Cái nôi của 3 tôn giáo lớn
Là đô thị - điều này được nhiều nhà nghiên cứu khẳng định ít nhất đối với Phật giáo, Thiên Chúa giáo và Hồi giáo. Vì chỉ xã hội đô thị mới đủ nguồn lực cấp dưỡng cho những cộng đồng tôn giáo chuyên nghiệp, nông thôn thời cổ đại vốn không dư tài nguyên để làm việc này. Xã hội đô thị cũng thường chứa nhiều loại xung đột cần đến tôn giáo để hóa giải, như Phật giáo phá bỏ giai cấp ở thành Xá Vệ (Ấn Độ, 528 TCN), Thiên Chúa giáo mang lại tự do cho nô lệ ở thành Corinth (Hy Lạp, 50 - 55 SCN), Hồi giáo loại bỏ phân biệt bộ lạc ở thành Medina (622 SCN).
Chính mạng lưới giao thông vượt trội của đô thị chứ không phải nông thôn, đã lan truyền tư tưởng các tôn giáo khắp thế giới trong nhiều thế kỷ: Phật giáo theo con đường tơ lụa; Thiên Chúa giáo theo hệ thống đường cái La Mã (viae Romanae); Hồi giáo theo các tuyến caravan thương mại xuyên sa mạc.
Đô thị thường phát sinh những vấn đề sinh tồn cấp bách nhất: nghèo đói, dịch bệnh, cô đơn, tha hóa. Chính trong bối cảnh đó con người đi tìm đạo, “thành phố không chỉ nuôi sống thân xác mà còn là nơi con người tìm ý nghĩa của cuộc đời”. Đô thị nơi tập trung quyền lực chính trị, nếu vua chúa theo hoặc cải đạo, dân chúng cả nước có thể đi theo. Và chỉ đô thị mới có những không gian công cộng đủ lớn để xây dựng các công trình tôn giáo quy mô như chùa lớn (Jetavana - Kỳ Viên Tinh Xá, ngoại ô Xá Vệ, thế kỷ V TCN), nhà thờ lớn (Istanbul, xây dựng 532 - 537 SCN) hay thánh đường lớn (Đại Thánh đường Umayyad tại Damascus, xây dựng 705 - 715 SCN).

Di tích Shravasti (Xá Vệ) đô thị cổ gắn với Phật giáo sơ khai. Nguồn: Wikipedia
Có thể khẳng định đô thị - nơi có quy mô kinh tế lớn, tích tụ dân cư, chất chứa các vấn đề xã hội, tập trung quyền lực, mạng giao thông phát triển, không gian công cộng rộng và tính đa dạng cao là môi trường sẵn sàng bảo trợ và lan truyền tôn giáo nhanh nhất, đồng thời cũng là nơi thách thức khắc nghiệt sức sống mỗi tôn giáo. Nông thôn thời cổ đại nghèo đói, phân tán, thiếu kết nối, không thể sinh ra các tôn giáo mang tính phổ quát cho toàn nhân loại.
Riêng với Phật giáo, mối liên quan với đô thị còn được tô đậm qua nhiều chi tiết. Đức Phật là người thành thị, sinh ra và lớn lên ở các đô thị như Kapilavatthu và Vesali. Những nơi Ngài thường trú và thuyết pháp được mô tả trong kinh điển Pali đều là các đại đô thị “có tường thành, hào, cổng thành, chợ, quảng trường, phố thợ thủ công, cống rãnh…”. Năm đối tượng đầu tiên được nghe Chuyển Pháp Luân đều thuộc tầng lớp Bà-la-môn giàu có ở đô thị, hai người đầu tiên quy y Tam bảo trở thành cư sĩ là hai anh em lái buôn.
Tóm lại, Phật giáo không sinh ra từ nông thôn hay rừng sâu khổ hạnh, mà trong lòng thành phố, giữa mạng lưới đô thị – thương mại phát triển mạnh mẽ ở các tiểu quốc Gandhara và vùng lân cận (khu vực thương mại lớn nhất Bắc Ấn vào thế kỷ VI - V TCN).
Tại sao là Phật giáo?
