Bảo tồn thích ứng và tái thiết cảnh quan ven sông từ di sản công nghiệp TP.HCM

 22:44 | Thứ năm, 10/09/2026  0
LTS: Tại tọa đàm khoa học "Di sản cảnh quan đô thị: từ bảo tồn di tích đến gìn giữ cảnh quan, ký ức và bản sắc đô thị", do Khoa Địa lý – Đô thị, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia TP.HCM, phối hợp cùng Tạp chí Người Đô Thị tổ chức sáng 10.9, tham luận “Bảo tồn thích ứng và tái thiết cảnh quan ven sông từ di sản công nghiệp TP.HCM”của nhóm tác giả ThS-KTS. Nguyễn Vũ Mai Hân -  TS-KTS. Hoàng Anh Tú (Khoa Kiến trúc, Trường Đại học Kiến trúc TP.HCM) đã cung cấp góc nhìn thú vị trong việc bảo tồn di sản công nghiệp ven sông.

Dựa trên khung lý thuyết Di sản Cảnh quan Đô thị và tiếp cận Cảnh quan Đô thị Lịch sử (HUL) của UNESCO, nghiên cứu này xem xét khả năng bảo tồn thích ứng các di sản công nghiệp ven sông như Cảng Khánh Hội và Bến Bình Đông, đồng thời đánh giá vai trò của chúng trong tái thiết cảnh quan ven sông Sài Gòn. Thông qua phân tích hiện trạng và đối chiếu với các kinh nghiệm quốc tế (Hamburg, London, Amsterdam, Thượng Hải và Montréal), nghiên cứu chỉ ra rằng việc tái thiết cảnh quan ven sông từ di sản công nghiệp có thể tạo ra những không gian công cộng mới, củng cố bản sắc đô thị và duy trì tính liên tục lịch sử của cảnh quan. Bài viết đề xuất một khung tiếp cận tích hợp giữa bảo tồn thích ứng, thiết kế đô thị dựa trên cảnh quan và quản trị biến đổi nhằm định hướng phát triển bền vững cho các khu vực ven sông tại TPHCM. Người Đô Thị trân trọng giới thiệu tới bạn đọc bài viết này.

*    *     *

Quang cảnh tọa đàm khoa học "Di sản cảnh quan đô thị: từ bảo tồn di tích đến gìn giữ cảnh quan, ký ức và bản sắc đô thị" sáng 10.9. Ảnh: T.D.


Trong tiến trình phát triển đô thị của Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) - Sài Gòn xưa, cảnh quan ven sông luôn giữ vai trò trung tâm, vừa là không gian tự nhiên đặc trưng vừa là nền tảng hình thành bản sắc đô thị. Từ cuối thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX, Sài Gòn được mệnh danh là “Hòn ngọc Viễn Đông”, một đô thị cảng năng động của khu vực Đông Nam Á, nơi giao thoa giữa thương nghiệp quốc tế, công nghiệp chế biến và mạng lưới giao thông thủy - bộ phát triển mạnh mẽ. Hình ảnh “trên bến dưới thuyền” dọc sông Sài Gòn và hệ thống kênh rạch không chỉ phản ánh nhịp sống buôn bán sầm uất mà còn tạo nên một cấu trúc cảnh quan đặc thù, nơi các bến cảng, kho hàng, nhà máy và chợ ven sông kết nối chặt chẽ với đời sống đô thị.

Những di sản công nghiệp ven sông như Cảng Khánh Hội, Bến Bình Đông hay các kho bãi dọc kênh Tàu Hủ không chỉ là dấu tích của thời kỳ thương nghiệp - công nghiệp thịnh vượng mà còn là thành phần của di sản cảnh quan đô thị. Chúng lưu giữ ký ức về quá trình hình thành đô thị, các tuyến giao thương đường thủy và sự phát triển của Sài Gòn như một trung tâm kinh tế hàng đầu. Giá trị của các di sản này nằm ở mối quan hệ cảnh quan - lịch sử - xã hội được tích tụ qua thời gian, góp phần tạo nên bản sắc đô thị độc đáo của TP.HCM.

Tuy nhiên, trong bối cảnh đô thị hóa nhanh, cảnh quan ven sông đang chịu áp lực biến đổi mạnh. Dân số TP.HCM đã vượt 10 triệu người vào năm 2025, kéo theo nhu cầu phát triển hạ tầng và bất động sản ngày càng lớn [2]. Các dự án di dời cảng, mở rộng giao thông và tái thiết bờ sông làm thay đổi đáng kể cấu trúc cảnh quan truyền thống, khiến nhiều di sản công nghiệp đứng trước nguy cơ bị xóa bỏ hoặc tách rời khỏi các mối quan hệ cảnh quan - xã hội vốn tạo nên giá trị của chúng.

Trong bối cảnh đó, cách tiếp cận bảo tồn truyền thống, vốn tập trung vào công trình đơn lẻ, bộc lộ nhiều hạn chế khi không nhận diện được các lớp giá trị cảnh quan, lịch sử và văn hóa gắn với không gian ven sông. Điều này đặt ra yêu cầu về một tư duy bảo tồn mở rộng dựa trên khung lý thuyết Cảnh quan Đô thị Lịch sử (Historic Urban Landscape - HUL) của UNESCO, cho phép xem xét di sản trong mối quan hệ với toàn bộ cấu trúc cảnh quan, các động lực phát triển và cộng đồng địa phương.

Nghiên cứu này hướng đến hai mục tiêu: (1) Nhận diện giá trị cảnh quan của di sản công nghiệp ven sông, đặc biệt là các giá trị gắn với lịch sử thương nghiệp - công nghiệp và bản sắc sông nước của Sài Gòn; và (2) Đề xuất một khung tiếp cận tích hợp giữa bảo tồn thích ứng và tái thiết cảnh quan ven sông nhằm định hướng phát triển bền vững cho các khu vực ven sông TP.HCM. Bằng cách đặt di sản công nghiệp trong tư duy cảnh quan đô thị lịch sử, nghiên cứu kỳ vọng làm rõ vai trò của di sản trong tái thiết đô thị đương đại và khẳng định giá trị của cảnh quan sông nước như một yếu tố cốt lõi của bản sắc TP.HCM.

