Hồi sinh sông Nhuệ không chỉ là chuyện nạo vét dòng sông

 16:32 | Thứ năm, 16/07/2026  0
Thành phố Hà Nội mới đây đã thông qua chủ trương đầu tư khoảng 75.115 tỷ đồng để cải tạo, nạo vét và xử lý ô nhiễm sông Nhuệ. Tuy nhiên, ranh giới giữa một dòng sông thực sự được hồi sinh và một "kênh chứa nước" khép kín vẫn đang là nỗi băn khoăn lớn trong xã hội.

Sông Nhuệ từ lâu đã rơi vào trạng thái ô nhiễm nghiêm trọng, bồi lắng lòng sông và gần như cạn kiệt nguồn nước tự nhiên. Chủ trương cải tạo dòng sông được kỳ vọng sẽ góp phần "giải cứu" khu vực phía Tây thành phố khỏi vấn nạn ngập úng đô thị. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu đó, nhiều ý kiến lo ngại rằng Hà Nội sẽ phải đối mặt với hàng loạt rào cản: từ bài toán bổ cập nguồn nước thường xuyên, công nghệ thu gom triệt để trăm ngàn nguồn thải sinh hoạt, cho đến áp lực đô thị hóa từ các dự án đối ứng đất đai theo cơ chế đầu tư BT.

Để có góc nhìn thực tế về tính khả thi của dự án này, Người Đô Thị đã có cuộc trao đổi với GS-TS. Đào Xuân Học - Chủ tịch Hội Thủy lợi Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường).

GS-TS. Đào Xuân Học - Chủ tịch Hội Thủy lợi Việt Nam.


Bài toán chống ngập cho khu vực phía Tây

Thưa Giáo sư, việc nạo vét và kè bờ hơn 61km sông Nhuệ là cần thiết, nhưng nhiều ý kiến cho rằng nếu không có nguồn nước sạch bổ cập thường xuyên để duy trì dòng chảy tự nhiên, sông Nhuệ sau khi cải tạo sẽ lại nhanh chóng rơi vào tình trạng “ao tù nước đọng”. Từ góc độ chuyên môn, theo ông, chúng ta cần giải bài toán nguồn nước bổ cập cho sông Nhuệ như thế nào để đảm bảo dòng sông thực sự được “hồi sinh” dòng chảy, thay vì chỉ là một kênh chứa nước sau nạo vét?

GS-TS. Đào Xuân Học: Những lo ngại trên có thể xuất phát một phần do người dân chưa được tiếp cận đầy đủ thông tin về quy hoạch tổng thể của lưu vực sông Nhuệ. Trên thực tế, ngay sau trận lụt lịch sử cuối năm 2008, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường), đã khẩn trương xây dựng Quy hoạch tổng thể lưu vực sông Nhuệ và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 937/QĐ-TTg ngày 1.7.2009. "Chìa khóa" cốt lõi để giải quyết tình trạng cạn kiệt nguồn nước ở đây chính là Dự án Trạm bơm Liên Mạc đầu mối lấy nước từ sông Hồng.

Theo quy hoạch được duyệt, trạm bơm này có tổng công suất thiết kế lên tới 170 m3/s và được chia làm hai giai đoạn rõ rệt. Giai đoạn 1 xây dựng công suất 70 m3/s phục vụ hoạt động tưới tiêu kết hợp. Lúc cần tiêu úng, trạm bơm sẽ hỗ trợ tiêu thoát nước từ trong nội đô ra sông, còn khi cần lấy nước dẫn vào sông, hệ thống sẽ bơm nước từ sông Hồng vào sông Nhuệ.

Giai đoạn 2 sẽ đầu tư nâng công suất thêm 100 m3/s nữa để phục vụ cho công tác tiêu thoát nước đô thị.

Nhiều đoạn sông Nhuệ hiện trong tình trạng ô nhiễm kéo dài do thiếu nguồn nước bổ cập và tiếp nhận lượng lớn nước thải sinh hoạt, sản xuất chưa được xử lý triệt để. Việc cải tạo dòng sông được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao chất lượng môi trường và tăng năng lực tiêu thoát nước cho khu vực phía Tây Hà Nội. Ảnh: Báo Thanh Niên


Tôi cho rằng quyết định chủ trương cải tạo sông Nhuệ lần này thực chất là bước chuẩn bị đồng bộ về hạ tầng lòng sông để đáp ứng nhu cầu dẫn dòng cho công suất tiêu thoát cực lớn lên tới 170 m3/s của trạm bơm đầu mối.

