Ngân sách: Từ bất cập nguồn thu đến lãng phí đầu tư công

 10:12 | Thứ hai, 30/12/2019  0
Tình hình ngân sách ở nước ta liên tục căng thẳng kéo dài, bội chi ngân sách ở mức cao, nợ công tăng nhanh. Gần đây, một số thông tin được Bộ Tài chính công bố cho thấy đã có một số cải thiện nhất định nhưng tình hình vẫn còn căng thẳng, chưa thể an tâm với tình trạng bội chi ngân sách và nợ công hiện nay.

Chính phủ đã có quyết định về công khai ngân sách nhà nước và Bộ Tài chính đã công bố thông tin về thu chi ngân sách nhà nước năm 2018. So với mức độ cung cấp thông tin về ngân sách nhà nước trước đây của Việt Nam, công bố này là một bước tiến đáng ghi nhận. Tuy vậy, thông tin ngân sách được công bố là những thông tin gộp, tổng hợp, chưa cho phép phân tích hiệu quả thu, chi, chưa thể đòi hỏi có trách nhiệm giải trình hay trách nhiệm cá nhân về thu, chi ngân sách nhà nước.

Những bất cập trong cơ cấu nguồn thu

Kinh tế hộ gia đình chiếm đến 32% GDP nhưng chỉ đóng góp 1,56% vào thu ngân sách. Theo các nguồn thông tin từ doanh nghiệp, một số không ít hộ doanh nghiệp được đăng ký trong thực tế có quy mô lớn hơn 10 lao động mà theo Luật Doanh nghiệp, những doanh nghiệp đó phải được đăng ký là doanh nghiệp chứ không còn là hộ gia đình để được nộp thuế khoán trên cơ sở thỏa thuận giữa chủ doanh nghiệp và viên chức thu thuế.

TS Lê Đăng Doanh. Ảnh: Vietnamfinance

Ngoài thuế khoán, các hộ gia đình cho biết họ phải thường xuyên đóng góp những khoản thu ngoài pháp luật cho những tổ chức khác nhau ở quận, phường.

Việc chấn chỉnh quản lý nhà nước ở cấp quận, phường với kinh tế hộ gia đình là rất cần thiết để tạo ra môi trường kinh doanh bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh theo pháp luật.

Kinh tế số: chậm trễ khung pháp lý

Với sự phát triển bùng nổ của kinh tế số (digital economy), nhiều loại hình lao động và kinh doanh mới xuất hiện.

Nền kinh tế số kết nối sâu rộng qua công nghệ thông tin đã tạo điều kiện thuận lợi chưa từng có cho lao động và việc làm mới, giao dịch, thương mại, tạo cơ hội để người dân bình thường có thể tiếp cận thuận lợi nhất đến các việc làm trong và ngoài nước, sản phẩm, dịch vụ hiện đại xuyên biên giới, mở ra rất nhiều hình thức làm việc, trao đổi hàng hóa trước đây chưa xuất hiện, mở ra khả năng tiếp cận công việc, buôn bán xuyên biên giới chưa hề có trước đây. Nền kinh tế tự do hay kinh tế tạm thời (gig economy) là một ví dụ, theo đó người lao động có thể ký hợp đồng lao động tạm thời, thực hiện những công việc ngắn hạn như tư vấn, dịch thuật, lái xe cho Uber hay Grab...

Cũng đã xuất hiện nhiều dạng mua bán, trao đổi hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ như kinh tế chia sẻ (sharing economy) như cùng đi chung xe ô tô để đi làm, hay cho thuê phòng cho khách ở theo dạng homestay qua môi giới của Airbnb... Ở Việt Nam, theo thông tin của ngành du lịch, hiện đã có hơn 16.000 phòng cho thuê theo ứng dụng này tại Hà Nội và TP.HCM. Số phòng này tương đương tổng số phòng của hệ thống khách sạn 2-4 sao của TP.HCM và đang tiếp tục tăng lên nhanh chóng.

