Hà Nội hiện đang đứng trước một ngã rẽ văn hóa như vậy. Theo phương án được công bố, tượng đài “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” tại khuôn viên Di tích quốc gia đền Bà Kiệu sẽ được di chuyển khỏi bờ Đông hồ Hoàn Kiếm, dự kiến đưa về Trung đoàn 692, Sư đoàn Bộ binh 301 thuộc Bộ Tư lệnh Thủ đô.
Mục tiêu đặt ra là chỉnh trang cảnh quan văn hóa - lịch sử khu vực trung tâm, đồng thời đưa tác phẩm về một không gian gắn bó mật thiết với lực lượng vũ trang Thủ đô để giáo dục truyền thống. Tuy nhiên, lưu ý mới đây của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội khi yêu cầu nghiên cứu kỹ địa điểm mới - nơi đặt tượng phải tương xứng với tầm vóc công trình và bảo đảm tính tiếp cận thuận tiện cho người dân, du khách cho thấy đây không thể là một quyết định hành chính đơn thuần nhằm đưa tượng vào một doanh trại quân đội khép kín.
Yêu cầu về tính mở của không gian công cộng và quyền tiếp cận di sản của cộng đồng vẫn là trung tâm của câu chuyện.

Tượng đài “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” nằm trong khuôn viên Di tích quốc gia đền Bà Kiệu. Ảnh: VOV
Không nên đặt vấn đề theo lối “tượng xấu thì bỏ”
Có ý kiến cho rằng về mặt điêu khắc, hình thức tượng đài hiện nay chưa thật xuất sắc, trong khi vị trí đắc địa bên hồ Gươm cần nhường chỗ cho một điểm nhấn thẩm mỹ hoàn thiện hơn. Đó là góc nhìn quy hoạch và mỹ thuật có thể trao đổi. Nhưng nếu lấy lăng kính “đẹp - xấu” làm lý do chủ đạo để di dời một công trình mang tính biểu tượng thì rất dễ rơi vào phiến diện.
Tượng đài trước hết là một vật mang ký ức. Giá trị cốt lõi của nó hình thành từ mối giao hòa giữa hình tượng nghệ thuật, địa điểm hiện hữu, sự kiện lịch sử và cảm thức cộng đồng. Một công trình có thể chưa hoàn mỹ về thị giác nhưng vẫn sở hữu dung lượng lịch sử đặc biệt; ngược lại, một tác phẩm mỹ miều nhưng thiếu vắng sợi dây kết nối ký ức xã hội sẽ khó lòng trở thành biểu tượng.
Khẩu hiệu “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” bắt nguồn từ bức thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi các chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô nhân dịp đón năm mới 1947(*). Tượng đài gợi nhắc 60 ngày đêm khói lửa oanh liệt (19.12.1946 – 17.2.1947), mở đầu cuộc kháng chiến toàn quốc.
Do đó, di dời khối vật chất của bức tượng không đồng nghĩa với di dời ký ức với điều kiện tiên quyết là thành phố phải kiến tạo được một phương thức biểu đạt mới đủ tầm vóc để giữ cho ngọn lửa ký ức ấy tiếp tục sống.

Người dân tham quan, chụp ảnh tại khu vực tượng đài “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”. Ảnh: TTXVN
“Lũy hoa” và bài học: Lịch sử không chỉ thuộc về người cầm súng
Để nhìn nhận đúng chiều sâu của sự kiện, có lẽ cần soi chiếu vào tác phẩm Lũy hoa của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng. Trong thiên truyện ấy, 60 ngày đêm bảo vệ Thủ đô không chỉ có súng đạn và chiến sĩ, mà hiện lên qua cả một xã hội thu nhỏ: những góc phố cổ, chợ Đồng Xuân, Hàng Gai, Hàng Đào; những bác tiểu thương, em liên lạc, bà mẹ tản cư, trí thức và tự vệ thành.
Trong lửa đạn điêu tàn, Hà Nội vẫn giữ trọn nét hào hoa, thanh lịch: có tiếng đàn ngân lên bên chiến lũy, có cành đào Tết, bánh chưng xanh và những mối tình bình dị, kiên cường. Đó mới là bản chất đa tầng của tinh thần “Quyết tử”. Nếu tượng đài chỉ được đặt trong khuôn viên thuần túy quân sự, chúng ta vô tình thu hẹp ý nghĩa bao la của một cuộc toàn dân kháng chiến thành biểu trưng nội bộ của một đơn vị. Khúc tráng ca mùa đông 1946 thuộc về Trung đoàn Thủ đô, thuộc về toàn thể người dân Hà Nội và thuộc về bản lĩnh của cả dân tộc.
Bởi vậy, nếu chuyển giao tác phẩm, không gian tiếp nhận phải được tổ chức như một công viên ký ức mở, nơi công chúng, học sinh, sinh viên và du khách có thể tự do tìm đến chiêm nghiệm, chứ không phải một “kho bảo quản hiện vật” đóng kín.

