Khác biệt đầu tiên rõ ràng với một bên là dòng suối đã mất, một bên là dòng sông còn hiện hữu. Thanh Khê khi bắt đầu dự án gần như không còn tồn tại trên mặt đất. Nó chỉ còn trong ký ức, bản đồ cũ và những đoạn cống ngầm. Việc khôi phục Thanh Khê vì thế mang tính “khai quật” đưa thiên nhiên trở lại từ dưới lòng đô thị.

Dòng suối Thanh Khê (Cheonggyecheon) từng bị chôn vùi dưới bê tông đã được khôi phục, trở thành biểu tượng của một cuộc cách mạng trong tư duy phát triển đô thị của Seoul. Ảnh: Tư liệu
Sông Tô Lịch thì khác. Con sông này vẫn chảy, vẫn hiện diện trong cấu trúc Hà Nội, dù dòng chảy yếu, nước ô nhiễm và hình ảnh gắn liền với những vấn đề môi trường. Chính sự hiện hữu ấy tạo ra một nghịch lý: tiềm năng lớn nhưng bị lãng quên, vẫn tồn tại ở đó nhưng không còn gắn liền với cuộc sống đô thị.
Thanh Khê là trục sinh thái mới, Tô Lịch là trục ký ức văn hóa ngàn năm
Khác với sông Tô Lịch, Thanh Khê không mang lớp trầm tích lịch sử – tâm linh sâu dày mà chủ yếu hiện diện như một dòng chảy gắn với đời sống dân sinh đương đại. Chính vì vậy, định hướng tái tạo Thanh Khê tập trung trước hết vào việc phục hồi hệ sinh thái, kiến tạo các không gian công cộng hiện đại, có khả năng thích ứng với mật độ xây dựng cao dọc hai bên bờ, đồng thời góp phần cải thiện vi khí hậu và nâng cao chất lượng sống đô thị.
Trong khi đó, sông Tô Lịch lại là một dòng sông của ký ức Thăng Long, gắn bó mật thiết với huyền tích Tô Lịch giang thần – vị thành hoàng của vùng đất kinh kỳ, với cấu trúc không gian truyền thống của thành cổ, làng xóm và hệ thống sông ngòi, cũng như vai trò phong thủy quan trọng trong thế đất “tụ thủy – tụ khí” của kinh thành và các cộng đồng cư dân xưa.
Vì vậy, tiềm năng cũng như vai trò của sông Tô Lịch không chỉ nằm ở sinh thái, mà còn ở phục hồi chiều sâu văn hóa – tinh thần đô thị, điều mà Thanh Khê không phải gánh vác.

Bản đồ Thăng Long thời Hồng Đức cho thấy sông Tô Lịch uốn quanh Hà nội và kết nối với sông Hồng, hồ Tây. Ảnh: Tư liệu
Quy mô khác nhau, thách thức khác nhau
Thanh Khê dài khoảng 11 km, lòng suối hẹp, hai bên chủ yếu là không gian giao thông và thương mại. Điều này cho phép Seoul thực hiện một dự án tập trung, thời gian ngắn, với sự kiểm soát kỹ thuật cao.
Sông Tô Lịch dài 14 km rộng hơn Thanh khê nhiều, đi qua nhiều làng cổ, nhiều khu dân cư, nhiều lớp lịch sử và hạ tầng chồng chéo. Mỗi đoạn sông là một “bối cảnh” khác nhau. Chính đặc điểm này khiến việc cải tạo sông Tô Lịch trở nên phức tạp hơn, đòi hỏi cách tiếp cận linh hoạt theo từng phân khu và từng giai đoạn, thay vì áp dụng một giải pháp mang tính đột phá, đồng loạt như trường hợp của Thanh Khê.
Nhưng cũng chính vì vậy, Tô Lịch có tiềm năng trở thành một chuỗi không gian đa dạng phong phú, thay vì một trục cảnh quan đồng nhất.

