Thương về năm cửa ô xưa

 13:48 | Thứ ba, 28/05/2019  0
Có nhiều đô thị ở nước ta có thành quách, thậm chí cũng có vòng la thành với các cổng vào, nhưng chỉ Hà Nội mới gọi là cửa ô.

Tôi đứng bên này vĩ tuyến
Thương về năm cửa ô xưa
Quan Chưởng đêm tàn dẫn lối
Đê cao hun hút chợ Dừa
Cầu Dền mưa dầm lầy lội
Gió về đã buốt lòng chưa?
Yên Phụ đôi bờ sóng vỗ
Nhị Hà lấp lánh sao thưa
Cầu Giấy đường hoa phượng vĩ
Nhớ nhung biết mấy cho vừa…

(Tạ Tỵ - 1955)

Theo các ghi chép, khi người Pháp bắt đầu xây dựng thành phố Hà Nội, họ đã nhiều lần nhắc đến bức lũy Đại La xây năm 1749 để xác định làm giới hạn quy ước của đô thị Hà Nội. Lá thư của Thống sứ Bắc Kỳ gửi Đốc lý Hà Nội ngày 30-12-1889 đã nhấn mạnh: “Bức lũy cũ phải được coi như giới hạn của thành phố”.

Dãy lũy đất xen kẽ xây gạch này tương ứng với đường vành I ngày nay – chúng cũng là những con đê cao hơn phố xung quanh, nhưng nay đã bị bạt đi khá nhiều: Trần Khát Chân, Đại Cồ Việt, La Thành, Giảng Võ, Ngọc Hà, Hoàng Hoa Thám… tổng cộng dài 16km. Các cửa ô qua dãy lũy này đã có một vai trò quan trọng để các nhà quy hoạch xác định hướng giao thông chính và vùng dân cư, đồng thời chúng trở thành nét đặc trưng còn lại của Hà Nội thời trước khi người Pháp chiếm đóng.

Thiết kế cửa ô thể hiện trên bản đồ Hà Nội 1885


Đặc trưng riêng của Hà Nội

Có nhiều đô thị ở nước ta có thành quách, thậm chí cũng có vòng la thành với các cổng vào, nhưng chỉ Hà Nội mới gọi là cửa ô.

Trong Đại Việt Sử ký toàn thư, lần ghi nhận về các cửa ô sớm nhất là năm 1308, khi Trần Anh Tông trị tội "những kẻ đại nghịch": "Mùa đông, tháng 11, trị tội những kẻ đại nghịch là bọn tên Hân. Tên Hân bị chém ở cầu Giang Khẩu, tên Trù ở cửa thành chợ Dừa, tên Tổng ở cửa thành Tây Dương, tên Dung ở cửa thành Vạn Xuân".

Cửa thành chợ Dừa tức Ô Chợ Dừa, cửa thành Tây Dương tức Ô Cầu Giấy, cửa thành Vạn Xuân tức Ô Đống Mác. Tuy nhiên, dường như tên gọi “cửa ô” mới chỉ được dùng từ sau khi chúa Trịnh Doanh đắp lại vòng tường thành dài 16km năm 1749, trên cơ sở bức tường lũy thời Mạc. Một số văn bản chữ Hán đã dùng từ “ổ môn” (塢門) để gọi các cửa ô, với chữ “ổ” nghĩa là lũy, ụ. Trong Hoàng Lê nhất thống chí, từ này đã được dùng khi thuật việc Trịnh Khải thua trận trước Nguyễn Huệ năm Bính Ngọ 1786, chạy khỏi kinh thành qua ngả “cửa ô Yên Hoa mà đi”.

Các văn bản địa chí chính thức nói đến cửa ô như Bắc thành dư địa chí do tổng trấn Lê Chất tổ chức biên soạn dưới thời Minh Mạng. Sau đó, các cuốn Hà Nội địa dư (Dương Bá Cung, 1851, soạn theo sắc chỉ của Tự Đức), Phương Đình dư địa chí loại (Nguyễn Văn Siêu và Bùi Ngọc Quỹ, 1882, khắc in năm 1900), Thăng Long cổ tích khảo tịnh hội đồ (Đặng Xuân Khanh biên soạn, EFEO 1956) đều xác định có 21 cửa ô: “Đến năm Kỉ Tỵ [1749] đời Cảnh Hưng, cho rằng Kinh sư vốn là vùng đất căn bản, bá quan lục quân đều đóng ở đấy, thế mà bốn phía hở thông thống chẳng có thành lũy gì che chắn, bèn lệnh cho dân ở các huyện ven kinh kỳ khởi công đắp thành, mở ra 8 cổng và các cửa ô tả hữu rồi chia quân lính tới túc trực canh giữ. Ngày nay thành ấy còn lại di chỉ dài 7762 tầm, với 21 cửa ô”.

Về hình thức các cửa ô, cơ bản có hai loại: loại có cửa vòm và lầu gác bên trên (có thể xây thành lối tam quan như Ô Quan Chưởng), và loại chỉ có hai trụ biểu cùng hai cánh cổng gỗ mở vào.

