn, dễ tiếp thu các chuẩn mực công nghệ, nhưng cũng dễ thui chột ý thức cá nhân, khiến con người không dám phá chấp, lệch chuẩn để đi đến ý tưởng sáng tạo, như là điều kiện của phát triển công nghệ cao, vượt thoát AI. Những ưu điểm và nhược điểm trên của trí tuệ Việt Nam cần được khắc phục và phát huy trong nền văn hóa mới.
Hà Nội, tháng Hai - năm Ngựa.
PGS-TS. Đỗ Lai Thúy - Viện trưởng Viện Nhân học Văn hóa