Chống ngập đô thị: Không thể chỉ lo cống, phải quản trị cả lưu vực

 21:37 | Thứ sáu, 21/08/2026  0
Hội thảo quốc tế “Quản lý ngập lụt đô thị và lưu vực sông” do Trường Đại học Thủy lợi, Hội Thủy lợi Việt Nam và JICA Việt Nam phối hợp vừa tổ chức, đã phân tích toàn cảnh rủi ro ngập úng đô thị hiện nay. Qua đối chiếu bài học quản trị lưu vực của Nhật Bản với thực trạng hạ tầng tiêu thoát nước trong nước, các chuyên gia chỉ rõ định hướng chiến lược chuyển dịch tư duy từ ứng phó sự cố sang quản lý tích hợp rủi ro ngập lụt toàn diện và bền vững.

Chuyên gia JICA Việt Nam Moriyasu Kunihiro chia sẻ thực tế và kinh nghiệm từ Nhật Bản.


Đô thị hóa làm lưu vực mất khả năng “giữ nước”

Sự gia tăng nhanh chóng của các không gian đô thị hiện đại đang tạo ra sức ép nặng nề lên hạ tầng thoát nước truyền thống. Nhìn lại tiến trình phát triển tại Nhật Bản, ông Moriyasu Kunihiro, chuyên gia JICA Việt Nam, chia sẻ thực tiễn tại lưu vực sông Tsurumi thuộc khu vực Tokyo và tỉnh Kanagawa.

Vào năm 1958, tỷ lệ đô thị hóa tại đây chỉ đạt khoảng 10%, nhưng đã tăng vọt lên 85% vào năm 1997. Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất quy mô lớn trên các vùng cao nguyên và đồi núi ngoại ô đã làm suy giảm nghiêm trọng chức năng giữ nước, trữ nước tự nhiên vốn có của toàn bộ lưu vực.

Khi bề mặt đất bị phủ kín bởi bê tông và nhựa đường, rừng cùng các ruộng lúa biến mất, lượng nước mưa thấm xuống đất giảm mạnh, làm tăng đột biến lượng nước chảy xuống hạ lưu. Khoảng thời gian từ lúc lượng mưa đạt đỉnh đến khi lưu lượng dòng chảy đạt đỉnh bị rút ngắn, khiến lưu lượng đỉnh lũ tăng vọt và gây ra hàng loạt đợt ngập lụt nghiêm trọng.

Bản vẽ những hồ điều hòa chống ngập sắp đào ở Hà Nội trong kế hoạch triển khai. Ảnh: Xuân Hưng


PGS-TS. Đặng Minh Hải, Trường Đại học Thủy lợi, cho biết các đô thị tại Việt Nam cũng đang trải qua bài toán thách thức tương tự, khi khoảng 90% hệ thống thoát nước tại các đô thị Việt Nam là hệ thống thoát nước chung.

Nhiều tuyến cống tại khu vực lõi lịch sử được xây dựng từ 40 đến 60 năm trước có kích thước nhỏ, cao độ đấu nối không đồng nhất và đã suy giảm khả năng chuyển tải. Quá trình bê tông hóa làm tăng nhanh diện tích mái nhà, đường giao thông, thu hẹp hành lang thấm tự nhiên, làm hệ số dòng chảy tăng cao và nước tập trung về cống rất nhanh.

Nhiều hệ thống hiện nay chỉ được tính toán cho trận mưa từ 50 đến 100 mm trong vài giờ, trong khi thực tế ghi nhận nhiều đợt mưa cực đoan đạt từ 200 đến 300 mm, thậm chí vượt 500 mm. Theo số liệu tổng hợp năm 2024 từ các địa phương có báo cáo, cả nước ghi nhận 397 điểm ngập với tổng diện tích ngập úng khoảng 924,16 ha.

Kịch bản ngập úng từng vùng và điểm nghẽn hạ tầng

Tình trạng ngập lụt đô thị tại Việt Nam không diễn ra theo một kịch bản duy nhất, mà biến đổi linh hoạt theo đặc điểm địa hình từ miền núi, đồng bằng đến ven biển. Ở các đô thị miền núi, địa hình dốc khiến nước tập trung nhanh, tạo dòng chảy xiết kéo theo bùn đất, rác thải, có thể đi kèm lũ quét và sạt lở.

