Kinh tế thị trường, tiền và... chúng ta

 08:13 | Thứ tư, 01/02/2017  0
Sau 30.4.1975, đất nước thống nhất, không chỉ về chính trị và lãnh thổ, mà cả về kinh tế. Nhà nước sở hữu mọi tài nguyên và mọi tài sản quốc gia, độc quyền phân phối mọi sản phẩm của nền kinh tế theo những kế hoạch, tiêu chuẩn, chế độ. Mỗi người dân chỉ được sở hữu một số phương tiện sống theo cấp bậc, địa vị trong xã hội; ai giàu hơn, giàu trước người khác là phạm pháp, chí ít cũng bị coi là vi phạm đạo đức. Khi ấy, cửa hàng mậu dịch quan trọng hơn chợ. Hàng hóa bằng hiện vật, tem phiếu và các giấy tờ cấp phát có hiệu lực hơn tiền, vì có chúng là có tiền, trong khi đáng ra phải ngược lại.

Năm 1986, với chủ trương đổi mới của Đảng, Việt Nam mở cửa, chuyển sang kinh tế thị trường. Kinh tế tư nhân lớn mạnh, xuất nhập khẩu phát triển, hội nhập quốc tế sâu rộng. Việc cấp phát bằng tem phiếu bị bãi bỏ, hàng hóa đầy ắp và tự do lưu thông. Tiền trở lại chức năng nguyên thủy của nó. Sau 20 năm, tiền ngày nay đã có một vai trò, vị thế khác, chi phối toàn xã hội và bành trướng với cường độ ngày càng dữ dội...

Tiền và trí thức, văn nghệ, báo chí

Trong thư gửi anh em văn hóa, trí thức Nam bộ tháng 5.1947, Hồ Chí Minh đã coi các nhà văn hóa, trí thức là tầng lớp “tiên tri, tiên giác”, những chiến sĩ trong “sự nghiệp phò chính, trừ tà”.

Xứng đáng với sự đánh giá đó, từ những năm 1990, chưa đầy 10 năm đổi mới, một loạt văn nghệ sĩ, nhà báo tài năng và có lòng với dân, với nước đã liên tiếp cảnh báo về sự ảnh hưởng và chi phối của tiền trong xã hội. Lưu Quang Vũ với Hồn Trương Ba, da hàng thịt, Nguyễn Huy Thiệp với Tướng về hưu. Lê Lựu với Hai nhà. Chu Lai với Phố, Nguyễn Khải với Nếp nhà và nhiều người khác nữa.

Nhưng cũng chính các văn nghệ sĩ đã thấy trước đại họa của người cầm bút trong kinh tế thị trường. Nhà thơ Nguyễn Duy từng tâm sự trong bài thơ Bán vàng: “Tâm hồn ta là một khối vàng ròng. Đành đem bán bớt đi từng mảnh nhỏ. Mảnh này vì con, mảnh này vì vợ. Vì bạn bè và cha mẹ em ta”. Tiền có thể nuôi sống họ, thậm chí làm cho họ giàu có, nhưng cũng có thể nô dịch họ, sai khiến họ dùng ngòi bút “trừ chính, phò tà”, thay vì ngược lại. Thông tin về những nhà báo đưa tin không trung thực làm ảnh hưởng lợi ích cộng đồng, tống tiền doanh nghiệp dưới nhiều hình thức, và câu chuyện truyền thông về nước mắm mới đây là những ví dụ sinh động.

Tiền và doanh nhân

Kinh tế thị trường, có hay không “định hướng xã hội chủ nghĩa”, đều phải có những điều kiện bắt buộc: tư hữu về tư liệu sản xuất, tự do cạnh tranh, lợi nhuận và... các doanh nhân. Lợi nhuận, sự giàu có là động lực chủ đạo của kinh tế thị trường, của doanh nghiệp và tiền là phương tiện thực hiện.