Những hình thức khác cũng đã xuất hiện: kinh tế hàng đổi hàng (barter economy) nơi người dân có thể trao đổi hàng hóa ngang giá hay kinh tế quà biếu (gift economy) khi người dân có thể cho một số sản phẩm hay vật phẩm của mình mà không yêu cầu phải trả tiền, thù lao hay hứa hẹn bất kỳ sự trả ơn nào trong tương lai.

Theo thông tin từ Google và Temasek, nền kinh tế số của khu vực ASEAN đã có những đột phá trong những năm gần đây và đặc biệt là trong năm 2017. Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế số khu vực ASEAN năm 2017 đã vượt kỳ vọng với tỷ lệ tăng trưởng hàng năm đạt 27%/năm và đạt mốc 50 tỉ USD, chiếm khoảng 2% GDP của khu vực (dự kiến sẽ đạt 6% GDP vào năm 2025).

Đóng góp vào sự tăng trưởng này là các ngành như du lịch trực tuyến, thương mại điện tử, phương tiện truyền thông và giải trí trực tuyến, đặt xe trực tuyến.

Ở Việt Nam, với tổng dân số hơn 90 triệu người, với hơn 58 triệu người dùng internet, hơn 125 triệu thuê bao di động, hơn 3.000 doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, nhiều doanh nghiệp thành công trong các công nghệ thông tin, công nghệ phần mềm, ứng dụng công nghệ số (như FPT, DTT, Viettel...). Việt Nam đang được đánh giá là một trong những quốc gia có tiềm năng lớn để phát triển nền kinh tế số.

Càng chậm trễ thì hoạt động kinh tế số tăng nhanh như vũ bão sẽ bị rơi vào khu vực kinh tế phi chính thức nhiều hơn ngoài ý muốn của những cá nhân và thể nhân tham gia các hoạt động này.

Tại Việt Nam, xu thế “số hóa” đã xuất hiện ở hầu hết mọi lĩnh vực, từ thương mại, thanh toán cho đến giao thông, giáo dục, y tế... Nhiều doanh nghiệp Việt đã bắt đầu tham gia vào thương mại điện tử (Vuivui.com, Tiki.vn...), các nền tảng thanh toán trung gian bằng công nghệ QR Code, ví (123Pay và ZaloPay của ZION, Momo, Webmoney, Payoo...), mạng xã hội (Zalo), thiết bị IoT (máy bán nước, máy bán bánh pizza tự động tích hợp giải pháp thanh toán điện tử cho máy bán hàng VPOS), thanh toán trực tuyến của các ngân hàng...

Tỷ trọng của thương mại điện tử trong tổng số doanh số thị trường bán lẻ của Việt Nam chiếm 3,6%. Đây là con số khiêm tốn so với mức trung bình của khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (14,5%).

Rõ ràng bộ máy quản lý nhà nước của chúng ta đã chậm so với sự phát triển của công nghệ và sự năng động của nền kinh tế hội nhập sâu vào kinh tế khu vực và thế giới. Đó chính là kẽ hở để một số loại hình của nền kinh tế số có thể trở thành một bộ phận mớí của mảng kinh tế phi chính thức vốn đã chiếm tỷ lệ cao về lao động và GDP của nền kinh tế truyền thống, đã dẫn đến bất công trong xã hội, làm tăng thêm chênh lệch giàu-nghèo. Nền kinh tế số có làm tăng thêm kinh tế phi hình thức ở Việt Nam hay không?

Để phát triển nền kinh tế số một cách chính quy, hợp pháp, nhà nước cần xây dựng kịp thời môi trường pháp lý phù hợp cho nền kinh tế số và giao dịch điện tử. Một khung pháp lý bao quát nền kinh tế số sẽ giúp thúc đẩy quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế truyền thống sang nền kinh tế số diễn ra một cách mau chóng và thuận lợi hơn. Khung pháp lý cơ bản có thể gồm luật về văn bản điện tử, luật giao dịch điện tử và luật chữ ký số, để tạo điều kiện nhà nước quản lý được giao dịch điện tử. Chính sự chậm trễ của khung pháp lý về các hoạt động kinh tế số đã tạm thời đẩy các hoạt động này sang khu vực phi chính thức, làm cho cơ quan thuế phải truy thu. Càng chậm trễ thì hoạt động kinh tế số tăng nhanh như vũ bão sẽ bị rơi vào khu vực kinh tế phi chính thức nhiều hơn ngoài ý muốn của những cá nhân và thể nhân tham gia các hoạt động này.

