Tuy từ những năm 2000, tên tuổi họa sĩ lão thành Thuận Hồ không còn được nhắc nhiều vì ông đã lớn tuổi và ngưng vẽ từ lâu, nhưng ấn tượng về ông vẫn còn sâu đậm trong ký ức những người quan tâm mỹ thuật trên đất Sài Gòn - Gia Định giai đoạn 1940 - 1990.
Thuận Hồ tên thật là Hồ Tấn Thuận, được phong là “Vua bột màu” với những đề tài gần gũi đời sống miền Nam như cảnh nông thôn với sông nước và con thuyền, ruộng đồng, chợ búa… (*) Nếu là cảnh thành thị thì hình tượng các thiếu nữ áo dài chiếm phần nhiều, cảnh chợ hoa trên phố hoặc tĩnh vật với hoa trái miền Nam. Các đề tài gần gũi cuộc sống đời thường, êm đềm và dịu mắt… của ông không thể hiện những cảm hứng đột phá nhưng được ưa chuộng vì tính mỹ thuật, mang đến cho người thưởng ngoạn những cảm xúc dịu dàng đầy vọng tưởng về cuộc sống thanh bình trong lúc chiến cuộc tràn lan khắp miền Nam.

Thuận Hồ được phong là “Vua bột màu”.
Trước khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ II, ở Sài Gòn không có nhiều cuộc triển lãm tranh so với Hà Nội - nơi có Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Tuy nhiên báo chí thời đó có nhắc đến cuộc trưng bày của nữ họa sĩ Lê Thị Ẩn mùa hè năm 1938 tại Nhà hát Tây (nay là Nhà hát TP.HCM) với 70 bức vẽ theo phong cách Trung Hoa hiện đại.
Sang năm 1942, người Sài Gòn có dịp xem trong hội chợ Sài Gòn treo những bức tranh đẹp mà chính phủ thuộc địa chọn để mang sang triển lãm tại Nhật Bản, đa số của các họa sĩ xuất thân từ Trường Mỹ thuật Đông Dương như Tô Ngọc Vân, Nam Sơn, Lương Xuân Nhị, Trần Văn Cẩn, Lê Văn Đệ, Nguyễn Anh, Lưu Đình Khải… Cùng lúc đó, có vài cuộc triển lãm của một số họa sĩ nổi tiếng khác như Nguyễn Cao Thương, Nguyễn Huyến và Ủ Văn An tại nhà riêng.

Một cuộc họp mặt văn nghệ sĩ ở Sài Gòn năm 1952. Họa sĩ Thuận Hồ mặc áo vét sậm. Cách ông một người phía bên phải là nghệ sĩ sân khấu Năm Châu.
Trong thời hoạt động mỹ thuật còn thưa vắng đó, họa sĩ Thuận Hồ mới 23 tuổi đã có một cuộc triển lãm chung với bạn đồng học là họa sĩ Thái Văn Ngôn, người sau này cũng nổi tiếng với nhiều họa phẩm làm mẫu cho công ty mỹ nghệ Thành Lễ. Ở một nhà hàng trong khách sạn danh giá Continental, 66 bức tranh của hai ông đã được trưng bày từ 15.12.1943.
Bài giới thiệu cuộc triển lãm này đăng trên tờ nhật báo Sài Gòn số 16520 (18.12.1943) gọi hai ông là “danh họa”, viết: “Thái Văn Ngôn ở Cap St Jacques (Vũng Tàu) và Hồ Tấn Thuận ở Tân An… Họa sĩ Thuận ra trường Vẽ Gia Định với số 1, còn họa sĩ Ngôn với số 3, đó là hai thiên tài của Việt Nam. Cả thảy có 66 bức tranh trưng bày toàn là những họa phẩm tô điểm với nét bút thần tình màu sắc kín đáo làm cho người thưởng thức phải thán phục. Các bức họa đủ tỏ rằng người vẽ nó có óc nghệ thuật thuần túy của họa sĩ Đông phương… Cả hai danh họa này có gởi họa phẩm sang phòng triển lãm Đông Kinh, được hoan nghinh nhiệt liệt”.

Chị em.
Họa sĩ Thuận Hồ sinh năm 1920 tại vùng quê Long Ngãi Thuận, tỉnh Tân An thuộc Nam kỳ. Dù xuất thân nông thôn, ông khao khát được học vẽ. Năm 1937, ông được cấp học bổng dành cho học sinh giỏi của tỉnh Tân An để học tại Trường Mỹ nghệ Thực hành Gia Định. Học bổng chỉ dành cho hai học sinh được giải nhất và nhì trong 60 thí sinh dự thi. Ông nhập học năm 1937, cùng khóa với họa sĩ Thái Văn Ngôn, lúc ông Claude Lemaire đang làm hiệu trưởng và các giáo sư ở đó đều xuất thân từ Trường Mỹ thuật Đông Dương như Lưu Đình Khải, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Văn Anh… Ông còn học thêm lớp vẽ ở trường “ABC de dessin” do họa sĩ người Pháp giảng dạy.
Năm 1941, Thuận Hồ tốt nghiệp thủ khoa. Chỉ hai năm sau, ông và bạn học Thái Văn Ngôn đã có cuộc triển lãm nói trên.
Năm 1942, Thuận Hồ lập gia đình với cô Odette Geneviève d' Audigier có cha Pháp mẹ Việt nên có quốc tịch Pháp, sinh tại Sài Gòn năm 1924 và ngụ trong hẻm Paulus Của (năm 1955 hồi Việt tịch với tên Võ Thị Bảy). Năm 1943, họ sinh con trai đầu lòng cũng là năm tổ chức triển lãm tranh. Ông bà sống với nhau có bảy người con, trong đó có hai người theo học Trường Trang trí Mỹ thuật Gia Định. Các con ông cũng mang quốc tịch Pháp, sau này đều trở lại Việt tịch. Bản thân ông cũng có quốc tịch Pháp với tên Rembran Vincent Justin, hồi Việt tịch năm 1956.

