Khởi kiện hợp đồng đặt cọc: thời hiệu mập mờ, thiệt hại nghiêm trọng!

 12:34 | Thứ bảy, 04/07/2020  0
Các quy định về thời hiệu khởi kiện hợp đồng đặt cọc còn nhiều điểm chưa cụ thể, rõ ràng dẫn tới nhiều vướng mắc trong quá trình áp dụng. Thực tiễn, các tòa án vẫn còn nhiều quan điểm giải quyết khác nhau. Chính sự mập mờ, không thống nhất này đã dẫn đến hậu quả làm tổn thất và thiệt hại nghiêm trọng tới quyền lợi của đương sự, không thể hiện đúng tinh thần của pháp luật dân sự về sự bình đẳng, công bằng...

Đó là nhận định của PGS-TS. Lê Minh Hùng (Trưởng Bộ môn Luật Dân sự, Khoa Luật Dân sự, Đại học Luật TP.HCM) và tác giả Lê Khả Luận (Lớp cao học Luật Dân sự khóa 31, Đại học Luật TP.HCM) trong tham luận tại hội thảo khoa học "Thời hiệu trong pháp luật dân sự Việt Nam", diễn ra ngày 2.7 tại Đại học Luật TP.HCM.

Từ phải: PGS-TS. Lê Minh Hùng (Trưởng Bộ môn Luật Dân sự, Khoa Luật Dân sự, Đại học Luật TP.HCM), TS. Chu Hải Thanh (Trưởng khoa Luật, Đại học Nguyễn Tất Thành), PGS-TS. Dương Anh Sơn (Trưởng khoa Luật Kinh tế, Đại học Quốc gia TP.HCM) điều hành phiên thảo luận thứ nhất


Theo quy định tại Khoản 1 Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015, đặt cọc là việc một bên (bên đặt cọc) giao cho bên kia (bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.

Về mặt lý luận, đặt cọc vừa có tính chất của một loại giao dịch dân sự (thường thể hiện dưới dạng các hợp đồng), vừa có tính chất là một biện pháp bảo đảm, thể hiện chế tài do các bên thỏa thuận trước khi vi phạm.

Bên cạnh đó, tiền cọc vừa có tính chất của một biện pháp bảo đảm, vừa có chức năng thanh toán (thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng “chính”); mục đích đặt cọc vừa nhằm bảo đảm giao kết hợp đồng, vừa nhằm bảo đảm thực hiện hợp đồng hoặc đồng thời nhằm cả hai mục đích.

Điều này dẫn tới tính chất đặc thù khi xem xét giải quyết tranh chấp tiền cọc, tùy thuộc vào quan hệ đặt cọc hoặc quan hệ của hợp đồng chính mà việc áp dụng pháp luật có thể khác nhau, nên hệ quả pháp lý của chúng cũng sẽ rất khác nhau.

Ngoài ra, hợp đồng đặt cọc vừa là một hợp đồng có tính độc lập tương đối, nhất là đặt cọc để nhằm bảo đảm giao kết hợp đồng khác, nhưng cũng có thể hợp đồng đặt cọc vừa là một biện pháp bảo đảm cho việc giao kết và thực hiện hoặc bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng khác, nên hiệu lực của đặt cọc có liên quan chặt chẽ đến hợp đồng mà nó bảo đảm. Do đó, quá trình giải quyết tranh chấp phát sinh sẽ được đặt trong mối liên hệ giữa hợp đồng phụ (đặt cọc) với hợp đồng chính (hợp đồng được bảo đảm thực hiện bằng đặt cọc).

Do những đặc thù trên, các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng đặt cọc cũng đa dạng và có nhiều điểm đặc thù so với các tranh chấp phát sinh từ giao dịch dân sự, hợp đồng, hiệu lực thực thi, vi phạm hợp đồng, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng…

Cũng chính vì vậy, mà quá trình giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng đặt cọc cũng có những điểm khác biệt so với các quy định chung về giao dịch dân sự, hợp đồng, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, nhất là thời hiệu khởi kiện.

Tại hội thảo, nhiều diễn giả cho rằng những nội dung tranh chấp về hợp đồng đặt cọc cần phải có quy định cụ thể về thời hiệu giải quyết. 


