Giữa bão tố cuồng điên vật chất hóa trần gian này, xa rời tính tự nhiên minh triết, tôi buộc tự mình phải nhớ về thi nhân Bùi Giáng mà không cần rủ rê thêm bạo chúa nào cùng nhớ. Bởi nhân tính, thật thà và hiền lành - cái giá trị cơ bản ở loài người sao bỗng lại mong manh quá, mà Bùi Giáng từng như kẻ sót lại, kẹt lại ở trần gian…
Cũng bởi suốt nhiều năm rồi, rất thấy lạ, khi ở cái “tiểu Paris phương Đông” này, phố lạnh cao nguyên Đà Lạt, những trí thức có tâm hồn văn nghệ cứ hay lập những cái bàn thờ “dã chiến” để làm chỗ ngồi uống trà và trang trí cho phòng khách của ngôi nhà. Chớ coi thơ là giẻ rách, vì bỗng giật mình đọc những con chữ khắc trên các phiến đá nho nhỏ ở những gian phòng đó: Em về mấy thế kỷ sau/ Nhìn trăng thấy có nguyên màu ấy không (*)…
Là cái ông Bùi Giáng làm thơ đó!
Khoảng trống cho một bộ phim lớn
Nên nhớ cho, không phải ai làm thơ cũng trở thành thi nhân. Nếu tôi trưởng thành trong thời ông ta “rực rỡ” ăn mày, rực rỡ bụi đời, rực rỡ phong sương, rực rỡ bị hất hủi ở dáng mạo sống đó, chắc chắn tôi đã sắm một chiếc máy quay phim chuyên nghiệp để “hành khất” làm một bộ phim tài liệu về hành trình làm người của ông ở trần gian. Nếu tôi là một đạo diễn điện ảnh thì từ lâu tôi đã làm một bộ phim truyện nhựa về con người mà chính sự thật sống với dương thế của ông đã “như phim”, hay đến mức văn sĩ tài hoa mấy cũng khó tưởng tượng ra kịch bản nào hay bằng “đời thật” như thế, được như thế - bởi nó còn hơn cả phim, mà không cần phải thêm thắt làm gì để khỏi “hỏng phim”, mất chất điện ảnh.
Cái khoảng trống không một phim tài liệu nào ghi được hình ảnh sống của ông và không một sản phẩm điện ảnh nào “dựng” được sự có mặt của ông nơi trần gian đến giờ là một khoảng trống quá lớn và đầy khắc khoải, cùng sự uổng phí cho nhân thế “thưởng thức” về một con người siêu phàm. Cái nền phim ảnh xứ Việt đã vuột mất một bộ phim tài liệu sống động hấp dẫn và thú vị về một con người lạ lùng, độc đáo. Chả ai có lỗi về khoảng trống đó cả, có khi như thế càng hay hơn và ông cũng chả cần đến những hư vinh từ người đời tung hô, dìm hàng hay khen tặng khi mà bản thân lúc chưa tàn rữa đã sống đến thượng thừa rồi.

Tượng nhà thơ “điên rực rỡ” của Cường Tuse.
Không dám tiếc nhiều vì tôi chỉ là hậu sanh, người của thời buổi và xuất thân khác, nên không có cơ hội. Và dĩ nhiên với con người phiêu bồng chín tầng trời Bùi Giáng thì chẳng có thứ gì ông để ý trên đời, có chăng duy nhất là thân phận mọi kiếp người trên dương gian, thì huống gì phim phiếc, hình ảnh cá nhân, báo chí, hay đường phố bất kỳ nào mang tên ông. Phải mất tăm giữa mênh mông vô tận mới là Bùi Giáng! Cũng như sách giáo khoa vậy, đừng hòng thi ca của Bùi Giáng nở trên môi mắt học trò. Chao ôi, cái con người không hề gian dối, chưa từng làm gì ngược chiều với đạo người, chẳng làm tổn thương một cánh đồng, con phố, học đường, góc chợ, dòng sông, mảng rừng, ngọn núi, hay một động vật nào.