Mối liên hệ giữa các cộng đồng với dòng sông cần được tái thiết, khôi phục. Chỉ khi đó dòng sông mới trở lại gắn liền với đời sống của người dân. Ảnh: Google Street View
Dự án khôi phục suối Thanh Khê thành công nhờ quyết định chính trị mạnh mẽ, Tô Lịch cần một tầm nhìn văn hóa – đô thị dài hơi.
Thanh Khê được thúc đẩy bởi một quyết định chính trị rõ ràng: tháo bỏ cao tốc, ưu tiên con người. Dự án thành công nhờ sự tập trung quyền lực và nguồn lực trong thời gian ngắn.
Sông Tô Lịch khó có thể xuất hiện một “khoảnh khắc quyết định” mang tính bước ngoặt như ở Thanh Khê. Những thách thức cốt lõi của Tô Lịch không nằm ở việc tháo dỡ hay thay thế một công trình đơn lẻ, mà ở bài toán phức hợp hơn: xử lý triệt để ô nhiễm nguồn nước, tổ chức lại hệ thống thoát nước đô thị và bảo đảm nguồn nước sạch duy trì dòng chảy cho con sông.
Đồng thời, việc tái tạo Tô Lịch còn đòi hỏi khôi phục vai trò của con sông trong đời sống hằng ngày của các cộng đồng cư dân ven sông, cũng như trong cấu trúc sinh hoạt và hình ảnh không gian của toàn thành phố.
Chính vì vậy, tiềm năng của Tô Lịch không nằm ở việc trở thành một “Thanh Khê thứ hai”, mà ở khả năng hình thành một mô hình tái sinh đô thị mang bản sắc riêng, phù hợp với chiều sâu lịch sử và bối cảnh xã hội đặc thù của nó.

Ven sông Tô Lịch là các di tích văn hóa lâu đời cần được trân trọng, kết nối. Trong ảnh là Đền Voi Phục. Ảnh: Tư liệu
Nếu Thanh Khê là câu chuyện của thế kỷ XXI – đô thị sinh thái, đi bộ, giảm xe – thì Tô Lịch có thể là câu chuyện sâu hơn: khôi phục, bảo tồn văn hóa bản địa, gắn liền với hệ sinh thái và không gian đô thị giữa một Hà Nội đang phát triển.
Sông Tô Lịch có tiềm năng được tái định vị như một trục không gian công cộng gắn bó chặt chẽ với các làng cổ và khu dân cư ven sông; trở thành một dòng sông của sinh hoạt đô thị thường nhật, phục vụ đời sống cư dân nhiều hơn là một không gian du lịch mang tính trình diễn; đồng thời đóng vai trò như một “xương sống mềm”, kết nối hài hòa giữa thiên nhiên, văn hóa và đời sống xã hội của thành phố.
Thanh Khê cho thế giới thấy rằng một dòng nước có thể được hồi sinh ngay giữa trung tâm siêu đô thị Seoul. Nhưng Tô Lịch đặt ra một câu hỏi khác, thậm chí vi tế hơn: làm thế nào để hồi sinh sức sống một dòng sông khi nó chưa từng biến mất, nhưng phần nào đã bị lãng quên trong nhận thức?

Hiện trạng hai bờ sông Tô Lịch: mật độ dân cư cao, hạ tầng chồng chéo và không gian xanh hạn chế. Bối cảnh này đặt ra thách thức cho việc hồi sinh dòng sông theo hướng gắn kết cộng đồng và bảo tồn lịch sử. Ảnh: Báo Pháp luật Việt Nam
Nếu Thanh Khê là một cuộc phẫu thuật táo bạo, thì Tô Lịch cần một quá trình trị liệu dài ngày. Và có lẽ, khi Tô Lịch được nhìn nhận đúng với vị trí của nó trong lịch sử và hình thế Thăng Long, tiềm năng của con sông này sẽ không thua kém bất kỳ dòng nước đô thị nào trên thế giới – chỉ là nó cần một con đường riêng, không đi tắt.
Từ dòng thoát nước đến trục sống của đô thị: Các giải pháp căn bản cho sông Tô Lịch
Nếu Thanh Khê là một đại dự án được “làm lại từ đầu”, thì sông Tô Lịch đặt ra một bài toán khác: làm thế nào để hồi sinh một dòng sông đang tồn tại, đang gánh chịu ô nhiễm, nhưng đồng thời mang trong mình ký ức sâu dày của Thăng Long – Hà Nội. Điều đó đòi hỏi không chỉ một giải pháp kỹ thuật, mà nhiều giải pháp linh hoạt, triển khai theo thời gian.
Thứ nhất, trị liệu dòng sông – hồi sinh từ bên trong. Bất kỳ hình dung nào về tương lai của Tô Lịch đều phải bắt đầu từ một thực tế: nước là linh hồn của sông. Khi nước còn là nước thải, mọi ý tưởng cảnh quan chỉ là lớp vỏ bề ngoài.