Cảng Sài Gòn và rạch Tàu Hủ năm 1931. Nguồn: Henri Gourdon


Di sản cảnh quan đô thị và Cảnh quan Đô thị Lịch sử

Khái niệm Di sản cảnh quan đô thị (Urban Landscape Heritage) xuất hiện từ cuối thế kỷ XX, khi các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng giá trị di sản không chỉ nằm trong từng công trình đơn lẻ mà còn trong cấu trúc cảnh quan, bao gồm các mối quan hệ không gian, lịch sử và xã hội tích tụ qua thời gian. Lynch (1960) nhấn mạnh vai trò của hình thái đô thị và ký ức tập thể trong việc hình thành bản sắc đô thị [3], trong khi McHarg (1969) đặt nền móng cho việc xem cảnh quan như một hệ sinh thái tự nhiên - văn hóa, nhấn mạnh sự tương tác giữa cấu trúc đô thị và địa hình, thủy văn tự nhiên [4].

Trong bối cảnh các đô thị cảng như TP.HCM, di sản cảnh quan đô thị đặc biệt gắn với hệ thống sông ngòi, bến cảng, kho bãi và các tuyến giao thương thủy, tạo nên một cấu trúc cảnh quan đặc thù. Các yếu tố này không chỉ mang giá trị lịch sử - kinh tế mà còn là nền tảng hình thành bản sắc đô thị, thể hiện qua hình ảnh “trên bến dưới thuyền”, một biểu tượng của đời sống thương nghiệp Sài Gòn trong suốt thế kỷ XX.

Di sản cảnh quan đô thị vì vậy được hiểu như một tổng thể đa lớp, bao gồm: Di sản vật thể (công trình, cảng, kho bãi, nhà máy); Di sản phi vật thể (ký ức đô thị, tập quán giao thương, văn hóa sông nước); Cấu trúc cảnh quan (mạng lưới sông, kênh, bến, chợ).

Cách tiếp cận này cho phép nhận diện giá trị của di sản công nghiệp ven sông không chỉ ở bản thân công trình mà ở mối quan hệ của chúng với cảnh quan đô thị rộng lớn hơn.

Tranh bút sắt dựa trên bản khắc ảnh Thương cảng Sài Gòn 1863 trong dịp đón vua Campuchia và du khách (khi đó ảnh chụp trên kính chưa có giấy ảnh để in ra). Ảnh: Tư liệu


Tiếp cận Cảnh quan Đô thị Lịch sử (Historic Urban Landscape - HUL) được UNESCO giới thiệu vào năm 2011 như một khung phương pháp tích hợp nhằm bảo tồn di sản trong bối cảnh đô thị hóa nhanh và biến đổi mạnh mẽ của cấu trúc đô thị [5]. Khác với các cách tiếp cận truyền thống vốn xem di sản như những đối tượng tách biệt, HUL coi di sản là một phần của hệ thống cảnh quan đô thị rộng lớn, nơi các yếu tố tự nhiên, văn hóa, kinh tế - xã hội và công nghệ tương tác liên tục và tạo nên những lớp giá trị chồng lấp qua thời gian. Trọng tâm của HUL là việc nhận diện và phân tích cảnh quan đa lớp, bao gồm lớp tự nhiên, lớp văn hóa - lịch sử và lớp kinh tế - xã hội, nhằm hiểu rõ cách các yếu tố này định hình bản sắc đô thị và ảnh hưởng đến quá trình phát triển.

Bên cạnh đó, HUL nhấn mạnh rằng bảo tồn di sản trong bối cảnh đô thị hóa không thể chỉ dừng lại ở việc cố định hay “đóng khung” các giá trị lịch sử, mà cần hướng đến quản trị biến đổi. Điều này có nghĩa là di sản phải được xem xét trong dòng chảy phát triển của đô thị, nơi các thay đổi về chức năng, hạ tầng, nhu cầu xã hội hay điều kiện môi trường đều có thể tác động đến giá trị di sản. Thay vì chống lại sự thay đổi, HUL đề xuất cách tiếp cận linh hoạt nhằm tích hợp di sản vào các chiến lược quy hoạch và phát triển bền vững, giúp di sản tiếp tục phát huy vai trò trong đời sống đương đại. Một điểm quan trọng khác của HUL là sự tham gia của cộng đồng, bởi di sản không chỉ là vật thể mà còn là ký ức, tập quán và giá trị văn hóa được cộng đồng kiến tạo và duy trì. Việc đưa cộng đồng vào quá trình ra quyết định giúp đảm bảo rằng các chiến lược bảo tồn phản ánh đúng nhu cầu, kỳ vọng và bản sắc của địa phương.

TS-KTS. Hoàng Anh Tú, Giảng viên Khoa Kiến trúc (Trường Đại học Kiến trúc TP.HCM), trình bày đề dẫn tại Tọa đàm. Ảnh: T.D.


Đối với TP.HCM, tiếp cận HUL đặc biệt phù hợp trong bối cảnh cảnh quan ven sông đang biến đổi nhanh chóng do quá trình di dời cảng, mở rộng hạ tầng và phát triển bất động sản. Những biến đổi này không chỉ làm thay đổi hình thái không gian mà còn tác động trực tiếp đến các di sản công nghiệp ven sông, vốn mang giá trị cảnh quan, lịch sử và xã hội đa lớp. Việc áp dụng HUL cho phép nhận diện đầy đủ các lớp giá trị này, đồng thời cung cấp một khung quản trị linh hoạt để dung hòa giữa bảo tồn và phát triển. Thay vì xem di sản công nghiệp ven sông như những công trình cũ cần bảo vệ hoặc thay thế, HUL mở ra khả năng tích hợp chúng vào các chiến lược tái thiết cảnh quan, tạo ra những không gian công cộng mới, củng cố bản sắc đô thị và duy trì tính liên tục lịch sử của cảnh quan sông nước Sài Gòn.

Di sản công nghiệp ven sông trong đô thị cảng

Di sản công nghiệp ven sông là một bộ phận quan trọng của các đô thị cảng, nơi hoạt động thương nghiệp và công nghiệp hình thành dựa trên lợi thế giao thông thủy. Douet (2012) xác định di sản công nghiệp không chỉ bao gồm các nhà máy hay kho bãi cũ, mà là toàn bộ hệ thống sản xuất, vận chuyển và lưu trữ gắn với cấu trúc đô thị và các dòng chảy kinh tế - xã hội [6]. Điều này cho thấy di sản công nghiệp ven sông mang tính hệ thống, phản ánh sự tương tác giữa hạ tầng công nghiệp và mạng lưới giao thương của từng thời kỳ.

