Hậu đại dịch COVID-19: giải pháp nào để ngành gỗ phục hồi và tăng tốc?

 22:41 | Thứ ba, 28/04/2020  0
Kết quả khảo sát 124 doanh nghiệp ngành gỗ vào cuối tháng 3 vừa qua cho thấy, 100% doanh nghiệp (DN) bị ảnh hưởng bởi COVID-19. Trong đó, về tác động tài chính, 75% số DN phản hồi cho biết thiệt hại ban đầu đối với họ ước tính vào khoảng 3.066 tỷ đồng...

Đó là thông tin được công bố tại hội thảo trực tuyến "Phục hồi - Tăng tốc - Bứt phá - Phát triển bền vững ngành gỗ giai đoạn hậu đại dịch” do Forest Trends, Hội Mỹ nghệ và chế biến gỗ TP.HCM (HAWA), Hiệp hội Gỗ và lâm sản Việt Nam (VIFOREST)... tổ chức chiều 28.4. 

Cũng từ thông tin khảo sát trên (1), cho thấy trên một nửa (51%) số DN tham gia khảo sát cho biết  phải thu hẹp quy mô sản xuất. Khoảng 35% DN dù đang hoạt động bình thường nhưng phải sẽ tạm ngừng sản xuất trong thời gian tới; 7% số DN đã ngừng hoạt động và chỉ có 7% DN vẫn hoạt động bình thường. Một ví dụ có thể tham khảo là công ty TNHH Juma Phú Thọ - một trong những công ty sản xuất và xuất khẩu gỗ dán lớn hàng đầu tại Việt Nam, với lượng xuất khẩu sang Hoa Kỳ chiếm 30% trong tổng lượng gỗ dán xuất khẩu của cả Việt Nam vào Hoa Kỳ cho biết trước dịch lượng xuất được khoảng 450 container mỗi tháng, tuy nhiên hiện co hẹp lại chỉ còn khoảng 200 container. Công ty cho biết lịch sản xuất phải điều chỉnh từng ngày, bởi do lo sợ về dịch sẽ làm cản trở lưu thông hàng hóa, không thanh toán được tiền hàng. 

Không chỉ hoạt động sản xuất, đại dịch cũng tác động tới khâu nhập khẩu gỗ nguyên liệu và chế biến, tiêu thụ trong nước. Cụ thể, nhập khẩu gỗ nguyên liệu từ châu Phi – nguồn cung gỗ nguyên liệu nhiệt đới lớn nhất cho Việt Nam – đã dừng hẳn. Lượng nhập từ nguồn gỗ ôn đới giảm 70%. Đại dịch làm giá gỗ nguyên liệu và cước vận chuyển tăng. Sản xuất kinh doanh của các hộ tại các làng nghề giảm 80%. Khoảng 50%-60% xưởng xẻ sử dụng nguyên liệu gỗ rừng trồng trong nước phải dừng hoạt động.

Xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ (đồ gỗ) được coi là một trong những nghành công nghiệp mũi nhọn, với kim ngạch xuất khẩu năm 2020 dự kiến đạt 12 tỷ USD. Tuy nhiên, có nhiều tín hiệu rõ ràng cho thấy đại dịch sẽ làm "sụp đổ" kỳ vọng này. Theo ông Điền Quang Hiệp, Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và lâm sản Bình Dương (BIFA), thì: “Đến giờ này thì toàn bộ thị trường lớn hầu như đã đóng băng… Mỹ và EU thì đóng băng hoàn toàn. Nhật Bản và Hàn Quốc thì còn lác đác. Trung Quốc bắt đầu mở lại nhưng chắc chắn còn lâu mới quay trở lại được bình thường… Thị trường toàn cầu gần như mất hết.”

Trước khi dịch xảy ra, Mỹ, EU, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc là năm thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, với kim ngạch xuất khẩu hàng năm từ các thị trường này chiếm khoảng 90% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả ngành.  Ông Ngô Sỹ Hoài, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký VIFOREST, dự báo: “Tăng trưởng trong xuất khẩu của ngành năm 2020 có thể bằng 0”.