Chúng ta đã biết 3 tôn giáo lớn đều phát nguyên từ đô thị nhưng không phải tôn giáo nào cũng có nguyên lý nội tại phù hợp để dẫn dắt đô thị hóa một cách bền vững. Sở dĩ phải mở đầu và nhấn mạnh “tính bền vững” bởi nếu các đô thị không phát triển bền vững thì mọi thành quả có thể mất hết trong một đêm bão lớn, sau một cơn đại dịch hoành hành, bởi cuộc xung đột xã hội đẫm máu, hoặc thành phố chết dần vì cạn kiệt nguồn nước hay ngập lụt, môi trường ô nhiễm đến mức không thể cứu vãn.
Nội hàm phát triển đô thị bền vững vì thế đòi hỏi con người tự định vị mình trong hai mối quan hệ lớn, quan trọng nhất: với thiên nhiên và với nhau. Thảm họa sẽ xảy ra nếu con người đồng thời tàn phá cả hai mối quan hệ ấy. Chủ đề này quá rộng và phức tạp nên ở đây chỉ xin tóm lược vài quan niệm khác nhau về vai trò con người trong thế giới tự nhiên của 3 tôn giáo lớn bởi từ quan niệm sẽ xác lập quyền hành động.
Đã có nhiều nhà nghiên cứu sử dụng giáo lý Thiên Chúa giáo, Hồi giáo và Phật giáo để diễn giải sâu sắc về “đạo đức sinh thái” (ecotheology) như Lynn White Jr. (1967), Seyyed Hossein Nasr (1968), Joann Macy (1991), Donald K. Swearer (1995), Holmes Rolston III (1988)… Việc của người viết chỉ tìm kiếm, tóm lược những điểm khác biệt cốt yếu, phù hợp với yêu cầu một bài báo phổ thông.
Thiên Chúa giáo: định vị con người là người quản lý (steward) của thiên nhiên, dựa trên Kinh Thánh, nơi con người được trao quyền “chinh phục” và “cai quản” trái đất, nhưng phải chịu trách nhiệm trước Chúa. Sách Sáng Thế Ký (Genesis 1:28) nhấn mạnh thiên nhiên là tạo vật của Chúa, con người phải bảo vệ nó với sự kính sợ, tránh làm ô nhiễm hay phá hủy. Giáo hoàng Francis nhiều lần kêu gọi phát triển bền vững, coi thiên nhiên như món quà thiêng liêng cần được chăm sóc để đảm bảo công bằng xã hội và môi trường. Về tổng thể, con người có quyền sử dụng thiên nhiên nhưng phải duy trì sự hài hòa với ý Chúa.
Hồi giáo: định vị con người như “khalifah” - người kế thừa hay quản lý của Allah trên trái đất, với trách nhiệm bảo vệ và duy trì sự cân bằng của thiên nhiên. Kinh Qur’an dạy rằng thiên nhiên là tạo vật của Allah, con người phải tránh lãng phí, tham lam hay phá hoại môi trường, vì điều đó dẫn tới hủy diệt. Quan niệm này nhấn mạnh con người không có quyền thống trị tuyệt đối mà chỉ là người được ủy thác, có trách nhiệm bảo tồn đa dạng sinh học và tài nguyên cho các thế hệ sau. So với Thiên Chúa giáo, Hồi giáo ít nhấn mạnh “dominion” (quyền) hơn, tập trung vào các ràng buộc đạo đức cụ thể.
Phật giáo: định vị con người không phải là kẻ thống trị hay quản lý mà là một phần không thể tách rời trong mạng lưới liên kết của tất cả chúng sinh. Không có khái niệm Thượng đế tạo hóa, thiên nhiên được xem là nơi thể hiện sự phụ thuộc lẫn nhau, con người phải sống hài hòa theo nguyên tắc bất bạo động và từ bi. Đức Phật chỉ ra rằng dục vọng dẫn đến khai thác thiên nhiên và gây khổ đau, vì vậy con người cần kiểm soát ham muốn, sống giản dị và tôn trọng mọi dạng sống. Luật nhân quả (karma) nhấn mạnh hành động gây hại thiên nhiên sẽ tạo hệ quả dài hạn (các kiếp sau).