Một phút nữa thôi
Và mầu sẽ mất
Suối sẽ xa xôi
Như mây xa đất
Hành khất không phải “vì cơm”
Giữa một trần gian thừa thãi cày xới, tranh giành, đố kỵ và hoài nghi.
Dưới hệ hình nhận thức của Bùi Giáng, mãi mãi con người và cả loài người kia đơn giản rằng khởi đầu và kết thúc cũng chỉ là một thực thể sinh học. Và, “chơi ăn mặc tơi tả” cho thế nhân nhìn vào đó biết đâu bớt nuông chiều coi trọng thân xác, đắm chìm trong phù hoa, cơ cầu sang giàu, danh vọng, hư vinh, khoe khoang mọi thứ.
Ngày nào “xuống phố” về là giặt sạch bộ đồ tả tơi đó, và ngày mai nếu có “hành khất” tiếp lại thay bằng bộ tả tơi sạch sẽ khác thì không phải người khùng điên rồi, càng không là hành khất “vì cơm”. Người bạn thân thiết, tri âm của Bùi Giáng ở giai đoạn cuối đời, thời điểm mà mọi bạn trí thức - văn nghệ lâu năm của ông ở Sài Gòn gần như lánh ra trước hình hài tả tơi đó kể thế, là người chụp ảnh dạo Lâm Ngọc Duy từ Đà Lạt xuống kiếm sống ở nơi đó. Người thợ ảnh Duy kể rằng Bùi Giáng bao giờ hàn huyên cũng hay, điều gì cũng chuẩn mực, ý nhị; nói chuyện hàm lượng trí tuệ rất cao, luôn chứa sự chia sẻ san sớt cho người khác về nhận thức cuộc đời, lối sống sao cho đúng đắn, đúng đạo người và khẳng định: những ai vô minh và mất trí, điên thật mới gán cho Bùi Giáng là “điên”!
Nhưng điều lạ là khi la cà bất cứ chùa chiền nào ở phương Nam từ Huế trở vào, nếu ta “mang” Bùi Giáng ra để bàn thì họ đều nói về ông tự nhiên như một người đồng đạo, huynh đệ và tỏ rõ tự hào, quý trọng, luôn muốn “kéo” ông về phía người tu đạo Phật. Hình như cái từ trường Phật pháp ráp họ lại tự nhiên. Tất nhiên Bùi Giáng không biết điều này, vì lúc còn thân thể (sinh thời) ông “bận” tu và nay (năm 2026) thì đã tan hòa, mà rằng sự đó cũng cứ tự nhiên thôi bởi bậc thật “tu hành” như ông đã phá tướng, phá ngã, phá chấp rồi nên không gì có tính “phàm” trên đời này đáng để dõi tâm hay hãnh diện tự hào cả. Nhưng là người quan sát, thì sự này quá thú vị bởi Bùi Giáng chưa bao giờ xuất gia, quy y; chẳng theo giáo hội nào và cũng chẳng cạo đầu…

Bùi Giáng ngủ trưa ngon lành ngoài khuôn viên một ngôi chùa ở Sài Gòn. Ảnh: Lâm Ngọc Duy
Thi nhân mặc đồ rách mà từng bước chân đi trong an lạc, tin yêu thế nhân, tha thiết cuộc sống. Còn chúng ta mặc đồ lành để đi săm soi tất cả, trí não xét nét nặng ngàn tấn.
Một trí thức văn sĩ lớn, với dịch thuật 17 đầu sách của tác gia phương Tây, phương Đông cùng 26 công trình biên khảo chuyên luận về triết học, văn hóa, nghệ thuật, văn chương, và sáng tác 17 tập thơ có giá trị ở những năm tháng cõi người bầm dập chiến chinh tao loạn như ông không phải chuyện đơn giản. Ở phương Nam cho đến những năm 2000, hình như trong giới có chữ người ta đều từng đọc hoặc được nghe đâu đó ai ngẫu hứng xướng lên vài câu thơ của Bùi Giáng. Sự/ điều/ hiện tượng không dễ thấy ở thơ và người viết thơ: Trần gian hỡi tôi đã về đây sống/ Tôi ngẩng mặt ngó ngàn mây cao rộng/ Tôi bàng hoàng hốt hoảng những đêm đêm.