Do hội nhập sâu với thế giới, ngành gỗ Việt Nam đã và đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi đại dịch COVID-19, vì vậy tại hội thảo, vấn đề được các doanh nghiệp quan tâm là sau dịch thì giải pháp nào để ngành gỗ phục hồi và tăng tốc? Chủ tịch BIFA Điền Quang Hiệp nhận định trong bối cảnh đại dịch hoành hành, cộng đồng doanh nghiệp đang hết sức nỗ lực, cố gắng duy trì phần nào hoạt động sản xuất kinh doanh, để giảm thiểu các động của dịch tới hoạt động của doanh nghiệp: “Trong bối cảnh này, doanh nghiệp chỉ có hai sự lựa chọn. Một là cố gắng tìm các giải pháp để tồn tại và chuẩn bị kỹ càng các bước tiếp theo để khi nào bệnh dịch qua đi thì doanh nghiệp có thể tăng tốc trở lại vị trí trước dịch. Hai là đóng cửa và phá sản. Tất nhiên chẳng doanh nghiệp nào muốn lựa chọn phương án thứ hai, thành thử doanh nghiệp nào cũng phải cố gắng tìm mọi cách để tồn tại thôi”. Hiện trong cộng đồng doanh nghiệp bắt đầu thực hiện các sáng kiến để tồn tại và chuẩn bị để quay trở lại sau dịch. 

Đưa ra bình luận về vấn đề này, ông Tô Xuân Phúc, chuyên gia cao cấp của Forest Trends, cho rằng: “Phương thức vận hành của ngành đòi hỏi cần phải có những thay đổi căn bản, mang tính chất chiến lược, nhằm giảm rủi ro, tạo bứt phá và phát triển bền vững ngành trong tương lai.” Phương thức này sáng nước bởi nhằm giảm thiểu tác động của bệnh dịch tới các ngành kinh tế, bao gồm cả ngành gỗ, Chính phủ đã nhanh chóng ban hành các chính sách và giải pháp về chính sách tài khóa, tín dụng thương mại, an sinh xã hội… 

Cụ thể, ngày 3.4.2020 Bộ Tài chính đã tiếp thu và đưa phân ngành chế biến gỗ và các sản phẩm từ gỗ, tre nứa vào dự thảo Nghị định trình Chính phủ. Bộ Tài chính tiếp tục đề xuất nâng gói tài khoá hỗ trợ các doanh nghiệp, bao gồm doanh nghiệp ngành gỗ lên gần 180 ngàn tỷ đồng (tức gấp 6 lần số tiền dự tính ban đầu). Ngày 8.4.2020 Thủ tướng Chính phủ đã chính thức ký Nghị định số 41/NĐ- CP về gia hạn thời gian nộp thuê và tiền thê đất trong đó có ngành gỗ. Trước đó, tại cuộc họp thường trực Chính phủ chiều 5.4.2020, Thủ tướng đã đồng ý với dự thảo Nghị quyết gói 61.580 tỷ đồng hỗ trợ người lao động, doanh nghiệp khó khăn do dịch bệnh. 

Về phần mình, các Hiệp hội gỗ trong cả nước cũng đã tổ chức nhiều cuộc họp chung nhằm tham vấn và vận động chính sách đến các cơ quan quản lý Trung ương, địa phương. HAWA, VIFOREST, BIFA, DOWA, FPA tổ chức nhiều kênh họp trực tuyến với các đối tác thương mại tại Mỹ, châu Âu, Hàn Quốc... nhằm tìm hiểu diễn biến thị trường, tổng hợp dữ liệu từ đó dự báo và thông tin đến doanh nghiệp hội viên thời điểm phục hồi thị trường, dự đoán hành vi và xu hướng tiêu dùng mới. Các Hiệp hội cũng tổ chức nhiều hoạt động nhằm khuyến cáo và tận dụng cơ hội từ việc dịch chuyển chuỗi cung ứng trong ngành gỗ.