Phù điêu bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật ở Lộc Uyển (người cầm gươm bên phải đức Phật là Kim Cương Thủ Bồ tát), thế kỷ XII Gandhara -Pakistan. Nguồn: Bảo tàng Metropolitan, New York
Sự khác biệt căn bản ở chỗ: Thiên Chúa giáo và Hồi giáo đều đặt con người vào trung tâm, coi con người có quyền quản lý dưới ý Thượng đế, trong khi Phật giáo loại bỏ ý niệm thống trị, nhấn mạnh sự phụ thuộc lẫn nhau và không bạo lực, coi con người bình đẳng với thiên nhiên trong chu kỳ tồn tại. Hai tôn giáo Abrahamic (có chung nguồn gốc tinh thần từ tổ phụ Abraham), dựa trên mệnh lệnh kinh điển, riêng Phật giáo tập trung vào nhận thức nội tại và việc giảm dục vọng để đạt hài hòa.
Tóm lại, để phát triển đô thị bền vững - tức xây dựng thành phố cân bằng giữa kinh tế, xã hội và môi trường, giảm ô nhiễm, bảo tồn tài nguyên và thích ứng với biến đổi khí hậu thì quan niệm của Phật giáo dường như phù hợp hơn, nhất là đối với những quốc gia có truyền thống Phật giáo như Việt Nam. Phật giáo nhấn mạnh sự liên kết chặt chẽ giữa con người và thiên nhiên, khuyến khích lối sống giản dị, kiểm soát tiêu dùng và tránh bạo lực đối với môi trường, qua đó hỗ trợ các mô hình đô thị xanh, đặc biệt giúp hình thành nhận thức cộng đồng về “nhân quả môi trường”. Tất nhiên cả ba quan niệm đều có thể bổ trợ lẫn nhau, việc kết hợp linh hoạt trong bối cảnh từng quốc gia và truyền thống văn hóa mỗi nước đều mang lại lợi ích cho đô thị bền vững.
Muốn bền vững phải an cư!
Định nghĩa kinh điển: “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” (Ủy ban Brundtland, 1987). Cốt lõi của khái niệm này là tư duy cho một xã hội ổn định dài hạn, cân bằng giữa kinh tế, xã hội và môi trường. Trong văn hóa Việt, khái niệm này có thể song hành với “an cư” qua các tầng nghĩa. An cư không chỉ là có chỗ ở, mà an thân (không lo thiên tai, rủi ro); an sinh (có sinh kế ổn định); an phận theo nghĩa tích cực (biết mình thuộc về đâu, có vai trò xã hội rõ ràng) và an tâm (tin rằng nơi mình hiện sống ngày mai vẫn còn cho con cháu thừa kế).
An cư có thể xem là một khái niệm học thuật bản địa tương đồng với phát triển bền vững, vì cùng xoay quanh tư duy dài hạn và liên thế hệ. Cả hai đều chống tư duy đánh đổi: phát triển bền vững không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng, an cư không đánh đổi an toàn lấy chỗ ở rẻ, không đánh đổi cộng đồng lấy tái định cư bởi đô thị hóa cưỡng bức. Nếu phát triển bền vững là chiến lược ở tầm quốc gia, thì an cư là biểu hiện vi mô của cùng tư duy đó ở cấp hộ gia đình và cộng đồng.
Năm 2025 nhân dân cả nước kỷ niệm 50 năm hòa bình, thống nhất (1975 - 2025), cột mốc 30.4.1975 có ý nghĩa lịch sử chấm dứt hàng chục năm bom đạn đau thương, chia ly, để các gia đình được đoàn tụ và an cư chung tay xây dựng đất nước phát triển bền vững. Nhưng sau nửa thế kỷ hậu chiến, dường như chúng ta vẫn đang đi đâu đó trong chuỗi xáo trộn dài dặc chưa kết thúc. Chỉ riêng Ất Tỵ 2025 thiên tai liên tiếp từ Bắc vào Nam đã cướp đi bao mạng người, nhà cửa tan hoang, nhiều công trình lớn ở đô thị và ven đô thị, nơi mật độ cư dân cao nhưng khả năng chống chịu yếu kém bị phá hủy nặng nề.