Văn phòng Chính phủ vừa có văn bản báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cho hay năm 2017, ngành thuế đã triển khai rà soát các cá nhân kinh doanh qua mạng xã hội nhưng chưa kê khai, nộp thuế.

Cụ thể, ngành thuế Hà Nội đã rà soát, thu thập cơ sở dữ liệu của 13.422 chủ tài khoản trên mạng xã hội có hoạt động quảng cáo, bán hàng qua mạng, trong đó 1.950 cá nhân đã đăng ký và được cấp mã số thuế để kê khai, nộp thuế.

Cục Thuế TP.HCM cũng đã gửi 13.145 giấy mời với trên 15.297 website và tài khoản Facebook do cơ quan thuế thu thập được tới các tổ chức, cá nhân có kinh doanh thương mại điện tử.

Tại Đà Nẵng, ngành thuế đã rà soát 11.072 chủ tài khoản; Khánh Hòa có 6.729 chủ tài khoản; Nghệ An có 3.545 chủ tài khoản trên mạng xã hội có hoạt động quảng cáo, bán hàng qua mạng.

Đầu tư công, tăng nợ công

Với tình hình thu-chi ngân sách khó khăn như trên đây, tỷ trọng vốn đầu tư công đang có xu hướng giảm, nhất là giai đoạn 2005-2010, từ mức 47,1% năm 2005 xuống còn 38,1% năm 2010; sau đó nhích lên chút ít trong các năm 2012 đến 2014, giảm còn 38% năm 2015 và dừng ở mức 37,6% năm 2016.

Có những thông tin chưa được kiểm chứng cho rằng để có chữ ký quyết định đầu tư phải chi bao nhiêu phần trăm, giải phóng mặt bằng phải chi bao nhiêu phần trăm... nên số vốn còn lại cho thi công không còn bao nhiêu, chất lượng công trình kém là không tránh khỏi.

Đầu tư vốn ngân sách nhà nước vẫn dựa chủ yếu vào nguồn bội chi ngân sách (vay nợ trong nước và nước ngoài) do cân đối ngân sách gặp khó khăn. Tỷ trọng chi đầu tư phát triển trên tổng chi ngân sách nhà nước giảm dần theo mức giảm bội chi ngân sách nhà nước, năm 2015 khoảng 17,4% (so với năm 2011 là 26,4%). Vì vậy, đầu tư công được coi là chịu trách nhiệm quan trọng làm tăng nợ công.

Quyết định đầu tư công liên quan đến quy hoạch, thẩm định, giám sát v.v.. trong đó vai trò của các hiệp hội chuyên môn độc lập chưa được đề cao đúng mức.

Tình trạng lãng phí, thất thoát trong đầu tư công diễn ra phổ biến. Chi chưa đúng chế độ, chính sách, không bố trí đủ nguồn vốn, chất lượng công trình thấp trong đầu tư xây dựng vẫn chưa đạt được những tiến bộ vững chắc. Trên báo chí và công luận, đầu tư công được mặc nhiên gắn liền với lợi ích nhóm, chia chác vốn ngân sách. Có những thông tin chưa được kiểm chứng cho rằng để có chữ ký quyết định đầu tư phải chi bao nhiêu phần trăm, giải phóng mặt bằng phải chi bao nhiêu phần trăm... nên số vốn còn lại cho thi công không còn bao nhiêu, chất lượng công trình kém là không tránh khỏi.

Rất mong Quốc hội huy động rộng rãi các chuyên gia độc lập, các hội chuyên ngành để giúp Quốc hội giám sát đầu tư công, tạo ra bước ngoặt về chất lượng trong quản lý đầu tư công ở nước ta. 

TS. Lê Đăng Doanh

bài viết liên quan
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.