Và Sài Gòn – Paris Viễn Đông đã được thực hiện với mục đích đó. Đây là cuốn sách tập hợp ghi chép của những tác giả trong và ngoài nước về vùng đất này từ đầu thế kỷ 19 đến thời Pháp tới chiếm đóng. Gồm 10 chương sách là các bài viết của những con người đã đến nơi đây với mục đích khác nhau, ở thời điểm khác nhau, nhưng tựu trung đều cho thấy một cái nhìn đa dạng về thành phố này qua các thời kỳ.
Họ là những thương nhân, học giả, bác sĩ, nhà báo cũng như quân nhân nước ngoài. Sự quan tâm của họ cũng không dừng lại ở các sự kiện lịch sử quan trọng như cuộc xâm lược của Pháp vào thành Gia Định mà còn là những nghiên cứu dân tộc học, xã hội học thú vị về đời sống thường ngày của người An Nam, từ những phiên chợ tấp nập, những con phố đầy tiếng rao cho đến hệ thống kênh rạch chằng chịt và các công trình đã giúp Sài Gòn trở thành "hòn ngọc Viễn Đông"…
Sài Gòn – Paris Viễn Đông do NXB Trẻ ấn hành, Nguyễn Quang Diệu và Thanh Thư sưu tầm, biên soạn, bổ sung. Ảnh: NXB Trẻ.
Sài Gòn trước và trong sự kiện thành Gia Định bị Pháp tấn công
Sớm nhất trong cuốn sách này phải kể đến chuỗi 3 bài viết của các tác giả đã đặt chân đến đây trước và trong sự kiện tấn công thành Gia Định, mở đường cho cuộc chiếm đóng Nam Kỳ của quân đội thực dân. Trong đó, thương nhân người Mỹ John White đã đến Sài Gòn trong giai đoạn 1819-1820 và kể lại rất chi tiết trong cuốn du ký A Voyage to Cochin China (Một chuyến du hành đến Nam kỳ) điều mình nhìn thấy về thành Gia Định do vua Gia Long cho xây dựng.
Với cách miêu tả chi tiết, công trình này đã hiện lên một cách sắc nét không chỉ về quy mô, các lớp tường thành kiên cố với vọng lâu và cầu gỗ bắc qua hào nước sâu... mà còn là một hệ thống quan lại được tổ chức chặt chẽ với viên tổng trấn đứng đầu. Đây có thể xem như một tư liệu thú vị về công trình gắn liền với nhiều biến cố lịch sử này.
Vốn là thương nhân, White cũng đề cập đến một “nghi thức” thú vị là lễ đo tàu – bữa tiệc thiết đãi các quan đến thăm để được cấp phép hoạt động - cũng như cuộc gặp với quan tổng trấn để nộp tiền “trà nước”. Từ đó gián tiếp cho thấy cuộc sống bên trong tòa thành và những quy tắc giao thiệp thú vị.
Bờ sông Sài Gòn. Ảnh: E.Cortambert – Leon de Rosny
Sau White, Jules Silvestre - Giáo sư Trường Khoa học Chính trị Paris cũng tập hợp các bài viết được đăng nhiều kỳ trên tờ công báo Courrier de Saigon (Tây Cống nhựt báo) vào năm 1875-1876 nhằm “khai sáng” cho Tổng tư lệnh Lực lượng Viễn chinh Pháp tại Nam kỳ lúc bấy giờ.
Theo người biên soạn, không rõ tác giả cụ thể của những bài viết này là ai, nhưng khi đọc kỹ nội dung, có thể biết được họ là những người rời nước Pháp vào thập niên 1830 và sinh sống với người An Nam trong hơn 15 năm để tìm hiểu văn hóa, tập tính, lối sống, tính cách... trước khi chính thức xác lập vị thế tại vùng đất này.
Tuy vậy chỉ có 5 chương xoay quanh địa lý, đất đai, khí hậu, sản vật, nhân chủng học, kiến thức, kỹ nghệ và hoạt động tiêu khiển của người An Nam là được đề cập. Vì vậy Silvestre đã bổ sung để tìm hiểu lịch sử Sài Gòn trước thời Pháp đến.
Liên quân Pháp - Tây Ban Nha tấn công thành Gia Định ngày 17.2.1850. Tranh khắc theo phác thảo của L.Roux
Một chủ điểm cũng đặc biệt khác là chương ghi lại quá trình thực dân Pháp đánh chiếm Sài Gòn của bác sĩ A. Benoist de la Grandière. Đây có thể xem như tác phẩm song hành với Ba ngày chiến trận ở xứ An Nam của Pierre Loti viết về những bước chân đầu tiên ở Tourane nhưng có bối cảnh là Sài Gòn.
Với óc quan sát chi tiết, Grandière đã viết vô cùng kỹ càng về cuộc tấn công thành Gia Định ngày 17.2.1859 của liên quân Pháp và Tây Ban Nha. Qua đó rất nhiều chi tiết sống động đã được khắc họa, từ hành trình “không mấy chống cự” của quân An Nam khi đoàn thuyền xuôi dòng từ cap Saint-Jacques đến Sài Gòn, sự “giàu có” được tìm thấy của thành Gia Định sau khi thất thủ cũng như sự bất tuân của quân Tagalog (Philippines) hay nỗ lực của phía An Nam cố gắng đốt cháy những gì còn lại của công trình này...
Sài Gòn đa dạng
Song song với việc tái hiện khoảng thời gian trước khi Pháp chiếm Sài Gòn, cuốn sách còn cho thấy những nhãn quan độc đáo về con người và đô thị này. Với thương nhân John White, ông có góc nhìn tương đối dĩ Âu vi trung, mang nặng định kiến khi nói về sự tò mò và tính biển lận, tham lam của giới “con buôn An Nam” khi liên tục tăng giá các mặt hàng mà người châu Âu muốn mua. Tuy vậy chính ông cùng bầu đoàn của mình cũng làm một việc không mấy minh bạch, khi tráo rượu đế vào rượu Âu châu để mời các quan trong lễ đo tàu (!?).
