LTS: Tiếp nối bài viết "Không gian Hồ Gươm – bản sắc của một ‘nơi chốn’ không thể thay thế", trong đó tập trung phân tích từ góc độ thiết kế đô thị để nhận diện và khẳng định những giá trị tổng thể, độc đáo và không thể thay thế của không gian Hồ Gươm, PGS-TS-KTS. Phạm Thúy Loan tiếp tục gửi tới Người Đô Thị bài phản biện thứ hai về Đồ án Điều chỉnh Quy hoạch khu vực hồ Hoàn Kiếm (Hồ Gươm) và phụ cận đang được TP. Hà Nội lấy ý kiến nhân dân từ ngày 7 - 26.9.2026.
Bài viết này tập trung rà soát các vấn đề pháp lý liên quan đến bảo tồn di sản, quản lý kiến trúc và cảnh quan, đồng thời đối chiếu những định hướng và can thiệp được đề xuất trong đồ án với khung pháp lý hiện hành. Qua đó, tác giả đặt ra câu hỏi về cách tiếp cận và định hướng quy hoạch đối với một không gian di sản đặc biệt như Hồ Gươm, cũng như yêu cầu đặt việc bảo vệ giá trị di sản làm điều kiện đầu vào của quá trình quy hoạch.

Sơ đồ tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan trong Đồ án Điều chỉnh Quy hoạch khu vực Hồ Gươm và phụ cận. Phương án thể hiện một chuỗi không gian và cấu trúc mới được đề xuất xung quanh Hồ Gươm, là cơ sở để đặt ra câu hỏi về mức độ can thiệp đối với cấu trúc không gian lịch sử của khu vực. Ảnh: UBND TP. Hà Nội.
Dưới góc độ bảo vệ di sản và quản lý kiến trúc, khu vực Hồ Gươm chịu sự điều chỉnh của một hệ thống quy định pháp luật, trong đó đặc biệt quan trọng là Luật Di sản văn hóa, các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật và Quy chế quản lý kiến trúc thành phố Hà Nội.
Mọi can thiệp vào khu vực Hồ Gươm phải được kiểm soát gắt gao trên cơ sở bảo vệ di sản
Trước hết cần khẳng định một luận điểm căn bản: Di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh Hồ Hoàn Kiếm và Đền Ngọc Sơn đã được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2383/QĐ-TTg ngày 9.12.2013. Vì vậy, mọi định hướng quy hoạch, kiến trúc và cảnh quan trong khu vực đều phải được đặt trong khung pháp lý bảo vệ di sản ngay từ đầu.
Vùng bảo vệ di tích: Theo Luật Di sản văn hóa hiện hành, di tích được khoanh vùng thành Khu vực bảo vệ I và Khu vực bảo vệ II. Khu vực I bảo vệ các yếu tố gốc cấu thành di tích; Khu vực II có chức năng bảo vệ cảnh quan văn hóa và ngăn ngừa, hạn chế các tác động tiêu cực đến di tích. Quan trọng hơn, ranh giới các khu vực này phải được thể hiện trên bản đồ và cập nhật vào các bản đồ quy hoạch có liên quan. Đây là một yêu cầu không mang tính hình thức. Ranh giới bảo vệ phải trở thành một lớp kiểm soát pháp lý của đồ án, để từ đó xác định cái gì được phép can thiệp, can thiệp ở mức độ nào, và cái gì phải được giữ nguyên.
Trong khi đó, thuyết minh đồ án không nhắc đến Luật Di sản văn hóa trong các cơ sở pháp lý. Đồng thời, trong các bản vẽ nghiên cứu và phương án mà tác giả đã rà soát đều không thể hiện ranh giới Khu vực bảo vệ I, Khu vực bảo vệ II của di tích làm cơ sở xác định giới hạn của các can thiệp quy hoạch. Đây là một thiếu sót rất nghiêm trọng đối với một đồ án có tầm quan trọng như đồ án này.