Với tình hình hiện nay, chúng tôi cũng đã đề xuất, kiến nghị thành phố triển khai đồng thời cả hai giai đoạn của trạm bơm Liên Mạc, bởi theo đúng quy hoạch của Chính phủ từ năm 2009, thì đáng lẽ đến nay chúng ta phải hoàn thành xong giai đoạn 2. Tốc độ đô thị hóa quá nhanh hiện nay đòi hỏi chúng ta phải đẩy nhanh tiến trình nhằm đáp ứng năng lực tiêu thoát 170 m3/s. Tuy nhiên, nếu thành phố vẫn quyết định chia nhỏ giai đoạn sau khi đã tính toán kỹ lưỡng, thì ngay sau khi xong giai đoạn 1 cũng sẽ phải bắt tay triển khai ngay giai đoạn 2. Khi giai đoạn 1 hoàn thành, thành phố đã có thể chủ động bơm bổ cập 70 m3/s vào sông Nhuệ bất kể mực nước sông xuống thấp như thế nào.

Việc cải tạo, chỉnh trang và làm sống lại sông Nhuệ, tôi cho rằng đã được các cơ quan có thẩm quyền, chức năng tính toán rất bài bản. Vấn đề còn lại chỉ là bài toán chi phí vận hành điện năng.

Tôi tin tưởng thành phố hoàn toàn đồng ý duy trì vận hành trạm bơm thường xuyên, còn lưu lượng duy trì dòng chảy sinh thái hàng ngày có thể chỉ ở mức 20 m3/s hoặc do thành phố quyết định dựa trên tình hình thực tế.

Theo quy hoạch lưu vực sông Nhuệ, trạm bơm Liên Mạc là công trình đầu mối có vai trò bổ cập nước từ sông Hồng vào sông Nhuệ và hỗ trợ tiêu úng cho khu vực phía Tây Hà Nội. Đây được xem là hạng mục hạ tầng then chốt để duy trì dòng chảy của sông sau khi cải tạo. Ảnh: Znews


Dự án dự kiến xây dựng tới 13 nhà máy xử lý nước thải và chia tiến độ theo phân đoạn chiều dài sông. Tuy nhiên, nước thải sinh hoạt và sản xuất vẫn đang đổ vào sông Nhuệ hàng ngày từ hàng trăm cửa xả chưa được kiểm soát. Ông đánh giá thế nào về tính khả thi của việc phân kỳ này?

Việc Hà Nội quyết định đầu tư xây dựng 13 nhà máy để xử lý nước thải tập trung dọc lưu vực là một chủ trương rất đúng đắn. Hiện nay hầu hết các nguồn xả thải sinh hoạt và công nghiệp đều đang đổ trực tiếp vào sông Nhuệ mà chưa qua xử lý triệt để. Nguyên tắc bắt buộc là chúng ta phải thu gom, phân tách riêng dòng nước thải này để đưa về các nhà máy xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường trước khi đổ ngược lại sông Nhuệ, có như vậy nguồn nước mặt mới đảm bảo an toàn cho sản xuất nông nghiệp và dân sinh.

Ngoài ra, tôi cho rằng việc xây dựng hệ thống nhà máy xử lý nước thải cũng cần có lộ trình từng bước, chứ không thể hoàn thành đồng loạt ngay lập tức, bởi quá trình này phụ thuộc vào tốc độ đô thị hóa. Tôi muốn nhấn mạnh rằng tiêu chuẩn tiêu thoát nước cho vùng nông nghiệp thấp hơn rất nhiều so với vùng đô thị. Đất canh tác nông nghiệp có thể chấp nhận mưa một ngày tiêu ba ngày, hoặc mưa ba ngày tiêu năm ngày, nhưng với khu vực đô thị hóa thì yêu cầu kỹ thuật đòi hỏi mưa giờ nào phải thoát sạch giờ đó để tránh ngập úng.

Nhu cầu tiêu thoát nước của đô thị lớn hơn vùng nông nghiệp rất nhiều lần, có nhận định cho rằng mức chênh lệch là 8 lần, nhưng chúng tôi cho rằng con số thực tế còn lớn hơn thế. Do yêu cầu kỹ thuật khác biệt này, quy hoạch trước đây cũng phải phân kỳ đầu tư dựa trên tốc độ và diện tích đô thị hóa thực tế. Đô thị hóa đến đâu thì chúng ta đầu tư hạ tầng thu gom và xử lý nước thải đồng bộ đến đó.

