Gạc Ma 1988: Trận huyết chiến không quên

 06:11 | Thứ tư, 06/08/2014  0

Đại tá Anh hùng quân đội Vũ Huy Lễ năm nay 70 tuổi. Ông hiện sống đời hưu trí tại khu Lũng Bắc, phường Đằng Hải, quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Năm 1988, ông là thuyền trưởng tàu HQ 505, có mặt trong trận chiến Gạc Ma lịch sử. Ông vừa trở lại thăm Trường Sa cùng với bộ Ngoại giao và phái đoàn Việt kiều. Chứng kiến sự lớn mạnh của Hải quân nhân dân Việt Nam, ông nói: “Tôi tin tưởng chúng ta đủ sức mạnh để giữ vững được đảo của mình”. Nhân câu chuyện Trung Quốc ngang nhiên đưa giàn khoan HD 981 cùng nhiều tàu thuyền quân sự vào vùng biển Việt Nam từ tháng 5 đến cuối tháng 7.2014, đại tá Vũ Huy Lễ chia sẻ với chúng tôi mảng hồi ức hết sức đặc biệt trong cuộc đời binh nghiệp của ông, đó là trận Gạc Ma 14.3.1988.

Hải trình đặc biệt

“Tốt nghiệp chỉ huy kỹ thuật hải quân ở trong nước và học viện hải quân Leningrad (thuộc Liên Xô cũ) năm 1982, tôi được phong quân hàm thiếu tá và được cử làm thuyền trưởng tàu HQ 505 (loại tàu vận tải đổ bộ hạng lớn của Mỹ ta thu được năm 1975) có sức chở trên 1.000 tấn, chiều dài gần 100m, rộng 30m. Nhiệm vụ của tàu HQ 505 là đổ bộ chiến đấu và vận tải quân sự cho quần đảo Trường Sa và các đảo khác theo yêu cầu, phục vụ nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và xây dựng của quân chủng Hải quân. Đầu năm 1988, tàu chúng tôi nhận lệnh chở vật liệu xây dựng công trình và hàng quân sự vào cảng Cam Ranh (Khánh Hoà). Theo kế hoạch, trả hàng xong chúng tôi sẽ tiếp tục nhận hàng ra Bắc ăn tết ngày 23 tết Mậu Thìn (ngày 13.2.1988), chúng tôi nhận lệnh chở vật tư công trình và kéo LCU 556 (loại tàu há mồm, đổ bộ của Mỹ) ra chốt giữ đảo Đá Lớn, cách Cam Ranh 460 hải lý.

Đại tá, Anh hùng quân đội Vũ Huy Lễ, năm 2014. Ảnh: tư liệu

Tuy nhiên, đó cũng là thời gian Trung Quốc đang ngang nhiên chiếm giữ đảo Chữ Thập (thuộc quần đảo Trường Sa). Suốt thời gian tàu chúng tôi ở trên biển, Trung Quốc liên tục cho máy bay bay thấp trinh sát, hoặc cho tàu đến gần đảo uy hiếp, khiêu khích, cản trở quân ta. Có hôm, quân Trung Quốc còn dùng loa công suất lớn đe doạ, yêu cầu chúng tôi rời khỏi khu vực, nếu không họ sẽ bắn chìm tàu. Nhưng chúng tôi không hề sợ và vẫn thực hiện đúng đối sách trên biển theo chủ trương của cấp trên: chốt đảo, giữ đảo.