Theo PGS-TS. Lê Minh Hùng và tác giả Lê Khả Luận, trong pháp luật về thời hiệu của Việt Nam hiện hành, ngoài quy định chung về thời hiệu, Bộ luật Dân sự 2015 có quy định riêng về thời hiệu giải quyết các tranh chấp phát sinh trong từng lĩnh vực, chế định cụ thể. Chẳng hạn, thời hiệu về xác lập quyền sở hữu, thời hiệu tranh chấp hợp đồng, thời hiệu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, thời hiệu thừa kế…

Ngoài ra, trong pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, pháp luật thương mại, pháp luật tố tụng dân sự, pháp luật về trọng tài thương mại… còn quy định về một số loại thời hiệu tương thích cho các vụ, việc có liên quan.

“Tuy nhiên, rà soát tất cả các quy định của pháp luật hiện hành, các tác giả không thấy có quy định riêng về thời hiệu khởi kiện để yêu cầu tuyên bố vô hiệu đối với các giao dịch bảo đảm nói chung, với hợp đồng đặt cọc nói riêng”, tham luận cho biết.

Về nguyên tắc áp dụng pháp luật, khi nội dung tranh chấp không có quy định điều chỉnh tại luật chuyên ngành, hoặc tại chế định cụ liên quan tới nội dung tranh chấp, thì tòa án sẽ áp dụng quy định chung của Bộ luật Dân sự để giải quyết. Mặc dù cũng có quy định chung về thời hiệu để làm cơ sở xử lý các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng đặt cọc, nhưng việc áp dụng các quy định chung về thời hiệu trong nhiều trường hợp không thích hợp với loại tranh chấp cụ thể của hợp đồng đặt cọc.

“Bên cạnh đó, thực tiễn áp dụng các quy định liên quan thời hiệu để giải quyết các tranh chấp về hợp đồng đặt cọc cũng còn thiếu nhất quán, dẫn đến không bảo đảm công bằng cho các bên liên quan, làm giảm niềm tin xã hội vào sự nghiêm minh của pháp luật và gây ra nhiều tranh cãi trong nhận thức, áp dụng pháp luật về thời hiệu”, tham luận nhận định.

Đặt cọc là một biện pháp bảo đảm bằng tài sản, rất phổ biến trong thực tiễn và cũng là vấn đề dễ phát sinh các tranh chấp. Trong ảnh: Khách hàng kéo đến khu phức hợp giải trí Cocobay (phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng) căng băng rôn yêu cầu được trả lại tiền cọc ngày 10.6.2020. Ảnh: Diệu Bình


Những bất cập đó đã đặt ra vấn đề cần nghiên cứu, xác định loại tranh chấp phát sinh từ hợp đồng đặt cọc mà chưa có hoặc chưa rõ căn cứ pháp luật áp dụng về thời hiệu khởi kiện, hoặc nếu cần xác định thì dựa trên cơ sở pháp lý nào, nều cần hoàn thiện, bổ sung pháp luật, thì có những giải pháp thích hợp ra sao để định hướng, giải quyết căn cơ đối với các nội dung này.  

Nghiên cứu thực tiễn của PGS-TS. Lê Minh Hùng và tác giả Lê Khả Luận cho thấy, các loại tranh chấp về hợp đồng đặt cọc thường xảy ra ở các vấn đề:

Tranh chấp phát sinh do hợp đồng đặt cọc vô hiệu theo quy định chung; Tranh chấp phát sinh do hợp đồng đặt cọc vô hiệu trong trường hợp có sự chuyển hóa từ giai đoạn giao kết “hợp đồng chính” sang giai đoạn thực hiện “hợp đồng chính”; Tranh chấp về xử lý vi phạm hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng đặt cọc và trả lại tài sản đặt cọc; Tranh chấp đòi bồi thường tiền cọc/phạt cọc...

Sự khó khăn khi áp dụng pháp luật thời hiệu trong quá trình giải quyết các tranh chấp loại này, đó là do tính chất đặc thù “song trùng” về mục đích đặt cọc, chức năng tiền cọc, hệ quả xử lý tài sản đặt cọc và cả về pháp luật điều chỉnh đối hợp đồng đặt cọc.