Hà Nội đã có bài học kinh nghiệm tương đối tốt từ việc thu gom nước thải hồi sinh sông Tô Lịch, và việc tiếp tục triển khai bài bản mô hình bóc tách nguồn thải này sang sông Nhuệ là bước đi hoàn toàn phù hợp và đúng đắn. Tôi cho rằng không có gì đáng lo ngại.

Thu gom và xử lý nước thải trước khi xả trở lại sông là điều kiện tiên quyết để cải thiện chất lượng nước. Theo các chuyên gia, việc bổ cập nguồn nước sẽ không mang lại hiệu quả lâu dài nếu các nguồn thải dọc lưu vực vẫn chưa được kiểm soát. Trong ảnh: Nhà máy xử lý nước thải Yên Xá, với công suất 100.000 m3/ngày đêm. Ảnh: VOV


Hướng đi cho bài toán "quản trị dòng sông"

Với tổng mức đầu tư sơ bộ lên tới hơn 75.000 tỷ đồng, Hà Nội lựa chọn phương thức PPP với loại hợp đồng BT. Nhiều ý kiến lo ngại áp lực từ các dự án đô thị đối ứng BT sẽ lại gia tăng mật độ dân số và gây áp lực ngược lên chính môi trường lưu vực sông Nhuệ. Ông nhìn nhận thế nào về rủi ro này?

Chúng ta cần rạch ròi giữa áp lực gia tăng dân số và cơ chế huy động vốn đầu tư. Bản chất của hợp đồng BT thực chất là một giải pháp tài chính linh hoạt khi nguồn vốn đầu tư công của thành phố gặp hạn chế. Thay vì Nhà nước phải tự bỏ ra hơn 75.000 tỷ đồng từ ngân sách, hoặc phải thực hiện quy trình phức tạp là giải phóng mặt bằng, đấu giá đất lấy tiền rồi mới quay lại đầu tư hạ tầng, thì cơ chế BT cho phép chúng ta dùng quỹ đất đối ứng để thu hút nguồn lực tư nhân thực hiện dự án nhanh hơn.

Dù có áp dụng cơ chế BT hay không, thì những khu vực được quy hoạch làm quỹ đất đối ứng đó theo tiến trình phát triển đô thị của Hà Nội trước sau gì cũng sẽ được xây dựng thành các khu đô thị, khu dân cư mới. Mấu chốt của vấn đề không nằm ở việc ai xây dựng, mà nằm ở tiêu chuẩn quản lý quy hoạch của chúng ta.

Tại các khu đô thị mới, việc kiểm soát xả thải hiện nay được thực hiện rất nghiêm ngặt. Ngay từ khâu thiết kế cơ sở, các khu đô thị mới đã tiến hành xây dựng hệ thống đường ống phân tách nước thải sinh hoạt, sau đó đưa về nhà máy xử lý tập trung, hoàn toàn không gây áp lực ô nhiễm trực tiếp lên dòng sông.

Sông Nhuệ đồng thời đảm nhiệm nhiều chức năng: cấp nước thủy lợi, tiêu thoát nước đô thị và tạo lập cảnh quan. Theo nhiều chuyên gia, việc hồi sinh dòng sông cần được tiếp cận ở quy mô toàn lưu vực, vượt ra ngoài ranh giới hành chính của từng địa phương. Ảnh: Sức khỏe Đời sống


Ngược lại, thách thức lớn nhất lại nằm ở chính các khu dân cư hiện hữu và làng nghề dọc sông Nhuệ - những khu vực chưa triển khai triệt để thu gom xử lý nước và đòi hỏi lộ trình lâu dài do hạ tầng xuống cấp. Vì vậy, tôi cho rằng chúng ta không nên quá lo ngại về các dự án đối ứng BT của doanh nghiệp, mà cơ quan chức năng cần tập trung giải quyết bài toán kỹ thuật thu gom nước thải tại các khu dân cư tự phát hiện hữu dọc sông.

Sông Nhuệ đang phải gánh vác “ba vai”: trục cấp nước thủy lợi, trục tiêu thoát nước chống ngập cho phía Tây, và trục cảnh quan kết nối các tuyến giao thông lớn (như Vành đai 4, Đại lộ Thăng Long). Theo ông làm thế nào để việc cải tạo không làm tổn hại đến năng lực tự nhiên của dòng sông?

Việc tích hợp đa mục tiêu "thủy lợi - tiêu thoát nước - cảnh quan đô thị" trên một dòng sông như sông Nhuệ là bài toán khó nhưng hoàn toàn có lời giải nếu có sự phối hợp đồng bộ.