Tại TP.HCM, các di sản như Thương cảng Sài Gòn, Bến Bình Đông hay các xưởng chế biến dọc kênh Tàu Hủ từng là một phần của mạng lưới công nghiệp - thương nghiệp ven sông, phản ánh sự phát triển của đô thị cảng Sài Gòn từ cuối thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX. Tuy nhiên, phần lớn các cơ sở này đã bị tháo dỡ hoặc biến đổi mạnh sau năm 1975, đặc biệt từ thập niên 2000, khiến cảnh quan công nghiệp ven sông bị phân mảnh và nhiều giá trị lịch sử - cảnh quan mất đi vĩnh viễn.

Hiện nay, chỉ còn lại một số khu vực như Cảng Khánh Hội và Bến Bình Đông vẫn giữ được một phần cấu trúc công nghiệp - thương nghiệp truyền thống, bao gồm các bến cảng, kho bãi và tuyến giao thông thủy - bộ. Những di sản còn sót lại này không chỉ mang giá trị vật thể mà còn lưu giữ các lớp ký ức đô thị, tập quán giao thương đường thủy và bản sắc sông nước vốn định hình cảnh quan Sài Gòn trong hơn một thế kỷ. Tuy nhiên, chúng đang đứng trước nguy cơ bị biến đổi hoặc thay thế hoàn toàn nếu không có chiến lược bảo tồn thích ứng phù hợp trong bối cảnh tái thiết ven sông diễn ra mạnh mẽ.

ThS-KTS. Nguyễn Vũ Mai Hân, trình bày tham luận tại Tọa đàm. ẢNh: T.D.


Khung đánh giá giá trị di sản công nghiệp ven sông

Nghiên cứu được triển khai theo cách tiếp cận liên ngành, kết hợp phân tích không gian cảnh quan, nghiên cứu lịch sử đô thị và đánh giá di sản theo hướng tích hợp. Quy trình nghiên cứu gồm ba bước chính: thu thập dữ liệu, phân tích - đối chiếu và xây dựng khung đánh giá nhằm đề xuất định hướng bảo tồn thích ứng.

Thu thập dữ liệu được thực hiện từ ba nhóm nguồn: (1) khảo sát hiện trạng, (2) tư liệu lịch sử và (3) phỏng vấn chuyên gia.Phân tích - đối chiếu được thực hiện theo hai hướng. Thứ nhất, nghiên cứu phân tích các động lực biến đổi cảnh quan ven sông thông qua đối chiếu dữ liệu lịch sử, hiện trạng và các chính sách quy hoạch liên quan đến di dời cảng, mở rộng hạ tầng và phát triển bất động sản. Thứ hai, nghiên cứu tiến hành phân tích so sánh với các trường hợp quốc tế có bối cảnh tương đồng như Hamburg HafenCity, London Docklands, Amsterdam Waterfront, Shanghai Bund và Montréal Old Port. Việc đối chiếu tập trung vào các tiêu chí: mô hình bảo tồn, chiến lược tái thiết cảnh quan, cơ chế quản trị biến đổi và vai trò cộng đồng, nhằm nhận diện các yếu tố thành công và bài học có thể vận dụng cho bối cảnh TP.HCM.

Xây dựng khung đánh giá được thực hiện theo hướng tích hợp, kết hợp phân tích không gian, phân tích lịch sử, khung lý thuyết Cảnh quan Đô thị Lịch sử (HUL) và công cụ đánh giá tác động cảnh quan (Landscape Impact Assessment - LIA).  Nghiên cứu xây dựng khung đánh giá giá trị di sản công nghiệp ven sông theo ba nhóm giá trị cốt lõi: (1) lịch sử - thương nghiệp - công nghiệp, (2) cảnh quan - không gian và (3) xã hội - văn hóa. Khung đánh giá này là nền tảng để xác định khả năng chuyển đổi công năng, tái sử dụng cấu trúc công nghiệp và tích hợp di sản vào cảnh quan đô thị đương đại.

Dựa trên các cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu đã trình bày, nghiên cứu xây dựng một khung phân tích gồm bốn bước nhằm nhận diện giá trị di sản công nghiệp ven sông và xác định các chiến lược tái thiết cảnh quan phù hợp trong bối cảnh đô thị hóa nhanh của TP.HCM: (1) Nhận diện giá trị cảnh quan, lịch sử, xã hội của di sản công nghiệp ven sông; (2) Đánh giá động lực biến đổi cảnh quan ven sông; (3) Đối chiếu kinh nghiệm quốc tế; (4) Đề xuất khung tiếp cận tích hợp. Nghiên cứu đề xuất một khung tiếp cận tích hợp dựa trên bảo tồn thích ứng, thiết kế đô thị dựa trên di sản và quản trị biến đổi theo tiếp cận HUL. Khung này xem di sản công nghiệp ven sông như nguồn lực để tạo ra không gian công cộng mới, củng cố bản sắc đô thị và duy trì tính liên tục lịch sử của cảnh quan sông nước. Đồng thời, khung tiếp cận nhấn mạnh sự linh hoạt trong quản trị phát triển nhằm dung hòa giữa bảo tồn và đổi mới, đảm bảo rằng các quyết định quy hoạch không làm mất đi các giá trị cốt lõi của di sản công nghiệp ven sông.

Các khu vực như Ba Son, Khánh Hội, Nhà Rồng, Bến Bình Đông hay Tàu Hủ - Bến Nghé tạo nên một cấu trúc không gian tuyến tính liên tục dọc theo sông Sài Gòn và hệ thống kênh rạch, trong đó mặt nước đóng vai trò trục tổ chức chính của cảnh quan. Ảnh: Nguyễn Minh Tú


Nhận diện giá trị cảnh quan của di sản công nghiệp ven sông TP.HCM

Trong Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Sơn Nam miêu tả cảnh giao thương sông nước: “Dòng sông sâu rộng, ghe thuyền đậu dài 10 dặm… ngày đêm tấp nập, làm chỗ đô hội lưu thông khắp ngả”. Mô tả này cho thấy vai trò trung tâm của sông ngòi trong đời sống kinh tế - xã hội miền Nam, đồng thời phản ánh nền tảng văn hóa - cảnh quan hình thành nên các di sản công nghiệp ven sông TP.HCM. Trên nền tảng đó, di sản công nghiệp ven sông mang giá trị cảnh quan đặc thù được tạo nên từ sự tương tác giữa mặt nước, cấu trúc công nghiệp - thương nghiệp và hoạt động cộng đồng.