Từ tranh luận, cọ sát lý luận với thực tiễn của các chuyên gia, diễn giả tại hội thảo đã làm bật ra nhiều vướng mắc, bất cập, chưa rõ ràng của quy định hiện hành về thời hiệu trong pháp luật dân sự Việt Nam. 


Để quá trình áp dụng pháp luật về thời hiệu khởi kiện hợp đồng đặt cọc rõ ràng, thống nhất, bảo đảm công bằng cho quyền lợi của đương sự, PGS-TS. Lê Minh Hùng và tác giả Lê Khả Luận đã đưa ra 5 kiến nghị trên cơ sở phân tích các vụ việc xảy ra trong thực tiễn.

Kiến nghị 1: Để có cơ sở giải quyết vấn đề thời hiệu khởi kiện về hợp đồng đặt cọc vô hiệu, các tác giả kiến nghị Hội đồng Thẩm phán, Tòa án Nhân dân tối cao cần xây dựng Nghị quyết để hướng dẫn áp dụng pháp luật về hợp đồng, giao dịch bảo đảm, trong đó hướng dẫn áp dụng thống nhất về thời hiệu cho loại việc này.

Đối với thời hiệu xem xét căn cứ tuyên hợp đồng đặt cọc vô hiệu, cần xác định rõ đối với các hợp đồng đặt cọc để bảo đảm việc giao kết hợp đồng, có tính độc lập với hợp đồng hoặc nghĩa vụ mà nó bảo đảm, cũng như xem xét căn cứ vô hiệu của hợp đồng đặt cọc đó thuộc trường hợp để áp dụng thời hiệu khởi kiện tương thích.

Đối với thời hiệu khởi kiện đòi tuyên hợp đồng đặt cọc vô hiệu, thì cần xác định hợp đồng đặt cọc đã vi phạm điều kiện nào làm cho đặt cọc vô hiệu. Nếu chỉ vi phạm sự tự nguyện hoặc hình thức, chủ thể giao kết… thì vẫn phải xem xét thời hiệu. Chỉ khi hợp đồng đặt cọc vô hiệu do giả tạo, do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì mới không giới hạn thời hiệu khởi kiện.

Nếu hợp đồng đặt cọc liên quan với hợp đồng chính, hoặc hợp đồng đặt cọc để thực hiện hợp đồng chính mà hợp đồng đã được xác lập, thực hiện, thì không áp dụng thời hiệu để giải quyết riêng cho hợp đồng đặt cọc vô hiệu, mà cần áp dụng thời hiệu để xem xét căn cứ tuyên bố vô hiệu của hợp đồng chính để giải quyết cho cả trường hợp hợp đồng đặt cọc vô hiệu, cũng như xử lý hậu quả của hợp đồng đặt cọc vô hiệu.

Kiến nghị 2: Áp dụng quy định về thời hiệu để xem xét căn cứ tuyên bố hợp đồng đặt cọc vô hiệu, hệ quả pháp lý của việc hết thời hiệu khởi kiện tuyên bố hợp đồng đặt cọc vô hiệu, xử lý tài sản đặt cọc trong trường hợp hết thời hiệu khởi kiện tuyên bố hợp đồng đặt cọc vô hiệu... còn nhiều vướng mắc về nhận thức, áp dụng, cần được nghiên cứu, hoàn thiện, theo hướng xác định rõ:

Đối với hệ quả của hết thời hiệu khởi kiện khi giao dịch dân sự vô hiệu quy định tại khoản 2 Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015, không áp dụng để công nhận hiệu lực của hợp đồng đặt cọc vô hiệu. Các tác giả cho rằng, dù cho bên đặt cọc có đòi trả lại tài sản đặt cọc do hợp đồng đặt cọc vô hiệu, hay đòi lại tài sản trên danh nghĩa bên chủ tài sản đòi lại tài sản do bên nhận cọc chiếm giữ không có căn cứ pháp luật, thì trong những trường hợp này cũng không thể áp dụng thời hiệu để từ chối giải quyết, để cho phép bên nhận được chiếm đoạt tài sản đặt cọc và xác lập quyền sở hữu đối với tài sản đó.