TP. Thái Nguyên chìm trong trận lũ 2025. Ảnh: Tuổi Trẻ
Rồi áp lực di cư từ nông thôn ra thành phố ngày càng lớn, giá đất và nhà ở tăng không ngừng khiến đa số hộ gia đình Việt Nam hôm nay chưa dám nghĩ đến giàu có, chỉ mong có nơi định cư yên ổn lâu dài cho bản thân và con cháu. Quá trình tái cơ cấu địa giới hành chính, sáp nhập tỉnh thành cũng đặt nhiều không gian thể chế vào trạng thái “quá độ” bất ổn, khiến từ quan chức đến người dân đều mong chờ sự ổn định. Tất cả những điều ấy khiến khát vọng an cư nổi lên, trở thành một nhu cầu tồn sinh cấp thiết của phần đông chúng ta, chứ không còn là lựa chọn cá nhân. Vâng, nếu dân chúng chưa an cư thì đất nước khó có thể phát triển bền vững.
Hai giáo lý cốt lõi
Khi thiên tai, biến đổi khí hậu, giá nhà tăng, hạ tầng yếu, đô thị hóa ồ ạt… cùng xuất hiện, chúng tạo thành rủi ro tổng hợp vượt ngưỡng chịu đựng của cả hệ thống. Khi đó, không một giải pháp đơn lẻ nào (chống ngập, nâng đường, quy hoạch lại, làm đê…) có thể xử lý nổi nếu không có khung phát triển bền vững làm nền móng. Khung đó có thể tìm thấy trong giáo lý Phật giáo, nhưng “Phật pháp như hải” mênh mông khôn cùng, nên chỉ xin tiếp cận hai giáo lý cốt lõi, phổ quát: trung đạo và duyên.
Khái niệm trung đạo được Đức Phật trình bày trong bài pháp đầu tiên – Kinh Chuyển Pháp Luân: tránh hai cực đoan đắm mình trong dục lạc hay khổ hạnh ép xác. Trung đạo vì thế không phải là thỏa hiệp mơ hồ mà là nguyên tắc tránh phát triển cực đoan, tránh “đi quá đà” dẫn đến tự hủy hoại.
Áp dụng vào phát triển đô thị, trung đạo cho phép vượt qua tư duy nhị nguyên giản lược giữa “phát triển” và “bảo tồn”, giữa “tăng trưởng” và “ổn định”. Đô thị phát triển quá nhanh, vượt quá khả năng chịu đựng của hạ tầng kỹ thuật, xã hội và môi trường tự nhiên, sẽ tự tạo rủi ro và bất ổn; ngược lại, kìm hãm phát triển thái quá có thể triệt tiêu sinh kế chính đáng và đẩy cư dân ra bên lề, dẫn đến nghèo đói lan rộng.
Đức Phật từng dạy cư dân các đại đô thị (Xá Vệ, Vương Xá- diễn giải từ các kinh SN56.33,SN12.42 và AN5.45): “Các ông sống trong thành cao tường dày kiên cố, nhưng đừng tưởng mình là tách biệt khỏi thiên nhiên và chúng sinh. Mọi sự đều duyên khởi mà thành, chỉ sống trung đạo mới đạt được an lạc thực sự”. Trung đạo đòi hỏi luôn đặt câu hỏi then chốt: điểm vượt ngưỡng nằm ở đâu? Bởi cực đoan theo hướng nào cũng dẫn đến mất an cư, thậm trí bị hủy hoại.
Trong Phật học, duyên là các điều kiện khiến một sự vật hay hiện tượng nảy sinh, tồn tại hay biến đổi. Duyên khởi cho biết không có thực thể nào tồn tại độc lập: “cái này có nên cái kia có”. Nguyên lý đó khẳng định mọi sự vật đều vận hành trong mạng lưới các điều kiện tương thuộc. Ở cấp độ đô thị, duyên khởi chỉ ra một thành phố được hình thành khi hội đủ các điều kiện: tự nhiên, hạ tầng, thể chế, dân cư, kinh tế, văn hóa cùng vận động tương tác.
Ngài đưa ví dụ thực tiễn: “ Ví như, này các tỳ-kheo, một ngọn núi lớn, nếu rừng bị chặt hết, đất trơ trọi, nước mưa đổ xuống không còn được giữ lại, núi sẽ sạt lở, sông sẽ lũ lụt hoặc khô cạn, đồng bằng và các thành phố ở hạ du sẽ bị hạn án hoặc ngập lụt…” (Tương ưng bộ kinh SN12.42). Vận hành đô thị hay đời sống gia đình cũng thế, cần được hiểu là luôn trong quá trình không ngừng động, mà mọi quyết định đều có hệ quả dây chuyền.