Không gian Hồ Gươm nhìn từ trên cao, cho thấy mối quan hệ giữa mặt nước, cây xanh, công trình kiến trúc và hệ thống không gian công cộng xung quanh. Chính tổng thể quan hệ không gian này tạo nên hình ảnh đặc trưng và giá trị của khu vực, thay vì chỉ được xác định bởi một công trình hay một yếu tố riêng lẻ. Ảnh: Giang Huy
“Cảnh quan văn hóa của di tích”: Một điểm đặc biệt quan trọng khác của Luật Di sản văn hóa 2024 là khái niệm “cảnh quan văn hóa của di tích” tại khoản 18 Điều 3. Khái niệm này không chỉ bao gồm cảnh quan thiên nhiên, môi trường - sinh thái và không gian cảnh quan vật chất, mà còn bao gồm các không gian văn hóa vật thể và phi vật thể có tầm quan trọng trong việc hình thành giá trị của di tích.
Điều đó có nghĩa là đối tượng cần bảo vệ ở Hồ Gươm không thể được thu hẹp thành mặt hồ, Tháp Rùa và Đền Ngọc Sơn. Cần bảo vệ toàn bộ quan hệ không gian đã tạo nên hình ảnh và giá trị của Hồ Gươm: mặt nước - cây xanh - vườn hoa - quảng trường - công trình lịch sử - phố cổ, phố cũ - không gian tưởng niệm - trục nhìn - tỷ lệ không gian - ký ức và các hoạt động văn hóa.
Điều 9 khoản 2 Luật Di sản văn hóa cũng quy định hành vi bị nghiêm cấm là “xâm hại, hủy hoại hoặc có nguy cơ hủy hoại di sản văn hóa và cảnh quan văn hóa của di tích”. Điều 30 quy định đối với các dự án, công trình nằm ngoài khu vực bảo vệ nhưng có khả năng tác động tiêu cực đến yếu tố gốc hoặc cảnh quan văn hóa của di tích thì vẫn phải được kiểm soát theo pháp luật về di sản. Điều này liên quan trực tiếp với vùng phụ cận Hồ Gươm, nơi một công trình dù không nằm trong Khu vực bảo vệ I vẫn có thể tác động trực tiếp đến tầm nhìn, tỷ lệ không gian, cấu trúc quần thể và hình ảnh đặc trưng của di tích danh thắng này.
Nghị định 208/2025/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 1.9.2025, tiếp tục cụ thể hóa nhiều quy định của Luật Di sản văn hóa về quy hoạch di tích, bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích và các dự án đầu tư xây dựng trong và ngoài khu vực bảo vệ. Nghị định này không trực tiếp chi phối bước lập, điều chỉnh quy hoạch. Tuy nhiên, nó cho thấy rất rõ cách tiếp cận của pháp luật hiện hành: trước khi quyết định can thiệp phải nhận diện đặc điểm, giá trị, cảnh quan văn hóa, khu vực hạn chế xây dựng, khu vực xây dựng mới và mức độ bảo tồn của từng công trình. Vì vậy, một đồ án quy hoạch làm cơ sở cho các dự án trong tương lai không thể xác lập trước những dự án mà bản thân chúng đã tiềm ẩn nguy cơ xung đột với các giới hạn và yêu cầu bắt buộc của pháp luật về bảo vệ di sản.

Không gian kiến trúc quanh Hồ Gươm với đường chân trời tương đối thấp và sự chuyển tiếp về tỷ lệ từ khu phố tới mặt hồ. Đây là một trong những đặc điểm được Quy chế quản lý kiến trúc Hà Nội đặt ra yêu cầu bảo vệ, trong đó công trình chủ yếu thấp tầng và thấp dần theo hướng ra hồ. Ảnh: Vietnamnet
Mặc dù Quy hoạch điều chỉnh hiện nay không phải là một “dự án” phải thực hiện theo trình tự của Điều 30 và Nghị định 208, nhưng rõ ràng những quy định này cần được vận dụng như một ngưỡng kiểm soát ban đầu cho các cấu trúc mà đồ án đang định hình để triển khai trong tương lai. Không thể nói “công trình nằm ngoài khu vực bảo vệ nên không liên quan đến Luật Di sản”; và bảo tồn phải là điều kiện đầu vào của quy hoạch, không phải chỉ là “diễn ngôn” cho phương án phát triển đã được lựa chọn.