Với độ hội nhập thế giới lớn, ngành gỗ Việt Nam đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi Đại dịch. Cụ thể: 75% trong số 124 doanh nghiệp cho biết  thiệt hại ban đầu của đại dịch COVID-19 gây ra đối với họ ước tính vào khoảng 3.066 tỷ đồng. Ảnh minh hoạ

Chia sẻ ngành gỗ cần có thay đổi căn bản về xác định dòng sản phẩm và thị trường chiến lược, ông Đỗ Xuân Lập, Chủ tịch VIFOREST, nhận định: “Cơ cấu dòng sản phẩm của ngành hiện chưa hợp lý... Ngành hiện đang sản xuất các sản phẩm không có nhu cầu lớn và không tăng cao trong tương lai”.  Theo ông Lập, chưa hợp lý là bởi ngành hiện đang sản xuất các sản phẩm không có nhu cầu lớn và nhu cầu không tăng cao trong tương lai. Cụ thể, nhóm đồ gỗ phòng bếp, phòng tắm và bàn trang điểm hiện đang chiếm khoảng 60% trong tổng cầu của tất cả các loại đồ gỗ trên toàn thế giới. Phần 40% còn lại là các nhóm đồ gỗ khác như đồ gỗ văn phòng, đồ gỗ ngoài trời…

Khi dịch bệnh xảy ra, chuỗi cung cho các loại đồ gỗ chiến lược không bị biến động quá lớn, do nhu cầu về các sản phẩm thuộc nhóm vẫn còn tồn tại, trong khi nhu cầu về các nhóm đồ gỗ khác gần như mất hẳn. Tuy nhiên, hiện nay tại Việt Nam sản xuất các mặt hàng thuộc nhóm đồ gỗ chiếm lược này lại bị nhiều doanh nghiệp của Trung Quốc chiếm lĩnh, đặc biệt là kể từ lúc cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung nổ ra (2). “Miếng bánh này hiện nay Việt Nam đang cho người khác hưởng”, ông Lập bình luận.

Đại dịch cũng cho thấy ngành cần phải dịch chuyển về phương thức bán hàng. Kênh truyền thống (offline) cần phải thay đổi, nhằm giảm rủi ro trong hội nhập và phù hợp với xu thế thương mại thế giới (online). Chuyển đổi số cần diễn ra mạnh mẽ và đồng bộ hơn. Để làm được điều này theo ông Nguyễn Chánh Phương, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký HAWA là “cần có sự thay đổi đồng bộ cả trong cơ chế chính sách của Chính phủ và trong bản thân doanh nghiệp”. Qua đó, thúc đẩy thay đổi tư duy, sự thích nghi tạo ra làn sóng chuyển đổi số trong doanh nghiệp,

Thêm vào đó, ngành cần hình thành và đẩy mạnh các liên kết giữa các doanh nghiệp trong ngành, xây dựng chuỗi cung trong nước và phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ. Tác động của COVID-19 cho thấy các chuỗi cung xuất khẩu đồ gỗ hiện nay của Việt Nam chưa tốt, phụ thuộc một phần nguồn nguyên phụ liệu nhập khẩu, đặc biệt từ Trung Quốc. Giảm rủi ro do bệnh dịch, gia tăng sức chống chịu của ngành đòi hỏi nỗ lực của cả Chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp trong việc hình thành và phát triển hoàn thiện chuỗi cung trong nước, giảm lệ thuộc vào nhập khẩu từ bên ngoài.

Ngoài ra, dưới áp lực căng thẳng thương mại Mỹ Trung, nhiều hiệp định thương mại được Việt Nam đã ký kết (như CPTPP, EVFTA, VKFTA…), đến nay là đại dịch có thể tạo một cú hích lớn cơ hội cho ngành gỗ Việt Nam trong việc đón nhận các chuyển dịch sản xuất, đơn hàng, đầu tư, dấy lên phong trào tái cấu trúc chuỗi cung cứng từ nhiều quốc gia như Mỹ, Nhật, Đài Loan, Châu Âu... giảm đi sự lệ thuộc vào Trung Quốc.

Bà Mary Tarnowka - Giám đốc AMCHAM Việt Nam, nhận định khoảng 1,5 năm trước đã có hiện tượng đẩy nhanh việc đa dạng hóa các nguồn cung ứng ra khỏi Trung Quốc do hệ quả của chiến tranh thương mại. Trong tình hình dịch bệnh này, các công ty trên thế giới đều nhận ra họ đã quá phụ thuộc vào Trung Quốc. "Tình hình hiện nay chính là hồi chuông cảnh tỉnh cho nhiều ngành. Việt Nam có vị thế khá thuận lợi với Chính phủ ổn định, nền kinh tế ổn định và có thể sẽ là nước đầu tiên hồi phục sau dịch bệnh. Ngay từ năm ngoái đã có nhiều công ty tìm cách chuyển sang Việt Nam dù năng lực về hậu cần, vận tải và cơ sở hạ tầng còn nhiều hạn chế. Sự chuyển dịch này có thể tạo những bứt phá trong phát triển ngành trong tương lai. Chính phủ Việt Nam và cộng đồng doanh nghiệp ngành gỗ cần chuẩn bị những điều kiện thích hợp để đón nhận các cơ hội này trong tương lai"- bà Mary Tarnowka chia sẻ. 