Mặt sau tượng đài “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” cùng dấu mốc năm 1946 được thể hiện trên bệ tượng. Ảnh: TTXVN
Hồ Gươm có cần một “khoảng thở” cảnh quan?
Ở chiều ngược lại, mong muốn chỉnh trang, tái thiết không gian Hồ Gươm của giới chuyên môn và nhà quản lý là hoàn toàn chính đáng. Hồ Hoàn Kiếm là trái tim di sản của Hà Nội, nơi mật độ biểu tượng rất đậm đặc: tháp Rùa, đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc, đền Bà Kiệu, tháp Bút, đài Nghiên...
Khi một không gian văn hóa đã dung chứa quá nhiều lớp trầm tích, câu hỏi đặt ra là các biểu tượng ấy đang tôn vinh hay lấn át lẫn nhau? Nếu một khối kiến trúc hiện đại vô tình chia cắt tầm nhìn hoặc làm lu mờ không gian tôn nghiêm của di tích cổ đền Bà Kiệu, việc nghiên cứu điều chỉnh cảnh quan là bài toán cần thiết. Hơn nữa, Thủ đô hiện vẫn có phù điêu “Hà Nội mùa Đông năm 1946” tại chợ Đồng Xuân và tượng đài “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” tại vườn hoa Vạn Xuân, nghĩa là sự kiện lịch sử này vẫn được ghi dấu ở nhiều vị trí trung tâm.
Tuy vậy, chỉnh trang đô thị không thể biến thành việc “dọn dẹp sạch sẽ” ký ức khỏi không gian công cộng. Một đô thị lịch sử văn minh không chỉ phô diễn vẻ ngoài trau chuốt, mà là nơi biết sắp đặt để các lớp trầm tích thời gian cùng chung sống hài hòa.
Thay vì một tấm bia đơn điệu, cần một không gian kể chuyện đương đại nhiều người gợi ý sau khi chuyển tượng, chỉ cần đặt tại bờ hồ một tấm bia đá ghi tóm tắt chiến công. Ý kiến này xuất phát từ thiện chí, nhưng lối tư duy “thay tượng bằng bia” một cách cơ học khó lòng khỏa lấp được khoảng trống.
Bia ký và tượng đài mang hai chức năng biểu đạt khác nhau: một bên thiên về văn tự, tư liệu; một bên giàu tính ước lệ thị giác và cảm xúc. Khi đã quyết định trả lại sự thoáng đãng cho đền Bà Kiệu, vị trí này vẫn cần một dấu ấn lịch sử đủ tinh tế và đĩnh đạc để người qua đường nhận biết nơi mình đứng từng là một chiến lũy. Không nhất thiết phải dựng thêm một bức tượng khác.
Thành phố hoàn toàn có thể ứng dụng các giải pháp kiến trúc cảnh quan đương đại: một cụm phù điêu nghệ thuật chìm dưới mặt sàn, tích hợp công nghệ tương tác số (mã QR, âm thanh thuyết minh đa ngữ, bản đồ chiến sự số hóa 3D), kết hợp nghệ thuật chiếu sáng tinh tế vào ban đêm. Khi đó, Hồ Gươm không hề mất đi ký ức, mà câu chuyện 60 ngày đêm lịch sử được tái hiện bằng một ngôn ngữ văn hóa hiện đại, thanh thoát và gần gũi hơn với thế hệ trẻ.

Toàn cảnh Hồ Gươm nhìn từ trên cao. Ảnh: Tiền Phong
Bài học quốc tế về việc tái định vị biểu tượng
Việc điều chỉnh vị trí hay cách diễn giải các biểu tượng công cộng không phải chuyện riêng của Hà Nội. Nhìn ra thế giới, từ việc các đô thị châu Âu như Berlin sắp xếp lại các tác phẩm tượng đài sau biến động lịch sử, cho đến những tranh luận sâu sắc tại Mỹ về hệ thống tượng đài thời kỳ Nội chiến, giới nghiên cứu di sản quốc tế đã đúc kết một nguyên lý quan trọng: Bản thân tượng đài không đồng nhất hoàn toàn với lịch sử, và việc thay đổi vị trí tác phẩm không đồng nghĩa với xóa bỏ quá khứ.
Dù mỗi quốc gia đối diện với những bối cảnh chính trị - văn hóa khác nhau, điểm chung lớn nhất nằm ở phương pháp luận: xã hội không chỉ đứng trước lựa chọn nhị nguyên “giữ nguyên hay đập bỏ”, mà quan trọng là tái định vị và làm mới cách diễn giải ký ức trong bối cảnh đương đại.