Trong khi đó, tại các đô thị đồng bằng và ven biển như TP.HCM, Cần Thơ hay Hải Phòng, ngập úng lại là sự kết hợp giữa mưa lớn, triều cường, nước biển dâng và hiện tượng sụt lún nền đất.

Tại TP.HCM, triều cường dâng cao làm ngập cục bộ khu dân cư khu vực bờ hữu và bờ tả ven sông Sài Gòn. Ảnh: Bùi Quốc Hoàng


Đi sâu vào bài toán cụ thể của Hà Nội, ông Lê Văn Du, Trưởng phòng Quản lý hạ tầng cấp, thoát nước thuộc Sở Xây dựng Hà Nội, chia sẻ thực trạng hệ thống thoát nước Thủ đô hiện được chia thành ba vùng tiêu chính gồm: Tả Đáy, Hữu Đáy và Bắc Hà Nội, với 18 lưu vực với tổng diện tích khoảng 125.400 ha theo Quy hoạch 725.

Các đợt mưa lớn do hoàn lưu bão trong năm 2025 với lượng mưa phổ biến trên 200 mm, có nơi vượt 400 đến 500 mm trong thời gian ngắn, đã gây quá tải nghiêm trọng cho hệ thống. Mặc dù khu vực nội đô thuộc lưu vực sông Tô Lịch đã có cải thiện về thời gian rút nước nhờ công trình đầu mối Yên Sở, các khu vực phía Tây, Tây Nam và các vùng phát triển mới vẫn xuất hiện ngập kéo dài.

Phương tiện chết máy do ngập lụt trên đường Đà Nẵng (TP. Hải Phòng). Ảnh: Giang Linh


Nút thắt lớn nhất hiện nay nằm ở tiến độ hoàn thiện các công trình đầu mối. Điển hình như Trạm bơm Yên Nghĩa có công suất 120 m³/s đã xây dựng xong nhưng chưa thể phát huy tối đa hiệu suất, do kênh La Khê chưa hoàn thiện và sông Đáy chưa được nạo vét đồng bộ. Bên cạnh đó, tổng diện tích hồ điều hòa thực tế toàn thành phố hiện mới đạt khoảng 1.010 ha, tương đương chưa đến một phần năm so với mục tiêu 5.405 ha trong quy hoạch.

Dưới góc độ quản lý tài nguyên, TS. Nguyễn Văn Mạnh, đại diện Trung tâm Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước quốc gia, khẳng định rào cản lớn trong công tác chống ngập hiện nay xuất phát từ sự thiếu thống nhất trong quản lý lưu vực sông. Nguyên nhân đến từ sự chia cắt bởi địa giới hành chính của nhiều tỉnh, thành phố.

TS. Nguyễn Văn Mạnh chỉ ra sự thiếu thống nhất trong quản lý lưu vực sông.


Những bài học thực tiễn từ Nhật Bản

Kinh nghiệm ứng phó ngập lụt của Nhật Bản mang đến bài học quan trọng về sự dịch chuyển sang quản lý toàn diện theo lưu vực sông. Quá trình đô thị hóa làm gia tăng diện tích bê tông hóa và làm giảm diện tích ao hồ hay rừng tự nhiên. Điều này khiến lượng nước mưa chảy tràn tăng nhanh và làm thời gian đỉnh lũ xuất hiện sớm hơn. Theo ông Moriyasu Kunihiro, Nhật Bản đã giải quyết bài toán này bằng cách kết hợp đồng bộ nhiều giải pháp thực tiễn.

Biện pháp kiểm soát lũ lụt toàn diện lưu vực sông tại Nhật Bản.


Trước hết, các đô thị tiến hành cải tạo lòng sông và nâng cao khả năng thoát nước. Nhật Bản thực hiện nạo vét, mở rộng dòng chảy và gia cố bờ kè. Hệ thống cống xả, trạm bơm công suất lớn và các đường ống ngầm trữ nước mưa cũng được xây dựng đồng bộ.

Song song với đó, chính quyền triển khai các giải pháp trữ và thấm nước mưa ngay trên toàn lưu vực. Các khu chậm lũ đa năng được thiết lập để giảm áp lực cho dòng sông chính. Những công trình này có thể kết hợp làm công viên hoặc bãi đỗ xe khi thời tiết khô ráo.