Tóm lại, duyên khởi là cách thấy, trung đạo là cách làm. Hai giáo lý này không tách rời nhau trong việc giữ cho mạng lưới đô thị không bị khủng hoảng bởi các lựa chọn cực đoan.
Đô thị Phật tính
Xin nói ngay “đô thị Phật tính” không phải là một đô thị mang hình thức tôn giáo bề ngoài với chùa chiền ở khắp nơi mà là cách tiếp cận coi cộng đồng người đô thị có khả năng thấy đúng thực tại vốn tiềm tàng Phật tính (duyên và trung đạo) trong các hiện tượng xã hội. Từ đó đô thị được hiểu là kết quả của các mối quan hệ và điều kiện tương tác phức tạp, rằng mọi can thiệp vào đô thị đều có hệ quả dây chuyền (duyên khởi), vậy nên phát triển cần tránh cực đoan dục vọng hay bảo thủ, hướng tới cân bằng hài hòa bền vững (trung đạo). Xin lấy ví dụ cụ thể ở hai quốc gia và đô thị để minh họa cách tiếp cận “Phật tính” trong thực tiễn.
Nhật Bản - cấp độ quốc gia: Với tỷ lệ đô thị hóa cao (92%) quốc gia này nhận thức rõ điều kiện tự nhiên nằm trên “Vành đai lửa Thái Bình Dương”. Rủi ro động đất, sóng thần được xem là “duyên” cơ bản phải tính tới. Cách hành xử theo trung đạo thể hiện ở việc “không trốn chạy, không dám” phát triển đô thị, nhưng cũng không phát triển thái quá, bất chấp, đến mức dẫn đến tự phá hủy. Họ đã xây dựng và thực thi các tiêu chuẩn quốc gia chống động đất nghiêm ngặt, hệ thống cảnh báo và sơ tán cộng đồng cùng năng lực phục hồi sau thiên tai.
Thành phố Kyoto - cấp độ đô thị: áp dụng trung đạo qua việc cân bằng giữa bảo tồn truyền thống văn hóa (không rơi vào bảo thủ khổ hạnh) và phát triển hiện đại (không chạy theo dục lạc cao ốc chọc trời), lấy cảm hứng sâu sắc từ Thiền tông Phật giáo, nhấn mạnh giá trị hài hòa (wa) để tránh mọi cực đoan. Duyên khởi được thể hiện qua nhận thức rằng đô thị phụ thuộc chặt chẽ vào thiên nhiên xung quanh (núi non bao bọc, rừng xanh, sông Kamo), đúng như lời Phật: "Cái này diệt thì cái kia diệt", nếu phá hủy cảnh quan thiên nhiên thì đô thị sẽ mất hết bản sắc và sức sống.

Cố đô Kyoto của nước Nhật hài hòa chùa cổ, núi non, độ cao nhà vừa phải. Ảnh: Hữu Bảo
Chính sách của Kyoto: bảo vệ 75% cảnh quan lịch sử và văn hóa, nghiêm cấm xây dựng che khuất các chùa cổ và núi non thiêng, giới hạn chiều cao tòa nhà từ 15–31 mét tùy vị trí trong khu vực lịch sử, ưu tiên phát triển các vườn Thiền và rừng quanh hơn 1.600 ngôi chùa (chiếm 20% diện tích toàn đô thị) làm hành lang xanh liên tục suốt thành phố. Đã giảm khoảng 30% ô nhiễm không khí kể từ năm 1990 nhờ các chính sách xanh bền vững. Kyoto có khí hậu cận nhiệt đới ẩm tương đồng với Huế, nơi tập trung nhiều di sản Phật giáo nhất Nhật Bản, chứng minh thành công vượt trội khi áp dụng giáo lý trung đạo và duyên khởi, luôn nằm trong nhóm “những thành phố đáng sống hàng đầu Nhật Bản" nhiều năm liền (Monocle Quality of Life Survey 2023).
Bhutan - cấp độ quốc gia: nhận thức duyên khởi được nâng lên thành chính sách: phát triển không tách rời môi trường và văn hóa. Trung đạo thể hiện ở việc không lấy GDP làm mục tiêu tối thượng mà đặt chỉ số hạnh phúc quốc gia (GNH) làm trục. Bảo tồn rừng trở thành điều kiện cấu thành đời sống, giúp hạn chế phát triển cực đoan phá vỡ sinh kế tự nhiên, giữ vững an cư cho toàn dân. Được xếp hạng số 1 châu Á về chỉ số hạnh phúc toàn cầu (World Happiness Report 2023).