Theo các bản đồ các năm 1873, 1885, các cửa ô được diễn họa khá chi tiết hình thức của chúng. Một số bức ký họa hay ảnh chụp đã kịp ghi lại cho ta hình dung được quy mô thực của các cửa ô. Tất nhiên bằng chứng xác đáng nhất còn lại ngày nay là di tích Ô Quan Chưởng với biển đề chữ Hán “Đông Hà môn”. Cửa ô này được xây năm 1817 trên nền đình Thanh Hà được di dời.

Sơ đồ thành ngoài (Đại La) của tỉnh thành Hà Nội năm 1831 trên cơ sở bản vẽ của Trần Huy Bá với các cửa ô. Các cửa ô tập trung nhiều ở mặt sông Hồng do kiêm chức năng cửa khẩu buôn bán


Từ 21 cửa ô, còn lại bao nhiêu?    

Mặc dù các văn bản nêu trên đều nói có 21 cửa ô, nhưng thực tế thống kê tổng hợp từ các nguồn khác cũng như các bản đồ, xác định được 18 cửa ô và vị trí của 17 cái.

Trên bản đồ tỉnh thành Hà Nội 1831 có tên Hoài Đức phủ toàn đồ do Lê Đức Lộc và Nguyễn Công Tiến vẽ được công bố gần đây, từng được Trần Huy Bá vẽ lại và chú giải bằng quốc ngữ năm 1956, thì gồm 16 cửa ô.

Theo một cuốn sách khác, Thăng Long cổ tích khảo, lưu tại Viện Hán Nôm, thì có thêm hai cửa ô nữa là Trung Liệt (Ông Tượng) và Nhân Hòa (Hàng Dê). Từ bản đồ 1866 đời Tự Đức thì chỉ còn 15 cửa ô, con số này lặp lại trên bản đồ Hà Nội 1885 do người Pháp lập năm 1902, và được ghi chú chữ quốc ngữ.

Cũng năm này, tấm bản đồ do Phạm Đình Bách vẽ lại hiện trạng năm 1873 có danh sách 15 cửa ô bằng song ngữ và đánh số. Năm 1890, tấm bản đồ bằng tiếng Pháp còn đánh dấu một số cửa ô sót lại như Porte Mandarine (Ô Đồng Lầm), Porte du Roi (Ô Chợ Dừa), Porte de Sontay (Ô Cầu Giấy), Porte de Hué (Ô Cầu Dền). Cùng với Ô Quan Chưởng, có lẽ đây là số ít những địa danh có chữ “Ô” còn được dùng ngày nay.

Việc các cửa ô đổi tên nhiều lần, nhà nghiên cứu Nguyễn Vinh Phúc lý giải là do chính các làng có cửa ô đã bị đổi tên. Do hay thay đổi sinh ra khó nhớ, dễ lẫn nên người dân thường gọi bằng các tên nôm như Ô Hàng Đậu, Ô Quan Chưởng, Ô Cầu Dền, Ô Đống Mác… và thực tế cũng là những cái tên còn lại lâu dài về sau.

Trong cuốn Hà Nội 1873-1888 (Hanoi pendant la periode heroique), André Masson đã tập hợp các nguồn lưu trữ để chỉ ra bức thành này có 16 cửa ô. “Điểm làm Hà Nội 1873 khác với Hà Nội hiện nay (1929) trước hết là ở những công trình bảo vệ của nó. Đó là những tường vây hoặc các cổng chia cắt nhỏ các phố ra. Khu buôn bán được bảo vệ bằng nhiều cổng, trong đó hiện nay chỉ còn cổng Jean Dupuis (tức cửa Ô Quan Chưởng). Cổng này có nguy cơ bị phá vào năm 1906 nhưng may mắn được trường Viễn Đông Bác Cổ cứu thoát. Theo ghi chép, cổng được xây dựng năm 1749 để phòng thủ kinh thành ở mặt sông Hồng trước sự nổi dậy của Nguyễn Hữu Cầu”. Ở tường phía trái cửa chính có gắn tấm bia do tổng đốc Hà-Ninh Hoàng Diệu cho khắc, đề năm Tự Đức thứ 34 (1881) cấm lính gác sách nhiễu người qua lại, có tên là “Thân cấm khử tệ”.

So sánh các bản đồ, có thể xác định ra một số điểm dễ gây nhầm lẫn, ví dụ ô Cầu Giấy không nằm ở chỗ Cầu Giấy bắc qua sông Tô Lịch hiện nay mà ở phố Thanh Bảo, gần đầu phố Nguyễn Thái Học và chợ Ngọc Hà, do đó cũng manh tên ô Thanh Bảo hay Vạn Bảo.

Nguyễn Trương Quý

bài viết liên quan
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm
bài viết cùng chuyên mục
Xem nhiều nhất

Đọc tin nhanh

#phát triển bền vững
*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.