Khu vực Hồ Gươm đã được đặt dưới một khung quản lý kiến trúc và cảnh quan đặc thù
Nếu Luật Di sản văn hóa xác lập khung bảo vệ di tích, thì Quy chế Quản lý Kiến trúc thành phố Hà Nội được ban hành theo Quyết định số 73/2024/QĐ-UBND ngày 31.12.2024 lại đặt ra một lớp kiểm soát rất cụ thể đối với chính khu vực Hồ Gươm và phụ cận. Điều 8 khoản 3 dành riêng cho khu vực này và xác định đây là khu vực có ba hệ giá trị lịch sử - văn hóa - sinh thái đan xen.
Quy chế không mô tả Hồ Gươm chỉ bằng một mặt nước đẹp. Quy chế ghi nhận khu vực xung quanh hồ với các công trình nhiều thời kỳ, khu phố cũ, khu phố cổ, các dãy nhà phố có tầng cao vừa phải 2 - 4 tầng, cùng tỷ lệ hài hòa giữa mặt nước, cây xanh và công trình. Quy chế đồng thời chỉ rõ nhiều công trình kiến trúc quan trọng hoặc có giá trị như Trụ sở HĐND và UBND thành phố Hà Nội, Bưu điện Hà Nội, Nhà thờ Lớn, Nhà khách Chính phủ, Cung Thiếu nhi, Trụ sở Bộ Lao động, Ngân hàng Nhà nước và các không gian công cộng quan trọng.

Phối cảnh đề xuất tòa nhà HĐND và UBND thành phố Hà Nội mới tại khu vực Cung Thiếu nhi và Rạp Khăn Quàng Đỏ. Công trình được đề xuất với 9 tầng nổi, 4 tầng ngầm, chiều cao khoảng 39m, đặt ra những vấn đề cần xem xét về tương quan tỷ lệ, chiều cao và hình ảnh đặc trưng của không gian Hồ Gươm. Ảnh: UBND TP Hà Nội
Đáng chú ý hơn, Quy chế yêu cầu rất rõ: “Bảo tồn hình ảnh đặc trưng của khu vực Hồ Gươm”; bảo tồn, tôn tạo và quản lý bảo vệ cảnh quan xung quanh hồ; bảo tồn, tôn tạo không gian kiến trúc cảnh quan các công trình có giá trị về lịch sử, văn hóa, cách mạng; bảo tồn mặt nước, cây xanh; và kết nối Hồ Gươm với khu phố cổ, khu phố cũ và các không gian lịch sử - văn hóa khác.
Đặc biệt, Quy chế xác định: “Công trình chủ yếu thấp tầng, thấp dần theo hướng ra hồ Hoàn Kiếm”. Phụ lục 6 tiếp tục quy định đối với Hồ Gươm và phụ cận: tầng cao tối đa lớp mặt phố 04 tầng (16m), lớp phía sau tối đa 06 tầng (24m), đồng thời yêu cầu hình khối, màu sắc, ánh sáng, hình thức kiến trúc, cây xanh, mặt nước và quảng trường phải phù hợp với không gian chung.
Như vậy, chúng ta không thiếu công cụ pháp lý để bảo vệ Hồ Gươm. Ngược lại, khung pháp lý hiện nay khá rõ và đúng đắn. Vấn đề là đồ án có thực sự tuân thủ và lấy những giới hạn đó làm điểm xuất phát hay không?
Định hướng “tái cấu trúc” và các can thiệp đề xuất trong đồ án có đi ngược bản chất và khung pháp lý không gian di sản Hồ Gươm?
Bây giờ chúng ta cùng rà soát kỹ hơn xem Đồ án điều chỉnh cục bộ khu vực Hồ Gươm và phụ cận đang lấy ý kiến nhân dân đã đề xuất những gì?
Trước tiên, tại phần Quan điểm và Định hướng Quy hoạch Thiết kế trong hồ sơ ý tưởng, đồ án đã sử dụng cụm từ “quy hoạch tái cấu trúc không gian Hồ Hoàn Kiếm” và “cải tạo, chỉnh trang, tái thiết, tái cấu trúc không gian khu vực Hồ Hoàn Kiếm và vùng phụ cận”. Tôi cho rằng đây không phải chỉ là vấn đề về cách dùng từ, mà hàm chứa một cách tiếp cận quy hoạch cần được xem xét lại một cách nghiêm túc, bởi với Hồ Gươm, mọi thay đổi về không gian trước hết phải được đặt trong giới hạn của yêu cầu bảo vệ di sản. Theo đó “cấu trúc không gian” chính là phần ‘xương sống’ của di sản. Không thể vừa tuyên bố bảo tồn giá trị nơi chốn, vừa đặt mục tiêu “tái cấu trúc” chính cấu trúc đã làm nên nơi chốn đó.