Thương thấu sinh phận loài
Bùi Giáng, kẻ “đọc” được thế gian. Từ đó ông dũng cảm chọn một cách sống. Cách ngược dòng. Đâu đó trong thiên nhiên chỉ ra rằng chỉ có con cá chết mới gấp lại sinh khối cho xuôi dòng, còn con cá giàu sức sống cứ cần dòng nước ngược. Bùi Giáng “thưởng thức” trần gian, chúng sinh, còn chúng ta thì bị những cơ cầu, tham vọng, hãnh diện… biến thành nô lệ trung thành xuất sắc.
Không thể tách Bùi Giáng ra khỏi đồng loại mình, đám đông ấy. Bùi Giáng cần đám đông kia để tu, “luyện” mình, “thở”, nhưng luôn vùng vẫy thoát ra nó ở những điều căn cốt, lớn. Cần đám đông nhưng không bao giờ nhận thức, nghĩ như đám đông, thuộc về đám đông. Bùi Giáng đã sống đạt đến cảnh giới tự tả tơi để không còn “cái tôi”, không còn cần (hoặc “bị” người đời nể trọng khi gọi…) là thi sĩ, dịch giả, học giả, trí thức, nhà thơ, nghệ sĩ. Một “ít” tả tơi thôi đã “lọc” được dòng đời, ngõ lối, thế thái, bạn bè, văn thân, nhân sĩ, trí thức… Nhìn Sáu Giáng (kiểu gọi theo thứ tự của người miền Nam - ít nhất thuộc không gian văn hóa từ đèo Hải Vân đổ vào) theo sự thô sơ của “cái thấy” là trật như chơi. Một con người hiếm hoi dám sống, sống được đầy đủ cái giá trị làm người về quyền được sống, được tự do, và được làm gì mình thấy cần phải, dẫu cho không gian sinh thái sống có ngột ngạt hay chật chội. Đã tỏ bày rồi: Trăm năm hồng lệ có là bao nhiêu.
Chúng ta sinh tồn trong thế gian, còn Bùi Giáng chiêm nghiệm thế gian. Chúng ta loay hoay với thân xác còn Bùi Giáng tập trung xem “vở đời”. Vào rừng, chúng ta nhìn cây thấy cây còn Bùi Giáng nhìn cây thấy “rừng”.
*
Phải nhìn Bùi Giáng đủ độ lớn ở thế giới tỉnh thức nơi ông thì mới thấy trúng con người ông - độc đáo, đặc sắc, quá hay! Chúng ta sống mãi trong cơ cầu thú tính, lún ngày càng sâu, còn Bùi Giáng buông, rời, xa dần hút nó. Ông sống nhẹ như tơ, chúng ta sống nặng như địa ốc, kim cương, xe hơi, nhà lầu, đồn điền, trang trại, cổ phiếu, thành đạt, địa vị, oai vinh.
Phần dài đời ông tồn sinh ở Sài Gòn, nhiều trí thức và nghệ sĩ sống ở đó, nhưng đơn giản như việc đặt chân đến chỗ ông ở họ cũng không từng, vậy mà họ “phán” cảm tính về ông như tri kỷ, sâu nặng, thân thiết, rành rọt, đủ đầy. Ngộ nghĩnh là chúng ta đầy dục phàm, là người phàm, mà đòi đi thẩm định bậc giải thoát. Chúng ta điên vì trọng bệnh tham - sân - si, hồ đồ bất chấp dán những thứ nhãn mình muốn lên thế nhân khi nhất quyết ông ấy phải… điên. Ông thì luôn điềm tĩnh tự tại, chín chắn: Lời sai trên miệng sẽ không ra lời. Bùi Giáng đã khuyên ý nhị tinh tế rồi mà không nghe: Tuổi thơ em có buồn nhiều/ Thì xin cứ để bóng chiều đi qua.