Theo các tác giả, quy định tại khoản 2 Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015 cần loại trừ áp dụng đối với việc đòi lại tài sản đặt cọc do hợp đồng đặt cọc vô hiệu; đồng thời để thống nhất trong quy định liên quan, cần bổ sung quy định về việc đòi tài sản đặt cọc thì không hạn chế thời hiệu khởi kiện.

Thời hiệu khởi kiện đòi lại khoản tiền (tài sản đặt cọc) do hợp đồng đặt cọc bị vô hiệu hay do hợp đồng đặt cọc bị một, các bên hủy bỏ, thì cần xem xét theo quan hệ tranh chấp về bảo vệ quyền sở hữu và đòi lại tài sản bị chiếm giữ không có căn cứ pháp luật.

Nếu có cơ sở để chứng minh sự tồn tại của hợp đồng đặt cọc mà hợp đồng đặt cọc đó vô hiệu; bên nhận cọc vẫn chiếm giữ, không trả lại tài sản đặt cọc, thì việc chiếm giữ này không có căn cứ pháp luật và cũng không phải là căn cứ xác lập quyền sở hữu đối với tài sản, nên áp dụng giống như thời hiệu kiện đòi tài sản, bảo vệ quyền sở hữu, tức áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 155 Bộ luật Dân sự 2015: không áp dụng thời hiệu.

Kiến nghị 3: Do tính chất đặc thù của hợp đồng đặt cọc trong mối quan hệ chặt chẽ với hợp đồng chính được bảo đảm bởi hợp đồng đặt cọc đó, nên quá trình xử lý về hiệu lực và sự vô hiệu của hợp đồng đặt cọc, nhất thiết phải có sự phân biệt rõ hợp đồng đặt cọc có liên quan như thế nào đối với hợp đồng chính. Vì tính chất đặc thù và phức tạp này của hợp đồng đặt cọc, nên rất cần có sự hướng dẫn áp dụng pháp luật đối với nội dung này.

Để xử lý vấn đề bất cập trên đây, các tác giả kiến nghị Hội đồng Thẩm phán, Tòa án Nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết hướng dẫn về giải quyết tranh chấp liên quan tới giao dịch bảo đảm, trong đó có quy định về thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp hợp đồng đặt cọc khi có sự chuyển hóa từ giai đoạn giao kết sang giai đoạn thực hiện hợp đồng chính, theo đó:

Trường hợp tranh chấp về hợp đồng đặt cọc độc lập với hợp đồng chính, trong giai đoạn trước khi hợp đồng chính được giao kết, thì thời hiệu khởi kiện được xem xét riêng biệt trong mối quan hệ của hợp đồng đặt cọc.

Trường hợp hợp đồng đặt cọc liên quan tới việc thực hiện hợp đồng chính, trong giai đoạn thực hiện hợp đồng chính, thì thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp về hợp đồng đặt cọc được đặt trong mối quan hệ với hợp đồng chính, có thời hiệu tương ứng với thời hiệu khởi kiện giải quyết các tranh chấp liên quan tới việc thực hiện hợp đồng chính.

Từ phải: TS. Nguyễn Xuân Quang (Phó Trưởng Khoa Luật Dân sự, Đại học Luật TP.HCM), PGS-TS. Đỗ Văn Đại (Trưởng Khoa Luật Dân sự, Đại học Luật TP.HCM), TS. Nguyễn Thị Kim Vinh (Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Thương mại tài chính) chủ trì phiên thảo luận thứ hai. 


Kiến nghị 4: quy định về thời hiệu để xem xét yêu cầu hoàn trả tài sản đặt cọc còn nhiều vướng mắc về nhận thức, áp dụng, cần được nghiên cứu, hoàn thiện. Các tác giả cho rằng, việc bên đặt cọc yêu cầu hoàn trả tài sản đặt cọc trong trường hợp hợp đồng đặt cọc không được giao kết, thực hiện nhưng không phải do lỗi của bên đặt cọc là cần thiết và cần được bảo vệ.

Không thể áp dụng thời hiệu khởi kiện trong trường hợp này để cho phép bên nhận cọc được chiếm đoạt tài sản đặt cọc, xác lập quyền sở hữu đối với tài sản đó và tước đi quyền sở hữu hợp pháp của bên đặt cọc được pháp luật bảo vệ.