Về mặt kỹ thuật, phương án thiết kế cải tạo sông Nhuệ do trường Đại học Thủy lợi thực hiện đã tính toán chi tiết các thông số thủy lực học. Thiết kế này đảm bảo mặt cắt lòng sông sau cải tạo vừa đủ rộng để tiêu thoát lưu lượng lũ khẩn cấp 170 m3/s cứu ngập cho phía Tây, vừa duy trì được cao trình mực nước cần thiết phục vụ tưới tiêu nông nghiệp liên tỉnh cho hơn 80.000 ha đất canh tác kéo dài từ ngoại thành Hà Nội xuống tỉnh Ninh Bình (tỉnh Hà Nam cũ).

Dự án cải tạo sông Nhuệ không chỉ là nạo vét lòng sông và xây bờ kè, mà nó còn tích hợp các hạng mục hạ tầng kỹ thuật, đường giao thông hai bên bờ sông. Nếu các hạng mục này không được triển khai đồng bộ dưới sự chỉ đạo thống nhất, mà để tình trạng "mạnh ai nấy làm" - ngành thủy lợi kè sông trước, vài năm sau ngành giao thông mới đào xới để làm đường - thì toàn bộ kết cấu kè sông đã hoàn thành chắc chắn sẽ chịu nhiều ảnh hưởng.

Tôi muốn nhấn mạnh một lần nữa rằng tuy không khó, và cũng không có gì quá đáng ngại nhưng để thực sự hiệu quả thì dự án cần được triển khai đồng bộ và thống nhất.

Chất lượng của dòng sông không chỉ ảnh hưởng đến môi trường mà còn tác động trực tiếp đến sinh kế, sản xuất nông nghiệp và đời sống của hàng triệu người dân trong toàn lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy. Vì vậy, quản trị lưu vực cần được xem là một bài toán liên vùng, thay vì giới hạn trong phạm vi một địa phương. Ảnh: VTV


Sông Nhuệ chảy qua 19 xã, phường của Hà Nội rồi đổ về tỉnh Ninh Bình (Hà Nam cũ). Theo giáo sư, Hà Nội và các địa phương lân cận cần cơ chế quản trị như thế nào để tránh tình trạng tái ô nhiễm sau khi đã đổ hàng chục nghìn tỷ đồng vào cải tạo?

Trên thực tế, sông Nhuệ, sông Đáy hay sông Tích xét về quy mô không hề quá lớn, nhưng tính chất quản lý của chúng lại cực kỳ phức tạp vì dòng chảy xuyên cắt qua nhiều địa giới hành chính khác nhau. Ô nhiễm nước thải tại Hà Nội nếu không kiểm soát tốt sẽ ngay lập tức ảnh hưởng đến nguồn nước sản xuất, sinh hoạt của người dân ở phía hạ lưu. Để giải quyết tận gốc bài toán này, chúng tôi cho rằng cần thiết có một Ban quản lý lưu vực sông.

Trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển, mô hình Ban quản lý lưu vực sông có quyền lực pháp lý rất lớn, đã được vận hành thành công hơn 40 năm qua. Họ là đơn vị chuyên trách duy nhất chịu trách nhiệm từ khâu lập quy hoạch, quản lý toàn diện các nguồn thải, vận hành điều tiết các hồ chứa cắt lũ cho đến giám sát đầu tư trên toàn bộ lưu vực mà không bị chia cắt bởi ranh giới hành chính của bất kỳ tỉnh, thành phố nào.

Ở Việt Nam, chúng ta cũng đã tiếp cận và thành lập các ban quản lý lưu vực sông từ lâu, nhưng thực tế hoạt động chưa thực sự hiệu quả. Thành viên của ban chủ yếu là lãnh đạo các tỉnh, bộ ngành kiêm nhiệm, không có bộ máy chuyên trách và đặc biệt là không hề có quyền lực chế tài thực chất. Khi xảy ra tranh chấp nguồn nước hay ô nhiễm liên tỉnh, ban quản lý gần như không thể có giải pháp tức thì.

Chính vì vậy, trong thời gian tới, Hội Thủy lợi Việt Nam sẽ tiếp tục có những kiến nghị mạnh mẽ gửi Chính phủ nhằm cải tổ toàn diện mô hình này theo hướng luật hóa, tăng quyền lực thực chất và tính chuyên trách cho các Ban quản lý lưu vực sông. Dòng sông chảy theo quy luật tự nhiên và không có địa giới hành chính, do đó quản trị dòng sông cũng phải vượt lên trên tư duy cục bộ địa phương.

Xin cảm ơn ông về những chia sẻ trên!

Ngọc Phạm thực hiện

bài viết liên quan
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm
Cùng chuyên mục
Xem nhiều nhất

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.