Tỏ tường cả rồi, hiểu và thương tất thảy những nông nổi, đồi bại hay lầm lạc của cõi ta bà, thế nhân: Ta về rũ áo đười ươi/ Trút tà phong nhụy cho người phụ nhau.
Giễu cợt cả trần gian
Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một chốc/ Nào ngờ đâu ở mãi đến hôm nay - kiểu này là yêu hay ghét trần gian?!
Quá yêu trần gian thì mới đạo hạnh và tha thiết hết dạ như vậy. Mang ơn nó, nhưng cách hàm ơn của ông nó khác, là đơn giản và gần gụi hóa nó, để thành tâm, chơn thực, sát với bản chất bản thể nó. Khi đã thấu rõ mọi thứ, mọi điều, mọi sự dưới vòm trời này đều vô thường, không thật, kể cả cái “ngã” hay những sản phẩm, sáng tác của mình, thì vờn chơi nó - trần gian. Chơi nghiêm túc, tử tế, hào hoa và đức hạnh. Tinh thần hào hoa sừng sững ngay trong cái vỏ tả tơi ấy. Là làm cho cuộc đời này hết quan trọng, nặng nề, để thân thương và tha thiết hơn: Đùa với gió, rỡn với vân/ Một mình nhớ mãi gái trần gian xa. Bùi Giáng nhận ra thấu tận sự không thật có, “của giả”, vô nghĩa của kiếp người ở loài người. Chúng ta không nhiều người thấu thị được điều này đâu, dù đâu đó có từng học, hoặc nghe nói thế. Nên trời xanh cao thiêng kia cũng vậy: Nhưng em hỡi trần gian ta đã biết/ Đài vũ trụ hồn chiêm bao đã rõ/ Một nụ cười thế giới sẽ chia đôi.

Bàn thờ Bùi Giáng tại nhà một thường dân ở Lâm Đồng. Bức ảnh thờ được Lâm Ngọc Duy chụp vào những năm 1980. Ảnh: Nguyễn Hàng Tình
Ôi, bộ dạng tả tơi triết học của ông! Rằng chúng ta xem ra “mắc bẫy” một bộ não, một nhân cách, một tâm hồn lớn, vượt thoát. Đừng tưởng cứ hét là điên/… Cứ sông là chảy cứ ao là tù / Đừng tưởng không nói là câm/ Không nghe là điếc, không trông là mù. Thấu hiểu trần gian mới yêu nó hết mình để đạt đến “dại khờ” được; không đòi hỏi nó hay khó chịu, hờn trách đời. Ông không cào cấu cuộc đời ai, nhưng tha nhân cứ cào cấu lựa chọn của ông, cuộc đời của ông. Ông như hiểu được những lòng người nông nổi kia cùng nhu cầu của họ nên mỉm cười, giúp họ được vui tràn với “cái mũ” đó: Điên là hạnh phúc thần tiên ở đời.
Chiều luôn, hết mức nè: Tôi xin chịu cuồng si để sáng suốt/ Tôi đui mù cho thỏa dạ yêu em. Bình tâm, tĩnh tại, thông minh, tài hoa và chơi ngon đến độ lấy ngay khái niệm/tính chất mà người ta bôi đen mình là “điên” để làm chất liệu sáng tác cho thật hay. Có ai trên đời điên mà lại thế không, hỡi Cao xanh?! Tại người, đâu phải tại ta/ Tại người như thế, thành ta điên rồ.
“Điên rực rỡ”!
Kẻ du mục trên thảo nguyên chữ nghĩa
Cuộc đời đẻ rộn rã ra thơ Bùi Giáng chứ không phải Bùi Giáng. Ông sống như thơ. Cốt cách ấy đã hóa thơ. Trong lúc sống, có viết thơ, để “du mục chữ”. Ông là nhà thơ của cõi đời, của tha nhân, của chính mình, không gia nhập hội văn, hội thơ, hội nghệ sĩ nào cả. Sống giữa cái đầm lầy kinh khiếp nhất là cuộc đời này nhưng ông không thuộc về cái đầm lầy đó. Một tinh thần sống đầy vui tươi, lạc quan, tiếu ngạo, nghịch ngợm, trong trẻo, và liêu trai.