Do đó, các tác giả kiến nghị cần ban hành Nghị quyết hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán, Tòa án Nhân dân tối cao, về việc tiếp tục duy trì tinh thần không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp đòi tài sản trong các giao dịch dân sự, được thể hiện trong Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP ban hành ngày 3.12.2012, về việc hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “những quy định chung” của Bộ luật Tố tụng Dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Trong tương lai, nên bổ sung trường hợp yêu cầu hoàn trả tài sản đặt cọc như một điều khoản trong điều luật quy định về không áp dụng thời hiệu khởi kiện.

Kiến nghị 5: cần có văn bản hướng dẫn để áp dụng trong trường hợp có tranh chấp đồng thời vừa yêu cầu hoàn trả tài sản đặt cọc, vừa yêu cầu tiền bồi thường. Trong khi Bộ luật Dân sự 2015 chưa được dự thảo sửa đổi, bổ sung thì cần thiết ban hành Nghị quyết hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán, Tòa án Nhân dân tối cao về thời hiệu khởi kiện áp dụng trong trường hợp này.

Đối với yêu cầu hoàn trả tài sản đặt cọc thì giải quyết như nội dung ở kiến nghị 4 là không áp dụng thời hiệu khởi kiện, còn đối với yêu cầu tiền bồi thường thì giải quyết theo hướng có thời hiệu, mà cụ thể là áp dụng theo thời hiệu khởi kiện về hợp đồng.

“Đặt cọc là một biện pháp bảo đảm bằng tài sản, rất phổ biến trong thực tiễn và cũng là vấn đề dễ phát sinh các tranh chấp. Do đó, những nội dung tranh chấp về hợp đồng đặt cọc cần phải có quy định cụ thể về thời hiệu giải quyết...”, tham luận của PGS-TS. Lê Minh Hùng và tác giả Lê Khả Luận nhấn mạnh.

Có nên cho phép thỏa thuận về thời hiệu?

Toàn cảnh hội thảo khoa học "Thời hiệu trong pháp luật dân sự Việt Nam”


Với 19 tham luận công bố tại hội thảo khoa học “Thời hiệu trong pháp luật dân sự Việt Nam”, do Khoa Luật Dân sự, Đại học Luật TP.HCM tổ chức ngày 2.7.2020, cùng những vụ việc thực tiễn được nêu ra tại hội thảo, các chuyên gia đầu ngành về dân sự, tố tụng dân sự, các giảng viên Luật, các thẩm phán, luật sư, chấp hành viên, công chứng viên, thừa phát lại, … đã tranh luận, phản đề sôi nổi, từ đó làm bật ra nhiều vướng mắc, bất cập, chưa rõ ràng của quy định hiện hành về thời hiệu trong pháp luật dân sự Việt Nam.

Đồng thời các diễn giả cũng đóng góp nhiều quan điểm mới, có giá trị để góp phần sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến hệ quả hết thời hiệu khởi kiện, tính liên tục của thời hiệu, bắt đầu lại thời hiệu, trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện liên quan đến bảo vệ quyền sở hữu, thời hiệu thừa kế, thời hạn trong thời hiệu khởi kiện về hợp đồng...

PGS-TS. Đỗ Văn Đại trình bày tham luận “Thỏa thuận về thời hiệu khởi kiện: Kinh nghiệm của nước ngoài cho Việt Nam"


Trong đó, thu hút sự chú ý nhất là tham luận của PGS-TS. Đỗ Văn Đại (Trưởng Khoa Luật Dân sự, Đại học Luật TP.HCM), khi nêu kinh nghiệm quốc tế của nhiều nước cho phép thỏa thuận về thời hiệu.

"Hiện nay đang có một xu hướng cho phép các bên thay đổi thời hạn luật định trong thời hiệu khởi kiện. Ở các nước theo hệ thống thông luật, xu hướng này đã hình thành. Thực tế, theo pháp luật Mỹ, khi không có quy định khác thì các bên được đưa ra điều khoản rút ngắn thời hạn luật định của thời hiệu khởi kiện. Ở Anh, kế tiếp án lệ Anh, báo cáo của Ủy ban pháp luật Anh đề nghị rằng cần trao cho các bên tự do rút ngắn hay kéo dài thời hạn ban đầu.