Phát triển thị trường nội địa  

Thị trường nội địa có độ ổn định và đặc biệt có "sức chống chịu" đối với đối với đại dịch tốt hơn nhiều so với thị trường xuất khẩu. Với dân số gần 97 triệu và tầng lớp trung lưu đông đảo và ngày càng phát triển, quy mô của thị trường nội địa không hề nhỏ.

Trong khi các thị trường xuất khẩu hầu như đóng băng, thị trường nội địa vẫn đang tiếp tục hoạt động mặc dù có sự suy giảm mạnh về quy mô. Khoảng 20-30% các cơ sở chế biến quy mô hộ gia đình tại các làng nghề gỗ như Đồng Kỵ và Hữu Bằng vẫn đang hoạt động. Trong khi các xưởng xẻ quy mô hộ gia đình tại các vùng gỗ nguyên liệu như Phú Thọ chuyên cung cấp phôi gỗ cho các nhà máy gỗ chế biến xuất khẩu phải ngừng hoàn, các xưởng xẻ cung gỗ nguyên liệu cho các cơ sở sản xuất đồ gỗ phục vụ thị trường nội địa như cho các làng nghề tại Liên Hà, Đông Anh, Hà Nội vẫn tiếp tục hoạt động. Bên cạnh đó, một số cơ sở quy mô nhỏ tại các làng nghề như Hữu Bằng đang chuyển sang các dòng sản phẩm tiêu thụ nội địa mà trước đó được nhập khẩu.

Kinh nghiệm từ ngành chế biến gỗ của Thái Lan cho thấy thị trường nội địa bên cạnh những thế mạnh là ổn định và tạo công ăn việc làm đặc biệt cho các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ tốt hơn so với thị trường xuất khẩu, các sản phẩm bán tại thị trường nội địa đem lại lợi nhuận cao hơn trên một đơn vị sản phẩm so với các sản phẩm xuất khẩu. Điều này cho thấy Chính phủ và các doanh nghiệp trong ngành gỗ của Việt Nam cần dành sự quan tâm xứng đáng cho thị trường nội địa. Nói cách khác, chiến lược phát triển ngành gỗ không chỉ chú trọng vào mở rộng xuất khẩu mà cần có các cơ chế, chính sách và hoạt động nhằm phát triển bền vững thị trường nội địa.

Trọng Văn

_____________

 (1)  Cuộc khảo sát nhanh được thực hiện bởi HAWA, BIFA, FPA Bình Định và VIFOREST.

(2) Đại dịch COVID-19 đã bùng phát mạnh tại hầu hết các thị nhập khẩu đồ gỗ quan trọng của Việt Nam, bao gồm Mỹ (chiếm 50% tổng giá trị xuất khẩu của ngành gỗ Việt Nam) và EU (chiếm 10%). Dịch đang có dấu hiệu bùng phát trở lại tại Nhật Bản, thị trường tiêu thụ khoảng 13% các mặt hàng gỗ xuất khẩu của nước ta. Mặc dù dịch có dấu hiệu được kiểm soát tại Trung Quốc – thị trường lớn thứ 3 của Việt Nam với 12% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng năm, để thị trường này khôi phục lại sức mua và các chuỗi cung như trước khi dịch xảy ra sẽ mất rất nhiều thời gian và chưa biết đến bao giờ sức mua sẽ trở lại được như lúc trước đại dịch. (Theo báo cáo Đối diện và vượt qua thách thức: Tác động của Đại dịch COVID-19 tới ngành gỗ và hướng đi mới doanh nghiệp do Nhóm nghiên cứu do Tổ chức Forest Trends, VIFOREST, HAWA, FPA Bình Định và BIFA thực hiện).

bài viết liên quan
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.