Suối Thanh Khê sau khi hồi sinh trở thành trục không gian công cộng sôi động, minh họa cách một đô thị có thể ‘khai quật’ thiên nhiên từ lòng bê tông. Ảnh: Klook
Đây không phải là kịch bản “làm đẹp”, mà là quá trình trị liệu, âm thầm, kéo dài bền bỉ, ít hình ảnh truyền thông nhưng quyết định sự sống còn của sông Tô Lịch. Điều này sau một thời gian dài nỗ lực từ nhiều phía, nhiều kết quả khả quan đã và đang được trông thấy ở sông Tô Lịch. Nước thải sinh hoạt đã được cơ bản tác khỏi dòng sông, và từng bước khôi phục dòng chảy tự nhiên bằng nước sạch bổ sung.
Thứ hai, hồi sinh từng đoạn – mỗi khúc sông một bối cảnh cụ thể. Khác với Thanh Khê, sông Tô Lịch không nên, và không thể được cải tạo đồng loạt theo một hình mẫu duy nhất. Con sông đi qua nhiều không gian khác nhau: làng cổ, khu dân cư dày đặc, hạ tầng mới, công viên, di tích đình chùa... Đặc thù hiện trạng đó là cơ sở để mỗi đoạn sông có một giải pháp thiết kế phù hợp với bối cảnh riêng: Không gian sinh thái tự nhiên; Sinh hoạt cộng đồng; Không gian ký ức – tâm linh gắn với đình, chùa, miếu.
Không phải là những hình ảnh hoành tráng to lớn mà khi người dân của các cộng đồng ven sông có thể hằng ngày đi bộ thảnh thơi, ngồi nghỉ chân bên bờ Tô Lịch, nghe trẻ con nô đùa cùng tiếng chim hót, nước chảy êm đềm giữa phố xá, thì lúc ấy, dòng sông đã thực sự trở về.
Cách làm này cho phép hai bờ sông hồi sinh từng phần, tạo niềm tin xã hội và tránh cú sốc lớn về đầu tư và quản lý.
Thứ ba, sông Tô Lịch như một không gian lắng đọng và truyền tải suối nguồn văn hóa của Thăng Long - Hà Nội. Nếu Thanh Khê là trục đi bộ năng động giữa lòng Seoul, thì Tô Lịch có thể chọn một nhịp khác: chậm hơn, lắng hơn, gần với đời sống dân cư hai bên sông.