Karl Marx, dẫn lời T.J. Dunning, một học giả người Anh, nói về nỗi khát khao lợi nhuận của tư bản: “Lợi nhuận mà chắc chắn được 10% thì tư bản hoạt động ở khắp nơi; chắc chắn được 20% thì nó hăng máu lên; chắc chắn được 50% thì nó táo bạo đến trơ tráo; chắc chắn được 100% thì nó chà đạp lên tất cả mọi luật lệ của loài người; với 300% thì nó chẳng từ một tội ác nào mà không dám phạm. Nếu bạo loạn và xung đột mà đem lại lợi nhuận, tư bản sẽ thúc đẩy cả hai”.

Chắc chắn chưa từng đọc Marx, bà cô trong Nếp nhà của Nguyễn Khải 20 năm trước đã nói những lời thấu thị: “Suốt mấy chục năm anh dạy các con anh khinh miệt đồng tiền, lên án tư hữu và những người giàu có đều là phần tử bất hảo. Bây giờ các con anh đều lao vào kiếm tiền, đều nuôi mộng làm triệu phú tỷ phú trong chớp mắt. Khốn một nỗi chúng lại chưa từng được ai dạy bảo cái cách ăn ở với đồng tiền. Đồng tiền vừa là đày tớ vừa là ông chủ, vừa là bạn đường vừa là giặc cướp, các con anh biết chọn cách nào? Chúng chỉ biết lựa chọn theo trực giác, theo kinh nghiệm tức thì, theo lợi ích trước mắt”.

Khi Vedan xả chất thải không xử lý ra sông Thị Vải trong mười năm, nó tàn phá một dòng sông và cuộc mưu sinh của hàng ngàn dân ven bờ của bốn tỉnh thành. Người dân phẫn nộ, chính quyền nhập cuộc, xã hội trợ giúp, Vedan buộc phải bồi thường, nhưng không ai biết sông Thị Vải còn có thể trở lại hiền hòa như trước? Gần mười năm sau, Formosa tàn phá cả một vùng biển dài hơn 200 cây số, rộng hàng chục hải lý của bốn tỉnh miền Trung, làm hàng triệu dân điêu đứng. Formosa đã xin lỗi và bồi thường, nhưng chừng nào vùng biển này trở lại sạch, xanh và giàu cá tôm như trước, để những người dân hiền hòa tiếp tục ra khơi đánh bắt, những làng xóm hiền hòa lại hồ hởi đón tiếp những dòng khách du lịch phương xa? Thực ra, đã có bao nhiêu cái gọi là “sự cố môi trường” kiểu như Vedan và Formosa chưa bị phát hiện, hay phát hiện nhưng chưa công bố, hay thậm chí đã công bố nhưng bị “chìm xuồng”? Và liệu vài năm tới đây, sẽ còn những “sự cố môi trường” kiểu như thế xảy ra?

Ô nhiễm không khí, nguồn nước; tàn phá rừng và hủy hoại sinh thái; hút cát vô tội vạ làm sạt lở các dòng sông; tắc đường, ngập nước ở nhiều đô thị lớn. Thực phẩm độc hại bán khắp nơi mà người tiêu dùng không có phương tiện phòng tránh. Đã có những con số thống kê nào cho biết, để có GDP bình quân đầu người 2.228 USD năm 2015, cái giá phải trả bằng tài nguyên, thiên nhiên, môi trường và sức khỏe con người là bao nhiêu trong 20 năm qua, chưa kể núi nợ công chia đều cho mỗi người dân là 1.384 USD, cùng với sự suy thoái về văn hóa, đạo đức?

Tiền và quan chức

Sau 20 năm kinh tế thị trường, bất chấp những nỗ lực “định hướng xã hội chủ nghĩa”, tiền đã trở thành sức mạnh tài sản khổng lồ của một bộ phận doanh nhân và những quan chức “cánh hẩu” của họ. Nó giống như những đám yêu tinh thoát khỏi bình hồ lô của tiên Phật. Nó muốn thống trị xã hội, và để làm được điều đó, nó tìm mọi cách chi phối quyền lực, tham gia quyền lực, trở thành quyền lực, bằng mọi thứ “chạy”: chạy bằng cấp, chạy chế độ, chạy luân chuyển, chạy chức, chạy quyền, chạy bầu cử, chạy...!