Đường Catinat ở Sài Gòn. Tranh: Slom, khắc bởi Devos
Khác với John White, nhiều cây viết khác lại có cái nhìn cởi mở và công bằng hơn. Chẳng hạn bác sĩ Grandière ghi nhận “giáo dục được truyền bá trong tầng lớp hạ lưu ở đây còn mạnh mẽ hơn cả ở các xứ phát triển nhất bên châu Âu”. Ông miêu tả: “Trong những ngôi nhà nghèo nàn nhất cũng có sách vở, vì vậy không thể nói người An Nam không có học thức”.
Song song đó, bác sĩ Albert Morice cũng cho biết thêm: “Ở Sài Gòn, một tờ báo bản xứ là Gia Định báo sử dụng chữ quốc ngữ và có lẽ không một đứa trẻ lên 10 nào lại không biết đọc rành rọt. Nếu ta làm một cuộc cách mạng tương tự ở Trung Hoa thì có lẽ đã vực dậy được đế chế khổng lồ khỏi cơn ngủ mê trong quá khứ cả trăm năm”.
Ông cũng cho rằng “đây là một chủng tộc có thể đạt tới sự hoàn thiện, dù họ còn thiếu nhiều thứ như khiếu thẩm mỹ chẳng hạn. Nhưng trong vài bức tranh tường, ta vẫn thấy có một khiếu thẩm mỹ đáng nể, nơi thiên nhiên tươi vui và sống động hoa lá, chim muông, côn trùng được tái hiện bằng tình yêu”. Grandière cũng chia sẻ người Sài Gòn cư xử ôn hòa tương tự như cách Pierre Barrelon nhận định: “Ta chỉ có thể chinh phục tâm trí họ nếu bình tĩnh và thầm lặng như họ”.
Bữa ăn chung của người châu Âu. Tranh khắc: Bazin
Đầu thập niên 1870, bác sĩ Albert Morice đến Nam Kỳ và cũng ấn tượng với hai điều: cái nóng kinh hoàng và khả năng chèo thuyền của người An Nam. Ông tả rất chi tiết về chiếc mũ salaco giúp tránh nắng và hàng quạt kéo (panka) do người bản địa đứng ngoài căn phòng liên tục kéo và thả qua hệ thống dây thừng và ròng rọc ở khách sạn Continental để làm mát mẻ cho người da trắng.
Người An Nam cũng được nhận diện là không quá cao, nhưng như Gabrielle M.Vassal – phu nhân của bác sĩ Vassal đến lãnh nhiệm vụ tại Viện Pasteur (Nha Trang): “Dù nhỏ bé nhưng họ điều khiển mái chèo nặng rất duyên dáng và khéo léo, trông dáng điệu nhịp nhàng của họ dễ chịu làm sao”.
Sài Gòn với các công trình độc đáo cũng được hiện ra. Trong đó Vassal và nhà báo Jasper Whitting có việc ghé qua đều nhìn nhận Sài Gòn như một “bản sao” của chính Paris khi được thiết kế theo một sơ đồ nghệ thuật cùng những kiệt tác kiến trúc được đặt ở vị trí tuyệt đẹp, từ đó tạo nên những khung cảnh tráng lệ. Để rồi càng rời xa vùng trung tâm, các cù lao nhỏ, những vùng tiệm cận như Biên Hòa, Đồng Tháp Mười, Thủ Đức... cũng thành “trường săn” cho người mới đến và được nhiều tác giả như Robert Chauvelot, Barrelon... ghi chép lại.
Sắc dân đa dạng cũng được nhắc đến. Trong đó người Hoa chiếm lĩnh cả vùng Chợ Lớn được bác sĩ Grandière và nhiều người khác nhận định là khá “mưu chước” trong kinh doanh và so sánh họ với những “người Do Thái” tằn tiện chắt bóp cho tới khi tự chủ về mặt tài chính, nhưng rồi sau đó lại chìm đắm trong những thú vui tốn kém như một vở hát kéo dài lên đến... 10 tiếng. Trong khi Albert Morice cũng nhắc đến người Ấn với nước da đen hoặc màu đồng cùng dáng người to lớn…
Thương nhân người Hoa ở Sài Gòn. Tranh: P.Eritel
Không chỉ nói về riêng người An Nam, Pierre Barrelon còn cho thấy cuộc sống của người ngoại quốc tại đây, từ việc tìm nơi ăn chốn ở dễ dàng ra sao với những giao kèo thuê nhà không cần hợp đồng, trong khi nội thất thì có thể mua tại một tiệm buôn đã đấu giá nhiều đồ vật của những người rời đi trước đó. Ông cũng nhắc về khả năng cập nhật thời trang của phụ nữ da trắng, những “bữa ăn chung” – nơi họ tụ họp để đỡ nhớ nhà và mối quan hệ căng thẳng giữa các viên chức với giới quân nhân…
Có thể nói qua Sài Gòn – Paris Viễn Đông, độc giả đã có cái nhìn đa chiều về lịch sử và văn hóa của vùng đất này với nhiều chủ đề đa dạng và rất phong phú. Tác phẩm không chỉ đóng góp cách tiếp cận vi lịch sử thú vị mà quan trọng hơn còn làm hiện lên một Sài Gòn qua góc nhìn của người nước ngoài có khi đầy ắp định kiến thế nhưng đôi khi lại rất công bằng.
Minh Anh