Giá trị cảnh quan: Các khu vực như Ba Son, Khánh Hội, Nhà Rồng, Bến Bình Đông hay Tàu Hủ - Bến Nghé tạo nên một cấu trúc không gian tuyến tính liên tục dọc theo sông Sài Gòn và hệ thống kênh rạch, trong đó mặt nước đóng vai trò trục tổ chức chính của cảnh quan. Sự hiện diện của cầu cảng, kho bãi, xưởng cơ khí, bến ghe và tuyến giao thông thủy - bộ hình thành một cảnh quan công nghiệp - hàng hải đặc trưng, nơi các yếu tố vật chất và hoạt động tàu thuyền cùng tạo nên hình ảnh đô thị cảng. Đây là dạng cảnh quan động, giàu tính biểu tượng, phản ánh tiến trình phát triển đô thị qua chính hình thái không gian của nó.

Giá trị lịch sử: Di sản công nghiệp ven sông là chứng tích quan trọng của quá trình hình thành và phát triển đô thị cảng Sài Gòn từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX. Chúng phản ánh sự chuyển đổi từ thương cảng truyền thống sang đô thị công nghiệp hiện đại, thể hiện qua vật liệu, kỹ thuật xây dựng và tổ chức không gian đặc trưng của thời kỳ thuộc địa và hậu thuộc địa. Những công trình như Ba Son hay Khánh Hội từng là hạ tầng kinh tế chủ lực, gắn với hoạt động xuất nhập khẩu và giao thương quốc tế, góp phần định hình vị thế của Sài Gòn như một trung tâm thương mại lớn của khu vực. Giá trị lịch sử của các di sản này nằm ở khả năng lưu giữ các lớp ký ức đô thị, cho phép nhận diện tiến trình phát triển của thành phố thông qua sự thay đổi của cảnh quan công nghiệp ven sông.

Những công trình như Ba Son hay Khánh Hội từng là hạ tầng kinh tế chủ lực, gắn với hoạt động xuất nhập khẩu và giao thương quốc tế, góp phần định hình vị thế của Sài Gòn như một trung tâm thương mại lớn của khu vực. Ảnh: Nguyễn Minh Tú


Giá trị xã hội - văn hóa: Cảnh quan công nghiệp ven sông gắn liền với đời sống cộng đồng sông nước, nơi hình thành các tập quán sinh hoạt và giao thương đặc thù. Các khu vực như Bến Bình Đông và Tàu Hủ - Bến Nghé từng là không gian của cộng đồng thương hồ, nơi cư dân sinh sống trên thuyền, buôn bán nông sản và duy trì các hình thức văn hóa dân gian như lối hò đối đáp, tiếng rao hàng hay nhịp chèo ghe. Những yếu tố phi vật thể này phản ánh mối quan hệ mật thiết giữa con người và dòng sông, tạo nên bản sắc sông nước độc đáo của đô thị cảng Sài Gòn.

Ba nhóm giá trị trên cho thấy di sản công nghiệp ven sông TP.HCM là một hệ thống cảnh quan đa tầng, nơi các yếu tố vật thể và phi vật thể cùng góp phần định hình bản sắc đô thị cảng. Việc nhận diện đầy đủ các giá trị này là cơ sở quan trọng để xây dựng chiến lược bảo tồn thích ứng, nhằm duy trì tính liên tục lịch sử và bảo vệ bản sắc sông nước trong bối cảnh phát triển đô thị đương đại.

Phân tích hình thái cảnh quan cho thấy cấu trúc không gian ven sông Sài Gòn đã trải qua nhiều lớp biến đổi sâu sắc, phản ánh trực tiếp các cột mốc phát triển của đô thị cảng Sài Gòn - TP.HCM. Từ thương cảng sơ khai thế kỷ XVII-XVIII, đến hình thái công nghiệp - hàng hải thời thuộc địa, cực thịnh giữa thế kỷ XX, suy giảm sau 1975 và tái cấu trúc mạnh mẽ sau khi di dời cảng giai đoạn 2010-2020, mỗi giai đoạn đều để lại dấu ấn rõ rệt lên cảnh quan ven sông.

Động lực lịch sử - kinh tế: Việc hình thành các cảng Ba Son, Nhà Rồng và Khánh Hội cuối thế kỷ XIX đã chuyển đổi hoàn toàn cảnh quan ven sông từ không gian dân cư - thương nghiệp truyền thống sang cảnh quan công nghiệp - hàng hải hiện đại. Giai đoạn 1950-1975 đánh dấu cực thịnh của cảnh quan công nghiệp - thương nghiệp, đặc biệt tại Tàu Hủ - Bến Nghé và Bến Bình Đông, nơi giao thương nông sản diễn ra liên tục và tạo nên hình thái cảnh quan đặc trưng.

Động lực đô thị hóa - quy hoạch: Sau 1975, quá trình công nghiệp hóa thiếu kiểm soát khiến nhiều nhà máy ven sông mở rộng tự phát, gây ô nhiễm và làm mất tính tổ chức của cảnh quan. Từ thập niên 2000, các dự án cải tạo kênh rạch (Nhiêu Lộc - Thị Nghè, Tàu Hủ - Bến Nghé) đã chuyển hướng cảnh quan từ “công nghiệp - thương nghiệp” sang “đô thị - sinh thái”, thu hẹp không gian công nghiệp và mở rộng không gian công cộng ven sông.

Cảng Khánh Hội nhìn từ trên cao. Ảnh: Nguyễn Minh Tú


Động lực tái cấu trúc cảng biển: Giai đoạn 2010-2020 là thời kỳ biến đổi mạnh nhất. Việc di dời Ba Son, Cảng Sài Gòn và một phần Khánh Hội đã làm biến mất phần lớn cấu trúc công nghiệp - hàng hải truyền thống. Các khu cảng cũ được thay thế bằng các dự án đô thị mới quy mô lớn, khiến cảnh quan công nghiệp ven sông trở nên phân mảnh và suy giảm nhanh chóng.

Động lực bất động sản: Giá trị thương mại cao của đất ven sông tạo ra áp lực phát triển mạnh mẽ, dẫn đến việc tháo dỡ kho bãi, xưởng cơ khí và các cấu trúc công nghiệp cũ để nhường chỗ cho các dự án nhà ở và thương mại. Điều này làm đứt gãy các mối quan hệ cảnh quan - lịch sử vốn định hình bản sắc sông nước Sài Gòn.

Động lực môi trường - sinh thái: Ô nhiễm nước, sạt lở bờ sông và biến đổi khí hậu làm suy giảm chất lượng cảnh quan ven sông, ảnh hưởng đến khả năng duy trì các hoạt động sông nước truyền thống và làm giảm giá trị cảnh quan và sinh thái của các khu vực di sản.