Hai mươi năm trước, thậm chí chỉ 10 năm trước đây, người ta còn thấy những quan chức từ nhiệm, ra dân, mở doanh nghiệp tư nhân để lo cho gia đình, làm giàu bằng sức lực và trí tuệ của mình. Mười năm trở lại đây, người ta lại thấy điều ngược lại: doanh nhân tham gia chính trường. Có người trở thành đại biểu dân cử, mất nhiều thì giờ tham dự các kỳ họp, nhưng suốt nhiệm kỳ năm năm không làm gì và không nói gì; vậy mà lại thấy họ ứng cử tiếp cho nhiệm kỳ tới, rồi nhiệm kỳ tới nữa. Có người luân chuyển như con thoi chỉ trong vài năm: đang quản lý doanh nghiệp của một tập đoàn kinh tế, gây thua lỗ nặng thì được bổ nhiệm vào một ghế lãnh đạo ở một bộ, rồi được một chính quyền cấp tỉnh “khẩn thiết” xin về làm lãnh đạo và ứng cử Quốc hội ở đó, trong khi cái bộ đã cho mình ra đi vẫn quy hoạch mình làm thứ trưởng. Từ trung ương về địa phương rồi lại về trung ương, từ Bắc vào Nam rồi lại ra Bắc. Thoăn thoắt. Lúc đi xe bảng trắng, lúc khác lại bảng xanh!

Sự móc ngoặc, câu kết, liên minh giữa các doanh nghiệp hay các tập đoàn kinh tế, tài chính với các quan chức nhà nước thực ra là một hiện tượng có từ lâu ở nhiều quốc gia theo kinh tế thị trường. Tên gọi của nó là chủ nghĩa tư bản cánh hẩu (crony capitalism). Thủ phạm của nó là những nhóm tìm kiếm đặc quyền, đặc lợi (rent-seeking) bằng cách xây dựng quan hệ cánh hẩu với một hoặc một số nhóm quyền lực nhà nước nào đó, phục vụ cho lợi ích bất chính hay bất hợp pháp của nhau. Chừng nào những mối liên kết ấy được thiết kế và hoạt động khôn khéo trong khuôn khổ pháp luật thì nó hợp pháp; nếu vượt ra ngoài hoặc tránh né, hoặc trái luật thì nó sẽ bị hạn chế, ngăn chặn hay trừng trị để bảo đảm công bằng và lành mạnh trong cạnh tranh, trong phân phối nguồn lực xã hội và các cơ hội tạo ra lợi nhuận.

Khi một quốc gia bị “tư bản cánh hẩu” chi phối, doanh nghiệp không còn khả năng cạnh tranh tự do và công bằng như một điều kiện bắt buộc của kinh tế thị trường lành mạnh. Khi đó, sẽ xuất hiện những doanh nhân có thế lực không kém những “ông lớn” nhà nước, và những quan chức giàu có không thua những doanh nhân “cỡ bự”. Khi đó, luật pháp, tư pháp sẽ bị làm cho im tiếng, hoặc bị bẻ cong, hoặc cả hai. Và khi ấy, chỉ có một thiểu số ít ỏi làm giàu và ngày càng giàu thêm trên đầu những công dân còn lại của xã hội. Người lao động, người tiêu dùng thấp cổ bé họng ngày càng bị chèn ép, xâm hại; tài sản, lợi ích công bị xâu xé, thâm lạm. Chủ quyền quốc gia, truyền thống dân tộc, tình nghĩa đồng bào, dân chủ, công bằng, văn minh không còn ý nghĩa gì với những nhóm đặc quyền, đặc lợi ấy, bởi vì mục đích tối thượng của họ là tối đa hóa lợi nhuận bằng mọi phương cách, bất chấp luật pháp nếu cần. Như nhân vật bà cô trong truyện Nếp nhà của Nguyễn Khải nói: “Những đứa giàu lên do cướp đoạt, lừa đảo, nói chuyện một lúc là biết. Bọn họ khinh người rẻ của lắm. Họ không tin một ai cả, càng không tin còn có lòng tốt ở đời. Họ chỉ tin có tiền. Tiền là quân của họ”.