*
Với thơ ca, ngôn ngữ, thi nhân này chơi rõ là một kẻ du mục trên thảo nguyên chữ nghĩa, ngôn từ, khi hứng cần thì vung rải chữ ra đồng hoang cỏ dại kia, không cố tình hay vật vã làm thơ như thiên hạ, trong khi thân thể thì cứ trên lưng lạc đà, ngựa đời đó. Nhẹ nhàng du mục qua phố xá người đời:
Cũng vô lý như lần kia dưới lá
Con chim đau bỏ lại nhánh khô cành
Đời đã mất tự bao giờ giữa dạ
Phẩm chất sống của Bùi Giáng đã tự nhiên gặp Phật pháp, đồng điệu với giá trị phổ quát đó. Nên như đã nói, không xuất gia nhưng Bùi Giáng thành hòa thượng một cách tự nhiên với thành tựu tu đạt đến đỉnh cao. Nhưng nên nhớ, với phẩm chất một trí thức lớn như Bùi Giáng, trong con người ông không chỉ có triết học Phật giáo, mà triết học Đức, Hy Lạp, Trung Đông, hay kiểu Mỹ cũng đầy trong “tuệ” và tâm hồn ông - tất cả được kết tinh nhuần nhuyễn và tự nhiên đến độ không còn phải phân cách, tách biệt làm chi nữa. Ở miền Nam, thời của ông hoăc sau chút nữa, nhiều người còn bởi thế mà gọi ông là “Bồ tát Thi sĩ”, “Bùi Tiên sinh”.
Vấn đề lớn nhất của chúng ta (con người) là không thấy vấn đề lõi của mình nằm ở đâu. Bùi Giáng thì khác, thấy được, và lựa chọn xả ly, bước qua tham - sân - si, và đã sống như thế, đạt đến như thế. Thi nhân này là một sự tỉnh táo triết lý và sự chủ động “điên rồ… thiên tài”.
Mình cát lạnh chân lạc đà bé bỏng
Bóng hình em tơi tả dưới trăng rằm
*
Nhiều thôn trang, thành phố miền Nam chắc chắn nhớ đến hình bóng của ông, nhất là Sài Gòn. Mọi thi phẩm, dịch phẩm, công trình nghiên cứu của Bùi Giáng đều luôn bán chạy, mọi thời, suốt bảy mươi năm nay, phải mua mới có để đọc. Bao vạn người mua sách của Bùi Giáng đọc là những người ở trạng thái “điên” sao?! Dễ gì con người quá tinh khôn của đời nay bỏ tiền ra mua sách ai. Em về mấy thế kỷ sau/ Nhìn trăng thấy có nguyên màu ấy không!
Đây đó trong nhân gian, cái con người tả tơi Bùi Giáng kia cũng giúp người ta “kiếm tiền”, cả đến khi sự tả tơi cũng không còn.
Huyền thoại của dân gian
Trên hết, Bùi Giáng là một con người của tự do. Luôn tìm cách để có tự do, kể cả quẫy đạp hay van nài, giữa một sinh thái tù túng, chật chội, nhỏ nhen. Nhưng trong bất cứ trái ngang, nghịch cảnh nào cũng là hiền nhân bi mẫn:
Con kiến bé cùng hoa hoang cỏ dại
Con vi trùng cùng sâu bọ cũng yêu luôn
Bùi Giáng không thể bì với bậc đại trí, đại tâm, diệu nhãn, đại bi mẫn, đạo hạnh, toàn giác được như đức Thích Ca Mâu Ni hay Jesus, nhưng cũng nằm trong quy luật về dạng người trên đời từ bỏ tham - sân - si, xả ly luyến ái, vật chất, mua sắm, hưởng thụ, hư vinh phàm phu… để hướng cuộc sống vận hành theo đường thiện lành, giải thoát đó. Ông tu ở riêng một góc trời. Như Bùi Giáng thì thiên nhiên được yên, thế gian được an toàn. Ai dám làm, và dễ gì đủ tuệ cùng bản lĩnh, trái tim ấm để hành. Bùi Giáng, một tráng sĩ Thi ca. Ở trong một phút lang thang/ Có hồn dâu bể đa đoan cơ trời. Phẩm chất, bản lĩnh và nghĩa khí tráng sĩ trong một thân thể sinh học gầy gò nhỏ bé. Qua ông, ta nhận ra sự dữ dội về thế giới bên trong con người, rằng vẻ đẹp của con người khác các loài động vật khác là ở chỗ nào.