Các động lực trên cho thấy cảnh quan ven sông Sài Gòn là một hệ thống không gian đã trải qua nhiều lớp biến đổi sâu sắc. Trong bối cảnh phần lớn các di sản công nghiệp ven sông đã bị tháo dỡ hoặc biến đổi mất kiểm soát, những khu vực còn sót lại như Cảng Khánh Hội và Bến Bình Đông trở nên đặc biệt quan trọng. Chúng không chỉ lưu giữ cấu trúc công nghiệp - thương nghiệp truyền thống mà còn là những mảnh ghép cuối cùng của ký ức đô thị cảng. Điều này khẳng định tính cấp thiết của việc xây dựng chiến lược bảo tồn thích ứng nhằm duy trì tính liên tục lịch sử và bảo vệ bản sắc cảnh quan ven sông trong quá trình phát triển đô thị đương đại.

Khu nhà xưởng và kho lương thực xay xát lúa gạo, bột mì tại bến Bình Đông. Ảnh: Trung Dũng


 Khung đánh giá và định hướng bảo tồn thích ứng

Khung đánh giá giá trị cảnh quan của di sản công nghiệp ven sông TP.HCM được xây dựng dựa trên ba nhóm giá trị cốt lõi gồm: (1) giá trị cảnh quan - không gian, (2) giá trị lịch sử - thương nghiệp - công nghiệp và (3) giá trị xã hội - văn hóa. Việc đánh giá được thực hiện thông qua phân tích mức độ nguyên gốc của các công trình công nghiệp - thương nghiệp, tính liên tục của cảnh quan tuyến tính ven sông, vai trò của di sản trong tiến trình lịch sử đô thị và mức độ duy trì các tập quán sinh hoạt sông nước. Các khu vực như Cảng Khánh Hội và Bến Bình Đông được xác định là những không gian có giá trị cao, vừa mang tính đại diện cho hình thái công nghiệp - thương nghiệp truyền thống, vừa lưu giữ các lớp giá trị xã hội - văn hóa đặc thù của cộng đồng thương hồ. Ngược lại, những khu vực đã bị xóa sổ như Ba Son hoặc biến đổi mạnh như Nhà Rồng - Khánh Hội mở rộng được đánh giá là có giá trị lịch sử nhưng tính nguyên gốc thấp, cần được bảo tồn thông qua các hình thức tái hiện ký ức đô thị hoặc tích hợp yếu tố lịch sử vào thiết kế cảnh quan mới.

Để đảm bảo tính toàn diện và khả năng ứng dụng trong thực tiễn, khung đánh giá được đặt trong định hướng của tiếp cận Cảnh quan Đô thị Lịch sử HUL. Tiếp cận này cho phép xem xét di sản công nghiệp ven sông như một phần của hệ thống cảnh quan rộng lớn, nơi các yếu tố lịch sử, hình thái không gian, hoạt động kinh tế - xã hội và giá trị văn hóa cộng đồng đan xen và tương tác. Việc vận dụng HUL giúp khung đánh giá không chỉ nhận diện giá trị đơn lẻ của từng công trình mà còn hiểu rõ vai trò của chúng trong cấu trúc cảnh quan và đời sống đô thị, từ đó định hướng các giải pháp bảo tồn thích ứng mang tính tích hợp.

Song song với HUL, khung đánh giá tích hợp công cụ đánh giá tác động cảnh quan LIA nhằm kiểm soát tác động của các dự án phát triển lên cảnh quan ven sông. LIA được áp dụng thông qua các thang đo về giá trị cảnh quan, độ nhạy cảm, mức độ tác động và mức độ ảnh hưởng tổng hợp, dựa trên các tiêu chí như chất lượng cảnh quan, tính đại diện, độ hiếm, mức độ đối lập giữa công trình mới và cảnh quan hiện hữu, phạm vi ảnh hưởng, thay đổi tuyến nhìn và tác động lên đường chân trời. Đối với khu vực ven sông, LIA bổ sung các chỉ tiêu đặc thù như tính liên tục của tuyến nhìn ven nước, khả năng tiếp cận mặt nước, mức độ duy trì hoạt động sông nước truyền thống và ảnh hưởng đến ký ức cộng đồng.

Việc áp dụng LIA trong giai đoạn tiền khả thi và thiết kế dự án giúp nhận diện sớm các rủi ro, từ đó đề xuất các điều chỉnh cần thiết để đảm bảo rằng các dự án phát triển không làm suy giảm bản sắc cảnh quan đô thị cảng Sài Gòn. Sự kết hợp giữa HUL và LIA tạo ra một khung đánh giá vừa mang tính chiến lược, vừa mang tính kỹ thuật, giúp dung hòa giữa bảo tồn và phát triển trong bối cảnh biến đổi mạnh mẽ của không gian ven sông.

Cầu tàu Ba Son. Ảnh tư liệu: Trung Dũng


Từ kết quả đánh giá, định hướng bảo tồn thích ứng được hình thành dựa trên ba trụ cột giá trị. Bảo tồn dựa trên giá trị cảnh quan nhấn mạnh việc duy trì tính liên tục của không gian ven sông, bảo vệ các yếu tố hình thái công nghiệp - hàng hải đại diện và đảm bảo sự hiện diện của mặt nước như trục tổ chức cảnh quan chủ đạo. Bảo tồn dựa trên giá trị lịch sử hướng đến việc giữ lại các công trình tiêu biểu, tái sử dụng cấu trúc công nghiệp cũ và tích hợp các lớp lịch sử vào thiết kế đô thị mới nhằm duy trì khả năng đọc hiểu lịch sử qua không gian. Bảo tồn dựa trên giá trị xã hội - văn hóa tập trung vào việc duy trì hoặc tái hiện các hoạt động cộng đồng gắn với sông nước, bảo tồn các yếu tố phi vật thể như lối hò đối đáp, tập quán thương hồ và tạo điều kiện để cộng đồng tiếp tục tương tác với dòng sông trong đời sống đô thị.

Khung đánh giá và định hướng bảo tồn thích ứng này không chỉ giúp xác định mức độ ưu tiên của từng khu vực di sản mà còn tạo nền tảng cho việc xây dựng chiến lược bảo tồn toàn diện cho hệ thống di sản công nghiệp ven sông TP.HCM. Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh và áp lực phát triển mạnh mẽ, bảo tồn thích ứng không nhằm giữ nguyên trạng mà hướng đến duy trì bản sắc, tái thiết ký ức và đảm bảo sự hòa hợp giữa phát triển mới và các lớp giá trị lịch sử - cảnh quan - xã hội vốn định hình đô thị cảng Sài Gòn qua nhiều thế kỷ.