Toàn cảnh Thimphu với kiến trúc truyền thống và rừng. Nguồn: Bhutan tourism
Thành phố Thimphu (Bhutan) - cấp độ đô thị: duyên khởi được thể hiện qua quy hoạch toàn lưu vực sông (thành phố phụ thuộc vào rừng đầu nguồn Himalaya) với 72% diện tích quốc gia là rừng nguyên sinh, cũng hành xử theo lời Phật "cái này có thì cái kia có" (rừng còn thì đô thị an ổn lâu dài). Khí hậu Thimphu mát mẻ quanh năm tương tự Đà Lạt, cả hai được rừng thông bao bọc. Chính sách đô thị: giữ chiều cao tòa nhà tối đa chỉ 7 tầng, không gian xanh chiếm 40% diện tích và tích hợp các tu viện lớn làm trung tâm cộng đồng văn hóa, cấm bê tông hóa sông Wang Chhu chảy trong thành phố.
Thay lời kết
Sau nhiều thập kỷ tăng trưởng nóng và những mất mát vì siêu bão Yagi năm 2024, cùng thiên tai liên tiếp trên cả nước năm 2025, chúng ta đang đối diện những thách thức cực lớn của tốc độ đô thị hóa. Đô thị bền vững, xét đến cùng không chỉ là vấn đề kỹ thuật hay vốn đầu tư mà là vấn đề nhận thức và lựa chọn. Phật giáo – một tôn giáo sinh ra từ đô thị, có thể cung cấp cho con người khung nhận thức để nhìn rõ sự tương thuộc giữa con người, thiên nhiên, xã hội và đời sống đô thị (duyên khởi), đồng thời chỉ ra cách hành xử tránh cực đoan trong phát triển (trung đạo).
Kinh nghiệm từ Kyoto và Thimphu cho thấy khi chính quyền và người dân đô thị cùng hiểu và hành động trong ý thức rằng sự tồn tại của mình gắn chặt với mạng lưới điều kiện tự nhiên, văn hóa và xã hội rộng lớn hơn một lãnh thổ hành chính cụ thể thì đô thị đó sẽ có khả năng chống chịu tốt hơn trước thiên tai, sử dụng tài nguyên hợp lý hơn và đảm bảo sự an cư dài hạn cho cộng đồng.
Nhìn từ nguyên lý duyên khởi, cuộc đời Đức Phật cũng mang tính biểu tượng sâu sắc: sinh ra và trưởng thành trong môi trường đô thị, giữa quyền lực, thương mại và xung đột xã hội, nhưng khi viên tịch Ngài lại chọn chốn rừng sâu tĩnh lặng ở Kushinaga. Điều đó không nhằm phủ định đô thị mà như một hành xử trung đạo: không bám giữ, cũng không đoạn tuyệt. Nhắc ta rằng đô thị không phải cứu cánh tối hậu, dẫu gắn bó, con người vẫn cần tỉnh táo để không bị đô thị chiếm hữu.
Với Việt Nam hôm nay, bài học ấy trở nên đặc biệt cấp thiết. Khi các đô thị lớn đang mở rộng nhanh về phía biển cả, sông ngòi, đồi núi, vùng trũng ngập; khi rừng đầu nguồn bị suy giảm nghiêm trọng, các không gian công cộng và hành lang sinh thái ngày càng bị thu hẹp thì áp lực lên sự an cư của người dân càng nặng nề. Trong bối cảnh đó, việc tăng cường không gian xanh trong quy hoạch, kiểm soát chặt chẽ các vùng núi rừng đầu nguồn nước, khu vực xây dựng ven sông và các vùng ngập lụt tiềm ẩn, đồng thời ưu tiên sinh kế bền vững cho cư dân là những bước đi khả thi. Khi nhận thức và hành động theo hướng cân bằng, đất nước và các đô thị của chúng ta sẽ giảm được rủi ro và đạt tới sự an cư, an lạc cần thiết cho các thế hệ người Việt tiếp nối sinh sống.
Trần Trung Chính