Ngày 13.3.1988, chúng tôi đang làm nhiệm vụ tại đảo Đá Lớn trong tình trạng tàu đã gần hết nước ngọt, lương thực thực phẩm chỉ còn đủ cho ba ngày thì tàu HQ 604 cập mạn. Đồng chí Trần Văn Thông, lữ đoàn phó lữ đoàn 146 và đồng chí Vũ Phi Trừ, thuyền trưởng tàu HQ 604 sang tàu tôi giao mật lệnh của cấp trên “Khẩn trương đưa tàu HQ 505 đến chốt giữ đảo Cô Lin thuộc cụm đảo Sinh Tồn trước 18 giờ cùng ngày, đi trong đội hình có tàu 604 đến chốt giữ Gạc Ma. Yêu cầu hành trình phải bí mật, bất ngờ, đúng thời hạn, vị trí, xử lý tình huống chính xác khi địch ngăn chặn, cản đường, không để mắc mưu đối phương”.

Nhận nhiệm vụ xong, 12 giờ 30 tôi nhổ neo cho tàu xuất phát đến Cô Lin. Trên suốt hành trình, tàu chiến của Trung Quốc (tàu biển hiệu 502) liên tục ngăn chặn, có lúc địch còn thả trôi đúng hướng đi của tàu chúng tôi nhưng tàu HQ 505 vẫn vững hướng đi và giữ đúng tốc độ, kéo còi tránh và yêu cầu nhường đường. Khi tàu mình đến gần, họ mới nổ máy tránh đường. Rất nhiều lần ngăn cản tàu chúng tôi không được, tàu Trung Quốc quay sang ngăn cản tàu HQ 604 nhưng cũng không thể làm chùn bước anh em.

Chiều tối ngày 13.3.1988, tàu HQ 505 chúng tôi neo ở phía nam cách đảo Cô Lin 200 mét, hoạt động bình thường. Đảo Cô Lin thực chất chỉ là một bãi san hô hình tròn có diện tích gần 1km2. Thuỷ triều lên, bãi ngập chìm trong nước, triều rút xuống chỉ thấy đá mồ côi và những mỏm san hô nhô lên, còn lại hầu hết là san hô bằng phẳng, nước xâm xấp, có thể đi lại được. Đảo không có đất, không có cát.

Lúc cả tàu đang ăn cơm tối thì Trung Quốc cho hai tàu chiến tiến lại sát tàu mình rồi lại vòng sang tàu HQ 604 bên đảo Gạc Ma để trinh sát, do thám. Chúng tôi lập tức hội ý ban chỉ huy tàu và nhận định: “Đêm nay hoặc sáng mai Trung Quốc sẽ lên chiếm đảo của ta. Vì vậy, đến khi thuỷ triều rút xuống thấp nhất, ta sẽ hạ xuồng lên đảo, dùng cuốc chim và xà beng đào lỗ cắm cờ trên bãi san hô ở vị trí cao nhất”.

Tôi cử một tổ gồm bảy người do đồng chí Võ Tá Du - chính trị viên và đồng chí trung úy Phạm Xuân Điệp - ngành trưởng hàng hải lái tàu - chỉ huy công tác chuẩn bị và sẵn sàng hạ xuồng cứu sinh lên đảo cắm cờ.

Tôi cũng đã điện về sở chỉ huy báo cáo tình hình hoạt động của đối phương và nhận định của tôi, đồng thời báo cáo phương án hoạt động của mình nhưng không bắt được liên lạc do bị địch gây nhiễu sóng. Tôi lệnh đồng chí báo vụ mở máy trực liên tục theo phương án đã định. Cứ một tiếng lại mở rađa một lần để theo dõi các mục tiêu trên biển. Đêm ấy, anh em chỉ huy chúng tôi không ai ngủ được nên đã rủ nhau ngồi câu cá chờ thông tin liên lạc ở nhà chỉ đạo và chờ nước xuống.

Máu nhuộm đỏ bãi đá san hô

Khoảng 1 giờ đêm 14.3, chúng tôi bắt được liên lạc với sở chỉ huy. “Sở nhất trí như nhận định và phương án của đồng chí Lễ, hãy cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, chủ động xử lý các tình huống phức tạp có thể xảy ra”.

Tôi thông báo nội dung bức điện này cho các đồng chí cán bộ tàu và cho tổ cắm cờ hạ xuồng lên đảo.