Tiền và chúng ta

Tiền, hay sự giàu có, có mua được hạnh phúc? Câu hỏi này “xưa như Trái đất”, ít nhất cũng từ khi loài người làm ra và biết xài tiền. Nữ tác giả Jean Chatzky viết trên tạp chí Forbes ngày 22.4.2016: “Chúng ta không có câu trả lời chính xác cho những câu hỏi như vậy. Tuy nhiên, chúng ta có thể biết một điều là: cái cách chúng ta xài tiền có thể tác động mạnh mẽ đến hạnh phúc của chúng ta”.

Thực ra, cái chúng ta tìm kiếm là tiền hay hạnh phúc, tức là sự hài lòng, thỏa mãn? Nếu đặt câu hỏi như vậy, chắc đa số sẽ trả lời: chúng ta tìm kiếm hạnh phúc. Phải chăng đó cũng là lý do Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ và của Việt Nam đều viết tương tự nhau: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Khoa học đã khảo sát và nhận thấy, khi thiếu tiền thì người ta bất hạnh, và cảm thấy hạnh phúc sau khi giàu có, nhưng kể từ đó, tiền không đem lại hạnh phúc như trước. Chưa kể, có những người giàu, nhưng chưa chắc hạnh phúc vì luôn phải vất vả để duy trì sự giàu có, nếu không, nó sẽ suy giảm và dần dần biến mất. Có những người giàu, nhưng không hạnh phúc vì gia đình ly tán, con cái hư hỏng, bản thân vào tù, hoặc mắc nợ không trả nổi. Có những người giàu, nhưng vẫn không hạnh phúc vì đã hoặc đang làm điều xấu, điều ác, điều dối trá để có sự giàu có ấy.

X. là một quan chức về hưu, con nhà cách mạng nòi, vừa trở về nước sau mấy tháng cư trú để có được thẻ xanh ở một quốc gia phát triển. Từ mười năm trước, anh đã chuẩn bị cho con cháu mình học hành và lập nghiệp ở quốc gia ấy. Anh kể về làn sóng di dân mới của những đồng bào thuộc tầng lớp trung lưu, thậm chí là những doanh nhân đang thành đạt trong nước. Họ mang đi vợ con, sản nghiệp, tài năng và kinh nghiệm làm ăn của mình, cùng một nỗi niềm hoài hương đầy day dứt. Họ có tiền, rất nhiều tiền, nhưng họ không mua được ở đây không khí sạch để thở, không gian xanh và yên tĩnh để thư giãn sau một ngày làm việc. Họ không biết thực phẩm họ ăn, nước họ uống hàng ngày có độc hại không. Họ sợ tai nạn giao thông. Họ sợ bị hành hung, bị xâm hại, bị lừa đảo, bị cướp mà không tin chắc được pháp luật bảo vệ kịp thời, và liệu thần công lý sẽ ngự trị khi họ phải “vô phúc đáo tụng đình”. Và nhất là, họ lo cho con cháu mình, muốn cho chúng được hưởng một nền giáo dục, văn hóa và y tế tiên tiến. Vì, với người Việt Nam, cháu con chính là hạnh phúc cao nhất của ông bà, cha mẹ. Khi họ đã lao động vất vả nhiều thập kỷ để kiếm tiền và có nhiều tiền, làm sao có thể cấm họ “mưu cầu hạnh phúc”?