Ý tưởng hồi sinh sông Tô Lịch: kết nối sinh hoạt thường nhật của cư dân, không gian cộng đồng và di tích lịch sử, hướng tới một ‘xương sống mềm’ của đô thị Hà Nội. Ảnh: Sở Quy hoạch Kiến trúc Hà Nội
Hai bên bờ sông không nhất thiết phải được kiến tạo thành những đại lộ cảnh quan quy mô lớn, mà có thể phát triển theo hướng mềm mại và gần gũi hơn: những tuyến phố nhỏ ưu tiên các phương tiện di chuyển với vận tốc vừa phải, khuyến khích xe đạp và đi bộ, đồng thời tăng cường khả năng tiếp cận trực tiếp ra mặt nước; các dải công viên và bờ sông sinh thái với cấu trúc tự nhiên; cùng những không gian cộng đồng phục vụ đời sống sinh hoạt hằng ngày của cư dân ven sông.
Ở đây, không gian ven sông không đóng vai trò trình diễn đô thị, mà trở lại đúng nghĩa là một phần của sinh hoạt thường nhật, điều vốn rất quen thuộc trong cấu trúc làng, phố – mặt nước truyền thống của Bắc bộ.
Thứ tư, đánh thức chiều sâu văn hóa – tâm linh của dòng sông. Trong lịch sử Thăng Long, đó là một dòng sông có linh thần, có tên, có vị trí phong thủy cốt lõi trong lịch sử hình thành nên nơi chốn. Cho nên việc cần làm là khôi phục mối liên hệ với các điểm di tích, đền miếu gắn với sông để câu chuyện về sông Tô Lịch trong không gian công cộng vẫn còn được bảo tồn, tiếp nối.
Khi đó, dòng sông không chỉ sạch hơn, đẹp hơn, mà có hồn hơn, điều vốn là đặc điểm độc đáo của Hà Nội mà nhiều thành phố khác trên thế giới không có được.
Thứ năm, cần nhìn nhận sông Tô Lịch như “xương sống mềm” của thủy hệ Hà Nội. Ở cấp độ tổng thể, Tô Lịch không nên được nhìn như một dòng sông đơn lẻ. Nó là một phần của hệ thống thủy mạch bao gồm sông Hồng và các con sông, mặt hồ của Hà Nội. Do vậy hồi sinh Tô Lịch không chỉ là một dự án đô thị đơn lẻ, mà là tái thiết mối liên hệ giữa Hà Nội và nước, điều làm nên bản sắc của văn hóa Thăng Long.

Bản đồ các không gian gắn liền với mặt nước của Hà Nội. Ảnh: HWSUD
Thanh Khê thường được nhắc tới như một “kỳ tích” trong quá trình tái thiết đô thị của Seoul. Tuy nhiên, sông Tô Lịch có lẽ không cần đến một khoảnh khắc ngoạn mục tương tự. Điều Hà Nội cần, thay vào đó, là một tầm nhìn đủ dài để dự án cảnh quan sông Tô Lịch được đặt vào vị trí then chốt trong tổng thể không gian đô thị gắn với mặt nước của thành phố; một cách tiếp cận kiên nhẫn, chi tiết nhằm tái kết nối các cộng đồng cư dân ven sông với không gian hai bờ; và trên hết là một sự tôn trọng đúng mực đối với chiều sâu lịch sử cũng như hệ sinh thái tự nhiên của dòng sông.
Sông Tô Lịch chỉ cần được trả lại đúng vai trò của mình với tư cách là một dòng sông êm đềm bao dung, chảy qua thành phố, trong đời sống, trong ký ức và trong tương lai của Hà Nội. Chính sự bình dị đó là tinh thần của nơi chốn sẽ làm nên sức thu hút lớn lao với cả khách du lịch trên thế giới.
Hồi sinh sông Tô Lịch là một hành trình, không phải một dự án ngắn hạn. Trên hành trình ấy, điều quan trọng không phải là làm nhanh, làm lớn theo một mô hình thành công có sẵn mà là làm đúng – đúng với lịch sử của dòng sông, đúng với văn hóa của Hà Nội.
Suối Thanh Khê (Cheonggyecheon) chảy qua trung tâm thủ đô Seoul, đổ vào dòng sông Jungnangcheon. Sau đó đổ vào con sông Hàn. Vào thời đại Joseon (1392 – 1897), con suối này là địa điểm diễn ra rất nhiều lễ hội quan trọng.
Bắt đầu từ những năm 50 thế kỷ trước, để xây dựng hệ thống đường cao tốc Cheonggye, chính phủ Hàn Quốc đã quyết định chôn lấp dòng suối tự nhiên này dưới lớp bê tông gần 50 năm trời. Tuy nhiên, sau một thời gian đường cao tốc Cheonggye được đưa vào hoạt động thì người dân Seoul cảm thấy bầu không khí đô thị quá ngột ngạt. Do đó, chính phủ Hàn một lần nữa lập lại kế hoạch cải tạo dòng suối này. Đến tháng 10.2005 thì kế hoạch hoàn thành, Thanh Khê trở thành con suối nhân tạo, mang vẻ hiền hoà chảy giữa lòng đô thị nhộn nhịp.
KTS. Trần Tuấn (Nhóm nghiên cứu Không gian mặt nước Hà Nội – HWSUD)