Nói cách khác, cải tạo khu vực Hồ Gươm có thể là cần thiết, nhưng cải tạo không đồng nghĩa với việc thiết kế lại Hồ Gươm theo một hình thái đô thị mới. Càng không thể lấy lý do hiện đại hóa, tăng cường không gian công cộng hay phát triển dịch vụ để mở đường cho một cấu trúc mới lấn át và phá hỏng cấu trúc lịch sử.
Khi đối chiếu quan điểm này với các nội dung cụ thể trong hồ sơ, quy mô can thiệp cho thấy đây thực chất không còn là “điều chỉnh cục bộ”. Đồ án đưa vào một loạt cấu trúc mới cả trên mặt đất và dưới không gian ngầm, trong đó có:

Phối cảnh đề xuất Công viên, quảng trường Thời đại. Với quy mô khoảng 17.232m² cùng hệ thống không gian ngầm và bán ngầm, phương án tạo ra một cấu trúc cảnh quan đa tầng, đặt ra yêu cầu đánh giá tác động đối với không gian mặt hồ và tổng thể cảnh quan khu vực. Ảnh: UBND TP. Hà Nội
Trên đây mới chỉ liệt kê một số yếu tố mới được đưa vào khu vực. Những bình luận liên quan đến phá dỡ các công trình cũ, được gì, mất gì, cho ai, chúng tôi sẽ phản biện ở một bài viết độc lập khác.
Chỉ cần nhìn vào danh sách trên cũng có thể thấy đây là một chuỗi can thiệp có tính hệ thống: tăng chiều cao, tăng khối tích, tăng quy mô phục vụ và lưu lượng người, đưa thêm các công trình điểm nhấn, mở rộng quảng trường, tổ chức không gian đa tầng và phát triển một hệ thống không gian ngầm rất lớn.
Đặc biệt, với một khu vực mà Quy chế Quản lý Kiến trúc đã xác định “công trình chủ yếu thấp tầng, thấp dần theo hướng ra Hồ Hoàn Kiếm” thì những công trình cao 36m, 39m hay 45 - 50m được đề xuất trong khu vực đang đặt ra những xung đột rất rõ và nghiêm trọng với các yêu cầu của Quy chế cũng như nguyên tắc pháp lý về bảo vệ giá trị di sản của khu vực Hồ Gươm.
Tương tự, với hệ thống công trình ngầm nhiều tầng, vấn đề không chỉ là giao thông hay diện tích sử dụng. Phải đánh giá tác động tổng hợp đến nền đất, mực nước ngầm, thủy văn, cây xanh, hệ sinh thái, vi khí hậu, công trình cũ và rung chấn trong quá trình thi công.
Một vấn đề khác cần được xem xét là mức độ đầy đủ và chiều sâu của hồ sơ đồ án, đặc biệt trong việc đánh giá các giá trị hiện hữu của khu vực Hồ Gươm. Theo đó, cần phân biệt rõ: “đánh giá hiện trạng” không phải chỉ là liệt kê hiện trạng. “Đánh giá hiện trạng” cũng chưa đủ vì việc này mới chỉ cho biết Hồ Gươm đang có gì. “Đánh giá giá trị” mới trả lời được điều gì làm nên giá trị của Hồ Gươm và vì sao những giá trị đó phải được bảo vệ. Ở bước ý tưởng sơ bộ hình thành lại phải có kiểm chứng và “đánh giá tác động” (trên nhiều khía cạnh).
Với một không gian di sản, biết một công trình đang ở đâu, cao bao nhiêu, diện tích bao nhiêu là chưa đủ. Phải biết nó có giá trị gì, giá trị đó nằm ở bản thân công trình hay trong quan hệ với không gian xung quanh, mức độ nguyên gốc đến đâu, vai trò của nó trong cấu trúc cảnh quan, trong ký ức tập thể, nó có là đại diện kiến trúc để kể câu chuyện của một thời đại, và nguy cơ mất giá trị nếu thay đổi không gian là như thế nào. Can thiệp vào chúng không thể chỉ có hai trạng thái “giữ - phá” hoặc “cũ - mới”.

Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục trong không gian Hồ Gươm hiện nay. Không gian này đang được đề xuất mở rộng, tổ chức lại thành Quảng trường Hòa Bình và gắn với một tổ hợp công trình mới. Sự thay đổi đặt ra câu hỏi về việc bảo tồn cấu trúc, ký ức và bản sắc của một không gian công cộng đã hình thành trong đời sống đô thị Hà Nội. Ảnh: Đời sống và Pháp luật
Kết luận
Sau khi rà soát cả Luật Di sản văn hóa, Nghị định 208/2025/NĐ-CP và Quy chế Quản lý Kiến trúc thành phố Hà Nội, tôi cho rằng vấn đề của Đồ án không chỉ nằm ở một vài công trình cụ thể như Khải hoàn môn, hiện đang gây bức xúc mạnh mẽ trong công luận.
Vấn đề đáng lưu ý hơn nằm ở cách đặt vấn đề và cách tiếp cận của đồ án quy hoạch này. Bảo vệ giá trị di sản tổng thể, giữ cho được “hồn nơi chốn” phải là điều kiện đầu vào tiên quyết của quy hoạch, phải quyết định ngay từ đầu cái gì được phép thay đổi và cái gì không được phép thay đổi. Không thể làm ngược lại: áp một kịch bản “tái cấu trúc” với hàng loạt công trình, quảng trường, không gian ngầm và cấu trúc mới, rồi sau đó mới tìm cách viện dẫn bảo tồn để biện minh hoặc điều chỉnh cho phù hợp.
Di sản không thể được sử dụng như một lớp “trang trí” cho một ý tưởng quy hoạch đã được định hình từ trước. Càng không thể lấy danh nghĩa cải tạo, chỉnh trang, hiện đại hóa hay tăng cường không gian công cộng để hợp thức hóa một sự thay đổi căn bản về cấu trúc không gian của Hồ Gươm.
Hồ Gươm có thể và cần được cải tạo. Nhưng cải tạo không có nghĩa là làm lại; chỉnh trang không có nghĩa là tái cấu trúc; phát huy giá trị không có nghĩa là áp đặt lên nơi này một hình thái đô thị mới. Một không gian di sản có thể thay đổi, nhưng sự thay đổi đó phải xuất phát từ chính những giá trị cần được bảo vệ của nơi chốn, chứ không phải từ tham vọng tạo ra một hình ảnh mới cho nơi chốn.
Vì vậy, tôi kiến nghị Đồ án này cần được dừng lại và đặt lại vấn đề từ đầu. Không phải chỉ chỉnh sửa một vài công trình, giảm vài mét chiều cao hay thay đổi một vài hình thức kiến trúc, mà phải xem xét lại chính cách tiếp cận và định hướng quy hoạch. Cần tiến hành đầy đủ các bước khảo sát, nghiên cứu, đánh giá giá trị, đánh giá tác động, thi tuyển và lựa chọn phương án một cách bài bản; tuân thủ tuyệt đối khung pháp luật về di sản và quản lý kiến trúc, cảnh quan; và đặc biệt phải có sự tham gia thực chất của người dân, các chuyên gia và các tổ chức nghề nghiệp.
Bởi nếu một đồ án được lập cho Hồ Gươm mà không lấy việc bảo vệ giá trị của Hồ Gươm làm điểm xuất phát, thì câu hỏi không còn là “công trình nào nên giữ, công trình nào nên bỏ”, hay “thiết kế này đẹp hay xấu”. Câu hỏi phải được đặt lại từ căn bản hơn: chúng ta đang cải tạo Hồ Gươm, hay đang nhân danh cải tạo để thay đổi Hồ Gươm?
Đây không chỉ là câu chuyện của một đồ án quy hoạch. Đây là trách nhiệm của chúng ta đối với một di sản mà giá trị đã vượt xa phạm vi của một khu đất, một công trình hay một thế hệ. Và một khi những cấu trúc làm nên “hồn nơi chốn” đã bị thay đổi, thì không có một phương án thiết kế nào sau này có thể dễ dàng đưa Hồ Gươm trở lại như cũ.
PGS-TS-KTS. Phạm Thúy Loan (Nguyên Phó Viện trưởng Viện Kiến trúc Quốc gia; Chuyên viên Quy hoạch Chiến lược, TP. Campbelltown, Úc)