Các nước theo hệ thống dân luật cũng dần dần theo hướng ghi nhận thỏa thuận của các bên về thời hạn trong thời hiệu khởi kiện. Ví dụ, pháp luật Tây Ban Nha dường như chấp nhận hoàn toàn giá trị của các thỏa thuận với điều kiện là thời hạn theo thỏa thuận không được vượt quá 15 năm. Pháp luật Thụy Điển cũng chấp nhận hiệu lực của các thỏa thuận về thời hiệu nhưng các thỏa thuận này chịu sự giám sát của Tòa án đối với những điều khoản không hợp lý.

Rất nhiều hệ thống pháp luật chấp nhận những thỏa thuận tạo điều kiện cho việc áp dụng thời hiệu, nhất là rút ngắn thời hạn luật định nhưng từ chối ghi nhận những thỏa thuận làm cho việc áp dụng thời hiệu khó hơn, nhất là kéo dài thời hạn luật định, như pháp luật của Pháp đã cải cách về thời hiệu năm 2008 theo hướng để cho các bên tự do thỏa thuận về thời hạn trong thời hiệu khởi kiện…", PGS. Đại cho biết.

Nhiều chuyên gia, luật sư tham dự hội thảo nhìn nhận vấn đề cho phép đương sự thỏa thuận về thời hiệu là nội dung khá mới, dù trong luật hiện hành của Việt Nam đã có quy định thỏa thuận có tác động đến thời hiệu, nhưng nội dung này chỉ ảnh hưởng đến việc bắt đầu lại thời hiệu, chứ không tác động toàn diện đến mốc tính thời hiệu, kéo dài thời hiệu, gián đoạn thời hiệu, bắt đầu lại thời hiệu...

Theo PGS-TS. Lê Minh Hùng (Trưởng Bộ môn Luật Dân sự, Khoa Luật Dân sự, Đại học Luật TP.HCM), vấn đề cho phép thỏa thuận lại thời hiệu nên được khuyến khích, vì phù hợp với nguyên tắc tự do, tự nguyện của pháp luật dân sự, nhưng vì thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu có liên quan đến trật tự công cộng, giá trị chứng cứ… nên cần phải có những quy định cấm đoán, giới hạn: không cho phép rút ngắn thời hiệu bị kiện đối với bên có lợi thế; không cho phép thỏa thuận kéo dài thời hiệu khởi kiện đòi thực hiện nghĩa vụ đối với bên yếu thế, người tiêu dùng, người vay…

Ngoài ra, theo PGS. Hùng, quy định hiện hành về thời hiệu thừa kế còn bất cập như: pháp luật phân chia di sản thành bất động sản và động sản để từ đó chia thừa kế thành hai loại là không hợp lý; quy định hệ quả của việc hết thời hiệu thừa kế là không rõ ràng và chưa giải quyết triệt để các tranh chấp thừa kế...

“Liệu hết thời hiệu 30 năm đối với di sản là bất động sản, mà có người tự cho mình là người thừa kế đang quản lý di sản đến xin khai thừa kế, xác lập quyền sở hữu đối với di sản thừa kế thì dựa vào quy định về thời hiệu của pháp luật hiện hành, các công chứng viên có tự tin cho họ xác định tư cách của người thừa kế đang quản lý di sản và được xác lập quyền sở hữu đối với bất động sản do hết thời hiệu phân chia di sản được không?”, PGS. Hùng nêu vấn đề.

TS. Chu Hải Thanh (Trưởng khoa Luật, Đại học Nguyễn Tất Thành), TS. Nguyễn Xuân Quang (Phó Trưởng Khoa Luật Dân sự, Đại học Luật TP.HCM), ThS. Quách Hữu Thái (Chánh án Tòa án Quận 2, TP.HCM), LS-TS. Nguyễn Kim Vinh (Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Thương mại tài chính) cũng đồng tình với quan điểm này, và nhấn mạnh thêm rằng, dù thế nào đi nữa, thì việc tranh chấp thừa kế cũng phải có điểm dừng. 

Bài: Lan Vy - Ảnh: Tân Hưng

bài viết liên quan
Loading...
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm

Đọc tin nhanh

#mù công nghệ
*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.