Điều trị ung thư buồng trứng đang thay đổi ra sao từ các liệu pháp cá thể hóa?

 11:39 | Thứ bảy, 09/05/2026  0
Ung thư buồng trứng vẫn là một trong những bệnh ung thư phụ khoa có tỷ lệ tử vong cao, phần lớn người bệnh được phát hiện ở giai đoạn muộn. Tại hội thảo khoa học do Bệnh viện K phối hợp cùng AstraZeneca Việt Nam tổ chức, nhiều chuyên gia cho rằng việc điều trị cá thể hóa, kết hợp xét nghiệm dấu ấn sinh học và liệu pháp duy trì đang mở ra cơ hội kéo dài thời gian sống cho người bệnh.

Hưởng ứng Ngày Ung thư Buồng trứng thế giới, ngày 8.5, Bệnh viện K phối hợp cùng AstraZeneca Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề “Củng cố bằng chứng sống còn trong điều trị ung thư buồng trứng tiến triển: Vai trò của thuốc ức chế PARP từ dữ liệu đến thực tế”.

Hội thảo kết nối trực tiếp và trực tuyến với nhiều điểm cầu như Bệnh viện K, Bệnh viện Ung bướu Nghệ An, Bệnh viện Ung bướu Bắc Ninh, quy tụ nhiều chuyên gia đầu ngành ung bướu trên cả nước. Nội dung tập trung vào các cập nhật mới trong chẩn đoán, điều trị ung thư buồng trứng và kinh nghiệm thực hành lâm sàng tại Việt Nam.

Hội thảo quy tụ các chuyên gia hàng đầu về ung bướu trên cả nước thông qua hình thức trực tiếp và trực tuyến. Ảnh: BV


Theo các chuyên gia, ung thư buồng trứng là một trong những bệnh ung thư phụ khoa phổ biến ở phụ nữ từ 50-65 tuổi, đồng thời là loại ung thư đường sinh dục có tỷ lệ tử vong cao thứ hai sau ung thư cổ tử cung. Dữ liệu GLOBOCAN năm 2022 cho thấy Việt Nam ghi nhận khoảng 1.500 ca mắc mới và khoảng 1.000 ca tử vong do căn bệnh này.

Điều đáng lo ngại là bệnh thường diễn tiến âm thầm. Các triệu chứng ban đầu khá mơ hồ, dễ nhầm với rối loạn tiêu hóa hoặc các vấn đề thông thường nên nhiều bệnh nhân chỉ phát hiện khi đã bước vào giai đoạn tiến triển.

BSCKII. Võ Thanh Nhân, Trưởng khoa Ung Bướu Phụ Khoa (Bệnh viện Từ Dũ), nhận định: “Một trong những thách thức lớn nhất của ung thư buồng trứng là bệnh thường diễn tiến âm thầm với các triệu chứng ban đầu không đặc hiệu, dễ bị nhầm lẫn với các rối loạn tiêu hóa thông thường. Điều này khiến nhiều bệnh nhân chỉ được phát hiện khi bệnh đã ở giai đoạn tiến triển. Vì vậy, việc nâng cao nhận thức về các dấu hiệu cảnh báo và chủ động thăm khám sớm đóng vai trò rất quan trọng trong việc cải thiện tiên lượng cho bệnh nhân.”

Nhiều nghiên cứu cho thấy yếu tố di truyền có liên quan mật thiết đến nguy cơ mắc bệnh. Trong đó, khoảng 7% trường hợp ung thư buồng trứng mang tính chất gia đình. Những phụ nữ có mẹ hoặc chị em gái mắc bệnh có nguy cơ cao hơn cộng đồng tới 20 lần. Một số trường hợp liên quan đến đột biến gen BRCA1 và BRCA2.

Theo các dữ liệu dịch tễ học được chia sẻ tại hội thảo, tỷ lệ sống sau 5 năm của người bệnh phụ thuộc rất lớn vào thời điểm phát hiện bệnh. Nếu được phát hiện sớm, tỷ lệ sống còn có thể đạt hơn 90%, nhưng ở giai đoạn muộn chỉ còn khoảng 30%.

Các chuyên gia cũng đặc biệt nhấn mạnh vai trò của xét nghiệm dấu ấn sinh học và điều trị duy trì sau đáp ứng ban đầu. Với nhóm người bệnh ung thư buồng trứng tiến triển có HRD dương tính, nếu không điều trị duy trì, hơn một nửa có thể tái phát trong vòng một năm. Tuy nhiên, hiện tỷ lệ người bệnh được xét nghiệm HRD toàn diện vẫn còn thấp.

PGS-TS-BS. Phùng Thị Huyền, Trưởng khoa Nội Vú – Phụ khoa 2 (Bệnh viện K), chia sẻ: “Phần lớn bệnh nhân ung thư buồng trứng được chẩn đoán ở giai đoạn tiến triển, điều này đặt ra thách thức lớn trong việc cải thiện kết quả điều trị lâu dài. Vì vậy, bên cạnh điều trị ban đầu, việc xây dựng các chiến lược kiểm soát bệnh bền vững, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong thực hành lâm sàng.”

PGS-TS-BS. Phùng Thị Huyền, Trưởng khoa Nội Vú – Phụ khoa 2 (Bệnh viện K), chia sẻ về những thách thức trong chẩn đoán và điều trị UTBT tại hội thảo. Ảnh: BV


Theo các chuyên gia, hơn hai thập kỷ qua, điều trị ung thư buồng trứng đã có nhiều thay đổi, từ nền tảng hóa trị chuẩn đến các liệu pháp nhắm trúng đích và chiến lược điều trị duy trì. Những tiến bộ này đang giúp kéo dài thời gian sống không tiến triển bệnh, hướng tới mục tiêu kiểm soát bệnh lâu dài thay vì chỉ điều trị ngắn hạn.

Tại Việt Nam, AstraZeneca cho biết đang phối hợp với các hội chuyên ngành như Hội Phụ sản Việt Nam và Hội Ung thư Việt Nam triển khai các chương trình đào tạo, cập nhật hướng dẫn chuyên môn, đồng thời mở rộng tiếp cận xét nghiệm sinh học phân tử và tư vấn di truyền tại nhiều bệnh viện.

Ông Atul Tandon, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc AstraZeneca Việt Nam, cho biết: "Với triết lý lấy người bệnh làm trung tâm, chúng tôi không ngừng nỗ lực đồng hành cùng cộng đồng y khoa để mang đến những tiến bộ khoa học mới nhất, đồng thời triển khai các chương trình hỗ trợ thiết thực nhằm cải thiện chất lượng sống và kết quả điều trị lâu dài cho bệnh nhân."

Trà My

bài viết liên quan
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.