Khoảng 4 - 5 giờ sáng, tổ cắm cờ về đến tàu, mọi người thức dậy chuẩn bị ăn sáng. Lúc này, đồng chí Trắc thủ rađa và đồng chí Văn tổ quan sát báo cáo phía Gạc Ma có nhiều mục tiêu đang tiến lên đảo. Tôi lên đài chỉ huy quan sát và hô báo động chiến đấu, đồng thời hạ lệnh nhổ neo khẩn cấp.

Lúc này trên tàu có tôi, đồng chí Tư - thuyền phó, đồng chí Du - chính trị viên, đồng chí Thắng - máy trưởng tàu. Chúng tôi nhìn sang đảo Gạc Ma (cách chỗ tàu HQ 505 gần hai hải lý) thì thấy hai tàu chiến Trung Quốc đang ở phía sau bắn đạn pháo vào tàu HQ 604. Trên đảo lố nhố người. Chỉ một lát sau khi bị bắn, tàu HQ 604 của ta bắt đầu chìm.

Sau khi tàu HQ 604 chìm, hai tàu chiến Trung Quốc liền quay súng sang tấn công tàu HQ 505 bằng hoả lực 75 - 85 - 100 li. Đạn pháo đã làm toàn bộ mạn phải tàu bị cháy, phòng thuyền trưởng và đài chỉ huy đều trúng đạn. Hầm dầu cũng bốc cháy dữ dội vì trúng đạn pháo của địch. Toàn tàu mất điện. Do nhân viên báo vụ bị thương nặng, phòng truyền tin bị vô hiệu hoá nên chúng tôi không thể báo cho sở chỉ huy biết để ứng cứu. Lúc này nước đã tràn vào hầm tàu và các khoang, hệ thống điện đã bị hỏng nên không lái được tàu, cộng thêm gió mùa đông bắc cứ đẩy tàu mỗi lúc một xa đảo hơn. Tôi đã yêu cầu anh em phải xuống hầm để chuyển sang chế độ lái cơ (bằng tay) nhưng vì tàu bị mất điện, hầm máy tối nên anh em không nhìn thấy đường để thực hiện lệnh. Cùng lúc đó, một quả đạn pháo của đối phương bắn trúng hầm tàu, làm rách một mảng hầm nên ánh sáng tràn vào, nhờ vậy mà thợ máy mới thực hiện được việc chuyển chế độ sang lái cơ.

Bộ đội Trường Sa ăn cơm ngay trên mâm pháo, trong tư thế sẵn sàng chiến đấu tháng 5.1988 - Ảnh: Nguyễn Viết Thái 

Do hai máy chính đều bị sự cố không hoạt động được, nước tràn vào làm nghiêng tàu, khả năng tàu bị chìm như tàu HQ 604 là hoàn toàn có thể xảy ra. Lúc đó, tôi nhận định tính mạng của 50 cán bộ chiến sĩ sẽ nguy hiểm, mất tàu mà đảo cũng không giữ được. Trước tình thế hiểm nghèo, tôi đã bàn bạc với anh em, quyết định phải nhanh chóng khắc phục sự cố máy tàu, đồng thời thực hiện việc bịt rò, chống đắm. Ít lâu sau, anh em báo lên máy đã được sửa chữa, tôi đang ở đài chỉ huy đã ra lệnh sử dụng một máy tiến một máy lùi để quay mũi tàu theo hướng chính diện với đảo, rồi dùng cả hai máy chạy hết công suất, lao vút lên. Kết quả, 2/3 thân tàu đã lên được đảo, biến tàu thành một pháo đài để chiến đấu chống lại tàu chiến Trung Quốc.