Tĩnh vật.
Sau khi ra trường, Thuận Hồ làm họa sĩ thiết kế tại Cơ quan Nghiên cứu và Giảng dạy Lâm nghiệp, có thời gian trước và sau 1975 dạy hội họa tại Trường Mỹ thuật Gia Định. Ông sớm thành công với các giải thưởng hội họa tổ chức tại Sài Gòn như giải nhất về thủy thái và bột màu trong Đại hội Mỹ thuật do Pháp văn Đồng minh hội tổ chức năm 1955, giải nhất về sơn dầu 1959, giải nhất do STANVAC tổ chức năm 1960.
Trong các năm 1944, 1950 và 1960, tranh sơn dầu và lụa của ông nhiều lần được Bộ Quốc gia Giáo dục Việt Nam Cộng hòa tuyển chọn để trao đổi văn hóa với các nước Nhật, Ý, Malaysia, Mỹ… cùng một số giải thưởng khác.

Tình mẫu tử.
Trong căn nhà ở chung cư Ao Cá trên đường Phan Văn Hân, chị Hồ Thị Lựu, con gái thứ bảy của ông hồi tưởng về người cha hiền lành của mình. Thời trước năm 1995, gia đình chị sống ở khu Thị Nghè. Ba chị rất mê vẽ và rất thương yêu gia đình. Ông không nhậu nhẹt, không hút thuốc, khi không vẽ tranh tại nhà thì đi ký họa ở những khu vực gần đó như khu Đồng Ông Cộ, khu nhà sàn dọc theo bờ sông Thị Nghè. Ông thích vẽ về nông thôn, nơi quê hương đã sớm rời xa để cả đời gắn chặt đô thị đông đúc chật chội đến khi mất.
Trong suốt thời gian sống cùng cha mẹ, chị Lựu nhớ cha vẽ tranh theo nền nếp rõ ràng. Ông dậy từ 8 giờ sáng, ăn sáng xong là bắt đầu vẽ sơn dầu hoặc bột màu, loại màu ông thích nhất. Vẽ suốt buổi sáng, nghỉ trưa xong lại tiếp tục vẽ đến buổi cơm chiều mới ngưng.

Vợ chồng họa sĩ Thuận Hồ cùng các con khoảng năm 1950. Trên tường treo các bức tranh của ông.
Sau năm 1975, đời sống khó khăn, họa sĩ Thuận Hồ tiếp tục dạy học và vẽ tranh dù chuyện mua bán đã khó hơn rất nhiều. Lúc này ông và nhiều họa sĩ Sài Gòn kiếm sống bằng cách gửi tranh bày bán tại Hành lang mỹ thuật số 56 đường Đồng Khởi. Gia đình ông còn giữ bản kê có tới 36 bức tranh bày cùng lúc ở đây thể hiện ông khá sung sức trong sáng tác. Năm 1984, một bức thư lưu lại thể hiện ông nhận giá 8.000 đồng để vẽ hai bức tranh đồng quê khổ 1,5 x 0,7m với dự định gần một tháng là hoàn tất. Đến năm 1988 khi đã gần 70 tuổi, ông vẫn còn vẽ tranh sơn mài cho xí nghiệp Sơn mài Sài Gòn.
Chị Lựu cho biết cha đã suy giảm sức khỏe do bệnh từ năm 1977 nhưng vẫn không buông cọ vẽ vì còn phải lo cho vợ con. Ông vẽ không ngừng nghỉ dù có thời gian dài không bán được tranh, nhất là trong thời bao cấp, trong nhà lưu giữ mấy trăm tấm tranh. Đến thời mở cửa, ông dần có khách tìm đến, nhất là từ khi các gallery mở ra nhiều hơn từ đầu thập niên 1990. Ông chứng kiến sự hồi sinh của thị trường tranh và phải chia tay người vợ năm 1996 - bà qua đời chỉ một năm sau khi dọn về nhà mới. Thỉnh thoảng ông được các con đưa đi thăm họa sĩ Tú Duyên, người bạn thân của ông trên đường Nguyễn Công Trứ hoặc đi xem các cuộc triển lãm tranh.
Năm 2008, một gallery nghệ thuật có ý định tổ chức triển lãm nhằm vinh danh họa sĩ Thuận Hồ, nhưng ông đã mất ngay năm đó.
Trong di sản nghệ thuật của mình, họa sĩ Thuận Hồ để lại một thứ ánh sáng dịu dàng, chân chất và hiền hòa tiêu biểu cho cá tính miền Nam. Những bức vẽ đôn hậu và sáng tươi của ông luôn tỏa ra khát vọng về một cuộc sống an vui, thanh bình...
Phạm Công Luận
______________
(*) Tranh, ảnh trong bài là tư liệu do gia đình họa sĩ Thuận Hồ và nhà sưu tầm Phạm Hoàng Việt cung cấp.