Bên cạnh các bể trữ nước ngầm quy mô lớn, việc sử dụng vỉa hè thấm nước và bể thu gom nước mưa nhỏ tại từng hộ gia đình cũng được khuyến khích.

Đề xuất kết hợp giải pháp thấm nước với xây dựng công trình công cộng.


Đặc biệt, việc quản lý ngập lụt được gắn liền với quy hoạch đô thị và thể chế hóa bằng pháp luật. Chính quyền kiểm soát chặt chẽ việc xây dựng tại các khu vực có nguy cơ ngập cao. Các không gian xanh và hành lang thoát lũ tự nhiên luôn được ưu tiên bảo tồn. Sự phối hợp liên ngành được duy trì thông qua mô hình Hội đồng quản lý lũ lụt lưu vực sông. Mô hình này kết hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương, cơ quan quản lý sông và các đơn vị phát triển đô thị.

Hệ thống pháp luật quy định rõ ràng nghĩa vụ bảo tồn hồ điều tiết. Các hoạt động phát triển làm giảm khả năng thấm nước mưa đều phải qua kiểm duyệt nghiêm ngặt. Ngoài ra, việc ban hành bản đồ nguy cơ ngập lụt và vận hành hệ thống cảnh báo sớm giúp giảm thiểu tối đa thiệt hại cho cộng đồng.

Dự án trạm bơm Liên Mạc với công suất bơm 170 m3/s. Ảnh: Đinh Hà


Từ chống ngập đến quản trị dòng nước

Từ thực tiễn trong nước và kinh nghiệm quốc tế, hội thảo đề xuất Việt Nam cần sớm hoàn thiện khung pháp lý về quản lý lưu vực sông, nâng cao vai trò của các Ủy ban lưu vực sông và xây dựng quy định bắt buộc về kiểm soát dòng chảy tràn đô thị, gắn trách nhiệm của chủ đầu tư dự án bất động sản trong việc duy trì dung tích trữ nước nội khu.

PGS-TS. Đặng Minh Hải nhấn mạnh, việc kết hợp cải tạo mạng lưới cống với bảo vệ hồ hiện hữu là rất quan trọng. Các giải pháp thoát nước đô thị bền vững cần được đẩy mạnh áp dụng. Nhóm giải pháp này bao gồm mái nhà xanh, vỉa hè thấm nước, hố thấm và rãnh sinh học.

Bên cạnh đó, việc vận hành thông minh đòi hỏi ứng dụng công nghệ IoT cùng cảm biến đo mực nước theo thời gian thực. Công nghệ bản sao số (digital twin) cũng cần được đưa vào khai thác.

PGS-TS. Đặng Minh Hải nhấn mạnh kết hợp hạ tầng kỹ thuật và quản lý lưu vực.


Về phía địa phương, ông Lê Văn Du cho biết, Hà Nội đang tập trung rà soát Quy hoạch thoát nước Thủ đô. Thành phố tiến hành đẩy nhanh tiến độ nạo vét các tuyến kênh trục La Khê và Lại Yên. Các dự án trạm bơm Liên Mạc, Gia Thượng, Cự Khê đang được tích cực triển khai. Hà Nội kiên quyết bảo vệ và mở rộng hệ thống hồ điều hòa. Đồng thời, công tác phối hợp liên ngành cũng được tăng cường.

Nhu cầu vốn đầu tư cho hạ tầng thoát nước và xử lý nước thải đến năm 2030 ước đạt 250.000 đến 300.000 tỷ đồng. Việc phân bổ nguồn lực cần dựa trên mức độ giảm thiểu rủi ro của từng khu vực. Mức độ hoàn chỉnh của chuỗi công trình theo từng lưu vực cũng là cơ sở quan trọng để đầu tư.

Tư duy quản trị lưu vực một cách quyết liệt, nhất quán từ kinh nghiệm Nhật Bản cần được kết hợp chặt chẽ với các giải pháp kỹ thuật linh hoạt. Sự chủ động này giúp các đô thị Việt Nam ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu, và hướng tới phát triển an toàn, bền vững.

Bài và ảnh: Đoan Túc

bài viết liên quan
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.