Lao được tàu lên bãi cạn tại đảo rồi, vũ khí chỉ còn súng bộ binh nhưng anh em quyết tâm chống lại sự tấn công của địch, quyết tâm giữ đảo đến cùng. Biết tàu tôi lên bãi cạn, không thể chìm được nữa, đối phương còn bắn một đợt nữa mới thôi và lùi ra xa. Tôi tổ chức cho anh em chữa cháy, cứu thương.

Lúc này, phía đảo Gạc Ma là cảnh tượng tan hoang ghê gớm. Nhiều mảnh vỡ, đồ đạc của tàu trôi dạt khắp nơi. Tôi đã lệnh cho hạ xuồng cứu sinh để cứu đồng đội. Trong đó, xuồng phía mạn phải tàu bị trúng đạn của địch nên bị hư hỏng, không sử dụng được. Chỉ còn xuồng phía mạn trái bị trúng đạn ít, được anh em khắc phục rồi hạ xuống biển. Hai đồng chí Nguyễn Xuân Đỉnh (trung uý chuyên nghiệp) và Dương Hải Nam (bí thư Đoàn) cùng với ba cán bộ, chiến sĩ hạ xuồng cứu sinh (loại lớn) sang Gạc Ma tìm kiếm. Đến 12 giờ cùng ngày, xuồng quay về với 44 người, trong số này, năm người đã hy sinh, nhiều người bị thương.

Cùng lúc với tàu HQ 604, tàu HQ 605 của ta cũng bị tàu chiến Trung Quốc bắn ở đảo Len Đao (cách Cô Lin 10 hải lý). Mặc dù tàu 605 cũng tìm cách lao lên đảo nhưng do đảo không thoải như Cô Lin nên tàu chỉ ghé được mũi lên đảo. Đến khi nước rút, tàu bị tụt xuống biển rồi chìm vào lúc 6 giờ ngày 15.3. Anh em trên tàu này đã bơi được về đảo Sinh Tồn. Đến tầm 11 - 12 giờ trưa ngày 14.3, tàu HQ 671 ra ứng cứu cập mạn phía sau lái, chúng tôi chuyển số anh em, tử sĩ tàu HQ 604 lên tàu và đưa về đảo Sinh Tồn. Tôi cũng viết báo cáo cho sở chỉ huy toàn bộ diễn biến của trận đánh, hiện trạng của ta và địch. Tàu ứng cứu cũng giúp chúng tôi dập các đám cháy trên tàu, sửa chữa một số hư hỏng tạm thời.

Tầm 4 - 5 giờ chiều, nhìn hai lá cờ tung bay trên đảo và trên tàu HQ 505, tôi vô cùng xúc động. Đảo mình đã giữ được, nhưng nghĩ đến anh em hy sinh đau đớn lại ngậm ngùi và căm phẫn vô cùng. Tuy nhiên, thấy rằng cần phải có lực lượng ở lại để chiến đấu, giữ đảo, nên ngay sau đó, tôi xin cấp trên chuyển toàn bộ anh em trên tàu HQ 505 về đảo Sinh Tồn, chỉ để lại chín cán bộ chiến sĩ ở lại chiến đấu. Năm thi thể chiến sĩ được đưa về chôn cất tại đảo Sinh Tồn, bốn năm sau mới được chuyển về đất liền. Sau này tôi được biết, tất cả có 64 người hy sinh, chín người bị bắt làm tù binh trong trận chiến 14.3.

Tàu HQ 505 đã lao lên bãi ngầm ở đảo Cô Lin cắm cờ khẳng định chủ quyền Việt Nam vào ngày 14.3.1988 - Ảnh: tư liệu