Giữ nguyên vị trí cũ chưa chắc đã là bảo tồn nếu công trình bị lãng quên hoặc lạc lõng trong không gian mới; nhưng di dời sẽ trở thành sai lầm nếu cắt đứt sợi dây liên hệ giữa di sản với cộng đồng. Không gian tưởng niệm thuộc về ai?
Vật thể có thể chuyển dời, cảnh quan có thể quy hoạch lại, nhưng tinh thần của một thành phố đã từng kiên cường chiến đấu để trường tồn phải luôn được khắc sâu trong tâm thức người dân.
Một không gian đô thị khi đã gắn liền với thói quen tưởng niệm, tri ân và cảm xúc của bao thế hệ thì nơi đó đã mang một lớp “ký ức xã hội” thiêng liêng. Chính quyền có quyền năng quy hoạch, nhưng càng liên quan đến không gian ký ức, quá trình ra quyết định càng đòi hỏi sự minh bạch, sự tham vấn của giới nghiên cứu và sự đồng thuận của nhân dân.
Ký ức cộng đồng không thể bị điều chỉnh đơn giản chỉ bằng một mệnh lệnh hành chính. Hơn nữa, trong bối cảnh Hà Nội hội nhập sâu rộng, mỗi biểu tượng nơi trung tâm đều là tấm gương phản chiếu bản sắc văn hóa của Thủ đô trong mắt bạn bè quốc tế.
Cách một thành phố ứng xử thấu đáo, nhân văn với lịch sử của chính mình sẽ khẳng định vị thế của một đô thị văn minh, biết trân trọng cội nguồn trong dòng chảy phát triển.
Bốn điều cần tránh
Để việc di dời và tái thiết đạt được sự đồng thuận cao nhất, có bốn điều Hà Nội cần hết sức lưu tâm:
Tránh biến vấn đề thành tranh luận mỹ thuật hẹp hòi: Không thể dùng tiêu chuẩn hình thức “đẹp hay xấu” để định đoạt số phận của một chứng tích lịch sử.
Tránh biến di dời thành cất giữ: Nơi tiếp nhận mới phải là một không gian văn hóa mở, thuận tiện cho người dân và khách tham quan tiếp cận, phát huy tối đa giá trị giáo dục truyền thống.
Tránh tạo ra “khoảng trống ký ức” tại Hồ Gươm: Khi tượng chuyển đi, vị trí cũ phải có hình thức đánh dấu lịch sử xứng tầm, tránh để nơi chốn trở nên vô danh theo thời gian.
Tránh thiếu vắng sự đối thoại: Mọi phương án quy hoạch và bảo tồn cần được luận giải thấu đáo trên cơ sở khoa học, lịch sử và lắng nghe ý kiến cộng đồng.
Lời kết
Di dời một tượng đài có thể trở thành một cơ hội tích cực để Hà Nội nâng cấp cách thức tưởng niệm lịch sử. Tại địa điểm mới, nếu công trình được quy hoạch trang nghiêm, có hồ sơ khoa học, có trưng bày tư liệu hoàn chỉnh về Trung đoàn Thủ đô và người Hà Nội kháng chiến, giá trị biểu tượng sẽ được bồi đắp và lan tỏa mạnh mẽ hơn.
Song song đó, dấu ấn ký ức được kể lại bên bờ Hồ Gươm bằng ngôn ngữ thiết kế đương đại sẽ giúp thế hệ hôm nay và mai sau luôn thấu hiểu: đã từng có một Hà Nội mùa đông 1946 kiên cường, nơi mỗi góc phố hóa chiến hào, mỗi người dân là một chiến sĩ, tất cả cùng đúc kết nên khí phách "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh".
Vật thể có thể chuyển dời, cảnh quan có thể quy hoạch lại, nhưng tinh thần của một thành phố đã từng kiên cường chiến đấu để trường tồn phải luôn được khắc sâu trong tâm thức người dân. Giải quyết hài hòa bài toán ấy, việc di dời bức tượng sẽ không phải là sự mất mát, mà là minh chứng cho một đô thị thực sự trưởng thành và bản lĩnh trong cách nâng niu di sản của chính mình.
Tô Văn Trường
________________
(*) Ngày 27.1.1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Thư gửi các chiến sĩ cảm tử quân Thủ đô” để thăm hỏi tình hình ăn Tết, khen ngợi tinh thần gan dạ chiến đấu của các chiến sĩ và dặn dò những điều cần thiết. Bức thư có đoạn: “Các em là đội cảm tử. Các em cảm tử để cho Tổ quốc quyết sinh. Các em là đại biểu cái tinh thần tự tôn tự lập của dân tộc ta mấy nghìn năm để lại, cái tinh thần quật cường đó đã kinh qua Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, truyền lại cho các em. Nay các em gan góc tiếp tục cái tinh thần bất diệt đó, để truyền lại cho nòi giống Việt Nam muôn đời về sau”. (Nguồn: quocphongthudo.vn)