Ngày sẽ hết tôi sẽ không ở lại/ Tôi sẽ đi và chẳng biết đi đâu/ Tôi sẽ tiếc thương trần gian mãi mãi/ Vì nơi đây tôi sống đủ vui sầu.
Nhiều người làm thơ trên đất nước này. Nhưng sự xuất hiện làm người ta kinh ngạc thì chỉ có Bùi Giáng.
Có lúc tôi giật mình chợt hỏi: Cái phố phường Sài Gòn, đô thị ông gắn bó sâu nặng nhất có “nhớ” Bùi Giáng không?
*
Bùi Giáng quá quan trọng với nền thi ca, văn chương Việt Nam hiện đại một cách tự nhiên. “Nghe qua” thôi, là biết thơ Bùi Giáng. Mùi thơ - khi thơ có mùi, hương, sắc.
Trong cái nền thi ca ngồn ngộn kia, vắng một ai đó bất kỳ cũng không sao, nhưng thiếu Bùi Giáng chắc là hóa một sự “trống” khiếp lắm. Thi ca của Bùi Giáng không thuộc về thời buổi nào, triều đại nào, nền văn hóa nào, lịch sử nào cả, mà nó thuộc về cõi người, trần gian. Cách hiện diện trên đời của Bùi Giáng phải phối trí nhìn ở trục tư tưởng và triết học chứ bằng trục sinh học tồn tại (hầu hết người đời là thế, đều tập trung cho sự này) là sai, bậy.
Dạng con người của dân gian hiện đại, ở miền đất Đông Nam Á.
Ông là huyền thoại đó. Hiển nhiên. Phải là một, duy nhất thì mới dùng đến từ “huyền thoại”. Chắc Bùi Giáng sẽ không tái sinh. Tôi không nói về thơ, tài làm thơ hay, giỏi, chất lượng thơ, giá trị nghệ thuật ngôn từ, hoặc độ “lớn” của thi phẩm vì chuyện ấy đã có Nguyễn Du làm với Truyện Kiều rồi. Tôi nói về phẩm chất thi nhân, cốt cách thi nhân, con người thi nhân, khi “thi nhân thật” với cuộc đời thật, sức sống, trần gian. Tôi nói về Thi sĩ, mà không nói về Nhà thơ, người có viết thơ, người đụng vào thơ, bởi họ thì đội hình đã phải đến số vạn ngàn.
Với Bùi Giáng, không phải nhiều chục trước tác, công trình dịch thuật, biên khảo, hay thi phẩm sáng tác kia của ông mà là cuộc đời ông để lại cho nhân gian - giá trị quý báu. Một cuộc đời lạ lùng, phi phàm, thần kỳ, độc đáo, thú vị. Một chủ động lựa chọn sống, lựa chọn sống đẹp, sống thiện, sống đơn sơ thuần khiết, sống tự nhiên trong trẻo, thân thể - tâm hồn thuần nhuận vào trời đất. Cái cuộc đời Bùi Giáng mới là một công trình nghệ thuật, tác phẩm nghệ thuật. Nghệ thuật sống. Bùi Giáng lấy thân thể - tuệ tri - tâm hồn mình ra để “viết” nên câu chuyện về một cuộc phiêu lưu, phiêu lưu làm người.
Cỏ hoa từ bỏ ruộng đồng/ Hồn du mục cũ xa dần hử em.
Thi sĩ rời đi.
Bỏ trăng gió lại cho đời/ Bỏ hình hài của tiên nga trên trời.
Từ đó tan vào hư vô…
Nguyễn Hàng Tình
_______________
(*) Những câu chữ in nghiêng là thơ Bùi Giáng.