Những ngày ở lại là những ngày cực kỳ căng thẳng. Chúng tôi thường xuyên phải đối phó với sự đe doạ của tàu chiến Trung Quốc. Mỗi ngày hai lần vào buổi sáng và tối, Trung Quốc cho tàu chiến đấu đến gần tàu tôi để uy hiếp, đe doạ, chĩa nòng pháo thẳng vào tàu, rồi dùng loa yêu cầu chúng tôi rời khỏi tàu. Có ngày, chúng đến rất gần. Nghĩ đến anh em trên tàu HQ 604 đã hy sinh, chúng tôi rất căm phẫn, muốn sử dụng DKZ, B40, B41 để bắn chìm tàu của chúng nhưng khi báo cáo về sở chỉ huy việc quyết tâm bắn thắng quân địch để báo thù cho tàu HQ 604, sở chỉ huy đã trả lời: “Nắm vững đối sách trên biển, chỉ nổ súng khi đối phương đổ quân lên tàu, lên đảo. Bình tĩnh, sáng suốt, kiên cường bám đảo, không mắc mưu đối phương”.

Theo đại tá Vũ Huy Lễ, 64 cán bộ, chiến sĩ Gạc Ma hy sinh trong khi đang làm nhiệm vụ xây dựng nhà và công trình trên đảo Gạc Ma. Lúc hy sinh, anh em chỉ có vũ khí là tiểu liên, AK, không có súng lớn.

Sau ngày 14.3, ông Lễ cùng với chín đồng đội khác đã kiên trì bám trụ lại trên “bệ pháo HQ 505” ở Cô Lin suốt hai tháng. Ngày nào quân Trung Quốc cũng cho tàu chiến đến đe doạ. “Có ngày chúng quấy nhiễu ba đến bốn lần, dùng loa réo tên tôi ra hàng. Nhưng điều đó khiến tôi và anh em càng quyết tâm bảo vệ đảo”, ông Lễ kể.

Có thể nói, ở trận chiến Gạc Ma chính quân Trung Quốc đã ngăn chặn, đe doạ và tấn công hải quân ta, trong khi chúng ta luôn rất cố gắng kiềm chế, ôn hoà. Những ngày trụ lại đảo, bộ đội ta không chỉ căng thẳng về tinh thần, do thực phẩm cạn, tiếp tế khó khăn, cứ đêm đến vài chiến sĩ phải đốt đuốc xuống bãi san hô bắt cá. Có hôm ăn bị ngộ độc, nhiều người đau buốt xương khớp, cả tuần mới khỏi. Dù có thể rút về đảo Sinh Tồn nghỉ ngơi, phục hồi sức khoẻ nhưng thuyền trưởng Lễ đã bám trụ lại đảo Cô Lin cùng các chiến sĩ đến tháng 6.1988, chính vì thế mà chủ quyền trên đảo Cô Lin được giữ vững cho đến ngày hôm nay.

Trả lời về câu hỏi quần đảo Hoàng Sa bị Trung Quốc dùng vũ lực chiếm năm 1974, về những chiến sĩ của quân đội Việt Nam Cộng hoà đã hy sinh để giữ đảo, ông Lễ nói: “Đã là người Việt Nam, bất kỳ ai, bất kỳ phía nào có tinh thần chiến đấu, hy sinh vì chủ quyền của Tổ quốc, chúng tôi đều trân trọng. Họ đều là người Việt Nam giữ đảo”.

Niềm tự hào và cũng là niềm an ủi của đại tá hải quân Vũ Huy Lễ là con trai ông cũng nối tiếp truyền thống của cha mình, trở thành quân nhân, công tác tại bộ tư lệnh Hải quân. Hàng năm, ông Lễ vẫn tổ chức gặp gỡ anh em đồng đội trên tàu HQ 505 xưa để ôn lại truyền thống chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Gặp nhau khi mái đầu đã bạc nhưng niềm tự hào vì đã trực tiếp chiến đấu anh dũng, giữ được đảo Cô Lin của Tổ quốc không bao giờ phai mờ trong tâm trí những người lính năm xưa. Tuy nhiên, khi nhớ đến những đồng đội đã hy sinh trong trận chiến giữ đảo Gạc Ma nhưng đến nay vẫn còn phải nằm lại trong lòng biển cả chưa trở về được với quê hương, gia đình, niềm xót thương và nỗi uất nghẹn vẫn nguyên vẹn trong lòng những người lính may mắn sống sót sau trận chiến…