Dựa trên kết quả nhận diện giá trị di sản, phân tích động lực biến đổi cảnh quan ven sông, đối chiếu kinh nghiệm quốc tế và khung đánh giá - bảo tồn thích ứng, nghiên cứu cho thấy hệ thống di sản công nghiệp ven sông TP.HCM vừa mang các giá trị lịch sử - thương nghiệp - công nghiệp đặc thù, vừa đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc cảnh quan và đời sống xã hội - văn hóa của đô thị cảng Sài Gòn. Đồng thời, các động lực phát triển đô thị, chuyển đổi công năng và tái cấu trúc không gian ven sông đang tạo ra những biến đổi mạnh mẽ, đặt ra yêu cầu cấp thiết về một khung tiếp cận mang tính tích hợp để dung hòa giữa bảo tồn và phát triển.

Khung tiếp cận tích hợp dựa trên bốn nguyên tắc bảo tồn thích ứng nhằm đảm bảo sự hài hòa giữa phát triển đô thị và duy trì bản sắc cảnh quan ven sông: Giữ gìn cấu trúc cảnh quan - không gian đặc thù; Bảo tồn giá trị lịch sử - thương nghiệp - công nghiệp; Bảo tồn giá trị xã hội - văn hóa và các yếu tố phi vật thể; Linh hoạt công năng theo nhu cầu đương đại.

Phối cảnh Công viên văn hóa Bến Nhà Rồng kết nối với Dự án cải tạo, chỉnh trang khuôn viên Bảo tàng Hồ Chí Minh - Chi nhánh TP.HCM, tạo thành quần thể văn hóa hoàn chỉnh. Ảnh: CĐT


Chiến lược tái thiết cảnh quan ven sông

Chiến lược tái thiết cảnh quan ven sông tập trung vào việc khôi phục và tăng cường tính liên tục của không gian ven sông Sài Gòn, vốn đã bị phân mảnh do quá trình di dời cảng và phát triển bất động sản. Việc tái thiết được xem như một quá trình tái cấu trúc cảnh quan, trong đó mặt nước đóng vai trò trục tổ chức chính, kết nối các khu vực di sản rời rạc thành một hệ thống thống nhất. Ba chiến lược chính được đề xuất:

Tạo dựng trục cảnh quan liên tục dọc theo sông: Chiến lược này hướng đến khôi phục sự liên kết giữa các đoạn bờ sông vốn bị chia cắt bởi các khu công nghiệp cũ, bến cảng và các dự án phát triển mới. Một trục cảnh quan liên tục sẽ hình thành hành lang sinh thái - cảnh quan có khả năng dẫn dắt dòng chảy không gian, đồng thời tăng cường khả năng tiếp cận mặt nước cho cộng đồng. Việc tổ chức lại tuyến bờ sông theo hướng liên tục giúp duy trì cấu trúc cảnh quan đặc thù của đô thị cảng Sài Gòn.

Phát triển không gian công cộng dựa trên di sản: Không gian công cộng ven sông cần được thiết kế dựa trên các cấu trúc công nghiệp - thương nghiệp cũ như cầu cảng, kho bãi, bến ghe và nhà kho. Việc tái sử dụng các cấu trúc này làm điểm nhấn cảnh quan không chỉ tạo ra trải nghiệm đô thị mang tính lịch sử mà còn duy trì ký ức về hoạt động thương hồ và văn hóa sông nước. Các không gian công cộng mới cần được tổ chức theo hướng mở, linh hoạt và có khả năng phục vụ nhiều loại hình hoạt động cộng đồng, từ sinh hoạt văn hóa đến giao thương nhỏ lẻ.

Kết nối di sản với mạng lưới giao thông thủy - bộ: Tái thiết cảnh quan ven sông không thể tách rời hệ thống giao thông. Việc kết nối các khu vực di sản với mạng lưới giao thông thủy - bộ sẽ giúp tái kích hoạt các hoạt động sông nước truyền thống, đồng thời tạo điều kiện cho sự tương tác giữa cư dân và dòng sông trong đời sống đô thị đương đại. Các tuyến đường bộ ven sông, lối đi bộ, bến thuyền và điểm dừng giao thông công cộng cần được tổ chức đồng bộ để tăng cường khả năng tiếp cận và liên kết giữa các khu vực di sản.

Khu Cảng Khánh Hội và Khu kho xưởng Bến Bình Đông; nguồn: Tác giả tổng hợp


Mô hình quản trị biến đổi được xây dựng nhằm đảm bảo rằng các can thiệp vào không gian ven sông vừa đáp ứng nhu cầu phát triển đô thị, vừa bảo tồn các giá trị di sản công nghiệp đã được nhận diện. Trong bối cảnh các khu vực ven sông TP.HCM đang chịu áp lực chuyển đổi mạnh mẽ, mô hình quản trị cần dựa trên sự phối hợp đa ngành, linh hoạt và dựa trên bằng chứng cảnh quan - di sản.

Quản trị không gian ven sông đòi hỏi sự tham gia của nhiều lĩnh vực: quy hoạch đô thị, bảo tồn di sản, quản lý môi trường, giao thông thủy - bộ và cộng đồng địa phương. Sự phối hợp này giúp đảm bảo rằng các quyết định phát triển không chỉ dựa trên lợi ích kinh tế mà còn cân nhắc đến giá trị lịch sử, cảnh quan, văn hóa và sinh thái. Khi các bên liên quan cùng chia sẻ thông tin và đồng bộ hóa mục tiêu, quá trình phát triển sẽ giảm thiểu xung đột và tăng tính nhất quán.

Tiếp cận Cảnh quan Đô thị Lịch sử HUL đóng vai trò như một cơ chế quản lý linh hoạt, cho phép tích hợp các lớp giá trị lịch sử, cảnh quan và xã hội - văn hóa vào quá trình phát triển đô thị. Việc áp dụng HUL giúp các dự án ven sông thích ứng tốt hơn với biến động kinh tế - xã hội và môi trường, đồng thời duy trì bản sắc đô thị cảng Sài Gòn. Các công cụ phân tích cảnh quan, bản đồ giá trị và đánh giá tác động trở thành nền tảng để đảm bảo rằng mọi can thiệp đều dựa trên hiểu biết đầy đủ về di sản.