Năm 1986, đất nước khủng hoảng nghiêm trọng. Đảng tiến hành Đổi mới, chuyển sang kinh tế thị trường là sáng suốt. Kinh tế thị trường tự nó là phương thức phát triển hợp quy luật của thời hiện đại và được đại đa số các quốc gia lựa chọn. Nhưng kinh tế thị trường như con ngựa chứng, thuần phục được thì nó chở ta đi xa, không nắm vững dây cương thì nó sẽ gây tai họa.

Để lợi nhuận, và cùng với nó là tiền, là tài sản, như một thứ nhiên liệu của động cơ đốt trong, tạo ra động lực kéo con tàu kinh tế đi về cái đích “giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”, nhưng không bùng phát vượt ngoài vòng kiểm soát, xã hội loài người phải cần đến nhiều liệu pháp, như văn hóa, giáo dục, đạo đức, tôn giáo, nhưng quan trọng nhất vẫn là luật pháp trong một nhà nước thực sự dân chủ và pháp quyền.

Tiền, chỉ tiền thôi, không mua được hạnh phúc. Có tiền, dù chỉ đủ sống thôi, nhưng vẫn có hạnh phúc nếu được sống trong một đất nước tử tế. Một đất nước mà dân chủ, tự do, an toàn và công lý được bảo đảm cho mọi công dân, doanh nhân được tạo điều kiện làm giàu hợp pháp, người lương thiện được pháp luật bảo vệ, người nghèo và yếu thế được quan tâm chăm sóc, tạo cơ hội vươn lên; một đất nước chưa phát triển cao, nhưng con người sống với nhau có văn hóa và nhân ái. Là công dân, chúng ta có quyền đòi hỏi, cũng có trách nhiệm xây dựng một nước Việt Nam tử tế như vậy. Khi ấy, sẽ không còn nhiều người Việt Nam muốn ly hương, mà những người tha hương cũng sẽ tìm về nơi chôn nhau, cắt rún, để được sưởi ấm bởi tình đất nước, nghĩa đồng bào, những thứ mà dù có nhiều tiền, họ cũng không mua được ở nơi khác.


Năm 1986, Việt Nam tiến hành đổi mới, chuyển sang kinh tế thị trường, đồng thời mở cửa, hội nhập quốc tế: gia nhập khối ASEAN năm 1995, trở thành thành viên thứ 150 của WTO năm 2007. Sau 20 năm, thu nhập bình quân đầu người tăng gần gấp 10 lần; kim ngạch xuất khẩu năm 2015 đạt 162,4 tỷ USD, tăng 31 lần; tính đến 2015, Việt Nam đã thu hút trên 21.000 dự án đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI), với tổng số vốn đăng ký gần 300 tỷ USD, đã thực hiện khoảng 146 tỷ USD; đặt quan hệ ngoại giao với 185 nước, quan hệ kinh tế với hơn 220 quốc gia và vùng lãnh thổ. 

Tuy nhiên, cùng với thành tựu, Việt Nam cũng đang gánh chịu nhiều hệ lụy và thách thức nghiêm trọng. “Hiện nay, Việt Nam đứng thứ 14 trên thế giới về dân số nhưng quy mô nền kinh tế chỉ đứng thứ 48 và GDP đầu người xếp thứ 133. Chúng ta phải cố gắng rất nhiều để rút ngắn khoảng cách với thế giới. Phát triển tốc độ cao hơn còn là yêu cầu cấp bách để đối phó với nguy cơ “chưa giàu đã già”, khi giai đoạn dân số vàng sẽ chấm dứt trong khoảng 10 năm tới. Nợ công cao, áp lực trả nợ lớn; xử lý nợ xấu chưa thực chất; dư địa chính sách và nguồn lực cho phát triển giai đoạn tới rất hạn hẹp” (trích phát biểu nhậm chức ngày 26.7.2016 của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc).


Trương Trọng Nghĩa - Luật sư, Đại biểu Quốc hội Khóa XIII, XIV, Ủy viên Ủy ban Tư pháp của Quốc hội

bài viết liên quan
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm
Cùng chuyên mục
Xem nhiều nhất

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.