Trung Quốc đã bỏ qua những quy tắc nhân đạo trong chiến tranh

Từ tết năm 1988, xuất phát từ tình hình Trung Quốc đưa quân chốt giữ một số bãi đá ngầm thuộc chủ quyền Việt Nam như Châu Viên, Chữ Thập…, quân chủng hải quân chỉ thị lữ đoàn 146 vùng 4 hải quân (lữ đoàn Trường Sa), trung đoàn công binh 83 (E83 công binh hải quân), đoàn 125 và lữ đoàn tàu 171 cùng một số lực lượng khác trong quân chủng hải quân tập trung xây dựng và chốt giữ các bãi đá ngầm thuộc chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa, trong đó có cụm đảo Sinh Tồn với ba tàu HQ 604, HQ 605 và HQ 505.

Chiều ngày 13.4.1988, các tàu tập kết đúng vị trí quân chủng giao. Tàu HQ 604 chốt giữ đảo Gạc Ma, tàu HQ 605 chốt giữ đảo Cô Lin và tàu HQ 505 nhận nhiệm vụ tại đảo Len Đa. Các chiến sĩ bắt tay vào nhiệm vụ bốc vác vật tư thiết bị xây dựng đảo và dựng bia chủ quyền trên các đảo ngầm nói trên. “4 giờ sáng ngày 14.3.1988, khi anh em ta tiếp tục bắt tay vào công việc vận chuyển vật liệu xây đảo thì hai tàu hộ vệ pháo Trung Quốc đậu ngoài khơi thả xuồng con vào các đảo của ta để gây sự. Mỗi xuồng 3-4 tên đổ bộ lên đảo. Thiếu úy Trần Văn Phương cầm lá cờ Tổ quốc cắm lên bia chủ quyền. Một tên lính Trung Quốc trèo lên giật xuống, Phương lại cương quyết leo lên cắm lại lá cờ xác định chủ quyền của ta trên đảo Gạc Ma, tên địch lao theo kéo chân Phương. Và quân địch đã bắn Phương ngã xuống bằng các phát đạn vào bụng và vào trán, hạ sĩ Nguyễn Văn Lanh cũng bị địch bắn trúng ngay lúc đó.

Sau khi phía Trung Quốc nổ súng, xung đột xảy ra. Hai tàu hộ vệ của hải quân Trung Quốc xả đạn vào ba tàu của ta đang neo ở các đảo. Tàu HQ 604 chìm ngay tại chỗ. Sau khi bắn chìm tàu của Hải quân Việt Nam, bỏ qua các quy tắc nhân đạo chiến tranh, các tàu Trung Quốc thu quân và bỏ chạy ra khỏi khu vực. Các cán bộ, chiến sĩ trên tàu HQ 605 bị thương nhưng may mắn bám được vào vật liệu nổi và được các đồng đội cứu sau đó. Trong trận chiến đấu ác liệt này để bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc, máu đồng đội tôi đã nhuộm đỏ thắm biển Đông…

(Hồi ức của Đại tá Trịnh Xuân Trường - trưởng ban tổ chức lữ đoàn 146, phó chủ nhiệm chính trị tàu HQ 605)

________________________

(*) Trích chương đầu bản thảo sách Gạc Ma – Vòng tròn bất tử được chuẩn bị để tưởng niệm 26 năm ngày 64 chiến sĩ hải quân và công binh Việt Nam bị quân Trung Quốc xâm lược sả súng bắn chết ngày 14.3.1988 tại đảo Gạc Ma. Nguồn: Nguyễn Văn Phước, First News.

Tựa, các tựa phụ và lời toà soạn do Người Đô Thị đặt. 

 

bài viết liên quan
TAGS
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.