Trong quá trình này, công cụ đánh giá tác động cảnh quan LIA cần được xem như một bước bắt buộc trong các dự án ven sông. Công cụ này giúp nhận diện mức độ ảnh hưởng của các can thiệp lên cấu trúc cảnh quan, giá trị di sản và trải nghiệm không gian của cộng đồng. Việc áp dụng đánh giá tác động ngay từ giai đoạn tiền khả thi sẽ giúp kiểm soát rủi ro, hạn chế tác động tiêu cực và đảm bảo rằng các dự án mới phù hợp với bản sắc cảnh quan ven sông trong dài hạn.

Dự án Công viên văn hóa Bến Nhà Rồng - Khánh Hội và Cây xanh công cộng Bến Bạch Đằng vừa được khởi công sáng 1.7.2026 với tổng vốn đầu tư hơn 29.300 tỷ đồng. Ảnh: CĐT


Di sản công nghiệp ven sông và cơ hội tái thiết cảnh quan đô thị

Bảo tồn thích ứng di sản công nghiệp ven sông TP.HCM diễn ra trong bối cảnh đô thị hóa nhanh và sự chuyển dịch mạnh mẽ của cấu trúc kinh tế - xã hội. Áp lực phát triển bất động sản và hạ tầng khiến các khu vực từng là cảng, kho bãi hay nhà máy công nghiệp dễ bị tái cấu trúc theo hướng ưu tiên lợi ích kinh tế, làm suy giảm dấu tích công nghiệp và phá vỡ tính liên tục của cảnh quan ven sông. Bên cạnh đó, sự phân mảnh trong quản lý giữa các ngành, từ quy hoạch, giao thông thủy, môi trường đến văn hóa, khiến việc ra quyết định thiếu đồng bộ, làm tăng nguy cơ xung đột giữa bảo tồn và phát triển. Các giá trị xã hội - văn hóa gắn với sinh hoạt sông nước và ký ức cộng đồng cũng đang mai một nhanh chóng, trong khi các công cụ đánh giá tác động cảnh quan chưa được áp dụng rộng rãi để kiểm soát ảnh hưởng của các dự án mới.

Mặc dù đối mặt với nhiều thách thức, hệ thống di sản công nghiệp ven sông vẫn mở ra những cơ hội quan trọng cho quá trình tái thiết cảnh quan đô thị. Các cấu trúc công nghiệp cũ có thể trở thành điểm nhấn cảnh quan độc đáo, tạo ra không gian công cộng giàu bản sắc và trải nghiệm đô thị mang tính lịch sử. Những kinh nghiệm quốc tế đã được phân tích ở các mục trước cho thấy tiềm năng này hoàn toàn khả thi: việc chuyển đổi các khu vực cảng và kho bãi cũ thành không gian công cộng ven nước, tái sử dụng nhà kho và cầu cảng làm điểm nhấn cảnh quan, hay tích hợp di sản công nghiệp vào các tuyến đi bộ ven sông đều là những mô hình đã chứng minh hiệu quả ở nhiều đô thị trên thế giới. Các trường hợp này khẳng định rằng di sản công nghiệp không chỉ có thể được bảo tồn mà còn có thể trở thành nguồn lực phát triển đô thị bền vững.

Trong bối cảnh xu hướng phát triển đô thị bền vững ngày càng được quan tâm, việc áp dụng các mô hình quản trị linh hoạt như tiếp cận Cảnh quan Đô thị Lịch sử HUL mở ra cơ hội tích hợp các lớp giá trị vào quá trình phát triển. Đồng thời, việc kết nối di sản với mạng lưới giao thông thủy - bộ có thể góp phần phục hồi các hoạt động sông nước truyền thống, tạo nền tảng cho các mô hình kinh tế - xã hội mới và phát triển du lịch văn hóa - cảnh quan.

Nhìn chung, bảo tồn thích ứng di sản công nghiệp ven sông TP.HCM là một quá trình đòi hỏi sự cân bằng giữa nhiều mục tiêu. Những thách thức hiện hữu cho thấy cần có cơ chế quản trị linh hoạt, sự phối hợp đa ngành và sự tham gia của cộng đồng. Song song đó, các cơ hội về tái thiết cảnh quan, phục hồi hoạt động sông nước và học hỏi từ các kinh nghiệm quốc tế mở ra triển vọng để di sản ven sông không chỉ được bảo tồn mà còn trở thành động lực cho phát triển đô thị bền vững trong tương lai.

Cảng Nhà Rồng - Khánh Hội nhìn từ trên cao. Ảnh tư liệu. Ảnh: Nguyễn Minh Tú


*   *   *

Hệ thống di sản công nghiệp ven sông TP.HCM là một thành tố quan trọng trong cấu trúc cảnh quan đô thị cảng Sài Gòn, phản ánh lịch sử hình thành - phát triển của đô thị và lưu giữ các giá trị cảnh quan, xã hội - văn hóa và ký ức cộng đồng. Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa nhanh, chuyển đổi đất đai và tái cấu trúc không gian ven sông đang tạo ra những biến đổi sâu sắc, đặt ra yêu cầu cấp thiết về một cách tiếp cận bảo tồn thích ứng mang tính tổng hợp và dài hạn.

Nghiên cứu đã nhận diện các giá trị cốt lõi của di sản công nghiệp ven sông, phân tích những động lực biến đổi cảnh quan và xây dựng khung đánh giá dựa trên ba nhóm giá trị di sản. Trên cơ sở đó, khung tiếp cận tích hợp được đề xuất với ba hợp phần: nguyên tắc bảo tồn thích ứng, chiến lược tái thiết cảnh quan ven sông và mô hình quản trị biến đổi theo tiếp cận Cảnh quan Đô thị Lịch sử HUL. Khung này cho phép dung hòa giữa bảo tồn và phát triển, đồng thời tạo nền tảng để các can thiệp đô thị ven sông được thực hiện một cách có kiểm soát, dựa trên bằng chứng và hướng đến bền vững.

Những thách thức hiện hữu, từ áp lực phát triển, sự phân mảnh trong quản lý đến sự mai một của các giá trị phi vật thể, cho thấy bảo tồn di sản công nghiệp ven sông không thể chỉ dựa vào các giải pháp kỹ thuật, mà cần một cơ chế quản trị linh hoạt, đa ngành và có sự tham gia của cộng đồng. Đồng thời, các cơ hội về tái thiết cảnh quan, phục hồi hoạt động sông nước và khả năng học hỏi từ những kinh nghiệm quốc tế cho thấy di sản công nghiệp ven sông có thể trở thành nguồn lực quan trọng cho phát triển đô thị bền vững.

Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp vào việc nhận diện và đánh giá di sản công nghiệp ven sông TP.HCM mà còn gợi mở một hướng tiếp cận phù hợp cho các đô thị đang đối mặt với bài toán tương tự. Trong tương lai, việc triển khai khung tiếp cận tích hợp cần được thử nghiệm ở các khu vực cụ thể, kết hợp với các nghiên cứu sâu hơn về tác động xã hội, kinh tế và môi trường, nhằm đảm bảo rằng di sản ven sông không chỉ được bảo tồn mà còn tiếp tục đóng góp vào bản sắc và sức sống của đô thị.

Kinh nghiệm bảo tồn thích ứng và tái thiết di sản công nghiệp ven sông

Trong lĩnh vực bảo tồn thích ứng, Plevoets & Van Cleempoel (2011) nhấn mạnh rằng di sản công nghiệp, bao gồm các khu cảng biển, cần được tái sử dụng theo cách duy trì ký ức công nghiệp và tính liên tục văn hóa, thay vì chỉ bảo tồn vật thể [7]. Quan điểm này phù hợp với xu hướng tái sinh các khu cảng cũ trên thế giới, nơi các cấu trúc công nghiệp và hàng hải được xem như nguồn lực văn hóa và kinh tế quan trọng cho phát triển đô thị đương đại.

Hamburg HafenCity (Đức): là một trong những dự án chuyển đổi cảng đô thị lớn nhất châu Âu, nơi các kho bãi và nhà ga cảng cũ được tái sử dụng thành khu đô thị mới kết hợp nhà ở, văn phòng và không gian công cộng ven sông Elbe. Điểm nổi bật của HafenCity là việc giữ lại các cấu trúc công nghiệp đặc trưng như bến tàu, cầu cảng và nhà kho gạch đỏ, từ đó tạo nên một cảnh quan đô thị vừa hiện đại vừa gắn với lịch sử cảng biển[8].

London Docklands (Anh): Các bến cảng, kho hàng và tuyến kênh cũ được chuyển đổi thành không gian công cộng, tuyến đi bộ ven sông và các khu thương mại mới, nhưng vẫn giữ lại những yếu tố công nghiệp như cầu cẩu, nhà kho thép và cấu trúc bến tàu. Việc tích hợp di sản công nghiệp vào chiến lược phát triển dài hạn giúp Docklands duy trì bản sắc cảng lịch sử, đồng thời tạo ra một cảnh quan đô thị mới mang tính biểu tượng của London hiện đại [9].

Amsterdam Waterfront (Hà Lan): Các nhà kho, xưởng đóng tàu và cầu cảng được tái sử dụng thành bảo tàng, trung tâm nghệ thuật và không gian công cộng mở, tạo nên một tuyến cảnh quan liên tục dọc mặt nước. Việc giữ lại vật liệu công nghiệp, cấu trúc thép và hình thái cảng truyền thống giúp khu vực duy trì bản sắc lịch sử, đồng thời tạo ra một không gian đô thị hấp dẫn, kết nối chặt chẽ giữa di sản công nghiệp và đời sống đương đại [10].

Shanghai Waterfront (Trung Quốc): Shanghai Waterfront, đặc biệt là khu vực Bund và các bến cảng dọc sông Hoàng Phố, cho thấy cách tái thiết cảnh quan ven sông gắn với bản sắc đô thị cảng. Các công trình công nghiệp và thương mại cũ được bảo tồn và tích hợp vào tuyến không gian công cộng ven sông, tạo nên một cảnh quan liên tục kết hợp giữa kiến trúc lịch sử và thiết kế đô thị hiện đại, đồng thời trở thành một điểm nhấn cảnh quan quan trọng của thành phố [11].

Montréal Old Port (Canada): Các nhà kho, bến tàu và cơ sở công nghiệp ven sông St. Lawrence được chuyển đổi thành bảo tàng, không gian sự kiện và tuyến đi bộ ven sông, nhưng vẫn giữ lại cấu trúc công nghiệp đặc trưng như cầu cẩu và nhà kho đá. Sự kết hợp này tạo ra một cảnh quan đô thị vừa giàu tính lịch sử vừa đáp ứng nhu cầu đương đại, đồng thời duy trì vai trò của di sản công nghiệp trong bản sắc đô thị Montréal [12].

Những kinh nghiệm này cho thấy di sản công nghiệp ven sông không chỉ là dấu tích của quá khứ mà còn là nguồn lực chiến lược cho tương lai đô thị, đặc biệt trong bối cảnh các thành phố đang tìm kiếm mô hình phát triển cân bằng giữa bảo tồn và đổi mới.

ThS-KTS. Nguyễn Vũ Mai Hân  -  TS-KTS. Hoàng Anh Tú (*)

_____________

(*) Khoa Kiến trúc, Trường Đại học Kiến trúc TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam)

Tài liệu tham khảo

  1. Gourdon, H. (1931). L’Indochine. Paris: Librairie Larousse.
  2. Minh Chiến, & Văn Duẩn. (2025). TP HCM là địa phương duy nhất trên cả nước có dân số trên 10 triệu người. Tuổi Trẻ Online. https://tuoitre.vn/nld/tp-hcm-la-dia-phuong-duy-nhat-tren-ca-nuoc-co-dan-so-tren-10-trieu-nguoi-196250613112444645.htm
  3. Lynch, K. (1960). The image of the city. MIT Press.
  4. McHarg, I. L. (1969). Design with nature. Natural History Press.
  5. UNESCO. (2011). Recommendation on the Historic Urban Landscape. Paris: UNESCO.
  6. Douet, J. (2012). Industrial heritage re-tooled: The TICCIH guide to industrial heritage conservation. Carnegie Publishing.
  7. Bie Plevoets & Koenraad Van Cleempoel. (2011). Adaptive reuse as a strategy towards conservation of cultural heritage: A literature review. In: Structural Studies, Repairs and Maintenance of Heritage Architecture XII. WIT Press.
  8. HafenCity Hamburg GmbH. (2010). HafenCity Masterplan. Hamburg.
  9. London Docklands Development Corporation (LDDC). (1998). LDDC Completion Report. London
  10. Meyer, H., & Westrik, J. (2014). Waterfronts in Post-Industrial Cities. TU Delft.
  11. Shanghai Planning Bureau. (2010). The Bund Conservation and Redevelopment Plan. Shanghai.
  12. Old Port of Montréal Corporation. (2000). Master Plan for the Old Port. Montréal.
bài viết liên quan
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.