Nhân viên công ty vận chuyển vẫn thản nhiên tiếp tục gỡ tranh đóng gói, họ chẳng thể nhìn thấy những giọt nước mắt trong tim một kẻ đang vĩnh biệt những gì thân yêu nhất. Đêm ấy, còn lại một mình trong căn hộ rộng tường trống, tôi như kẻ bị tước đoạt một phần đời. Nhưng cuộc chia ly này không thể tránh vì đã định trước.
Như cô Perette của La Fontaine đi bán sữa, tôi từng toan tính: nếu để chúng ở mãi trong gia đình, vị tất chỉ được khoảng vài ba chục người thân xem được, nhưng nếu đưa chúng về bảo tàng, biết đâu mỗi ngày, chả có hàng chục, một tháng sẽ có ba trăm, một năm vị chi ba ngàn sáu, tôi tính nhẩm “lời lãi” đem về, thấy cái vốn nhỏ của gia đình mình sẽ tăng nhanh, chỉ trong mấy năm, biết đâu, chả được mấy trăm, mấy nghìn người, rồi bao giờ đến một vạn!... Một vạn đôi mắt ngắm bức Thiên thai của Phạm Tăng, một vạn đôi mắt khám phá cõi mịt mùng trải trên Vách quế gió vàng của Võ Đình, một vạn đôi mắt của đồng bào tôi lấp lánh trên vòm trời quê hương như những vì sao thiêng liêng thân thuộc nhất (*).

Ông Nguyễn Minh Nhựt, Phó giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao TP.HCM (áo trắng) đại diện đoàn công tác TP.HCM sang Pháp tiếp nhận tranh tại nhà riêng của bà Thụy Khuê ở Paris, đầu tháng 9.2025. Ảnh: Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM
Việc tặng tranh lần thứ ba tới Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM đối với tôi, riêng tư và ray rứt hơn hai lần trước chúng tôi đã làm với Lê Thị Lựu và Lê Bá Đảng, bởi vì các tác phẩm được đem về nước lần này, đã ngự trị trong phòng khách, phòng ngủ của chúng tôi, đã ở với gia đình chúng tôi gần nửa thế kỷ, chúng đã dự vào những buổi họp mặt thân mật nhất của chúng tôi với bè bạn, với các nghệ sĩ đến từ xa trong những năm tháng xưa. Những họa sĩ vẽ các bức tranh này, có người đã từng chia sẻ với chúng tôi cuộc đời ly hương, có người chỉ gặp một vài lần, có người chưa bao giờ biết, có người đã vĩnh viễn ra đi... nhưng từ lâu chúng tôi không còn gặp lại ai, tôi chỉ có thể nói chuyện với tranh, nhìn tranh mà nhớ người...
Mỗi lần ngước lên, tranh lại ngỏ cho tôi biết thêm một khía cạnh mới của người đã sinh ra nó; tranh vừa là trung gian, vừa là người thầy, giải mã cho tôi những thắc mắc không bao giờ cạn trước một tác phẩm nghệ thuật. Đem những bức tranh này về xứ, là muốn chia sẻ những ân huệ của đời mình và chồng con, với quê hương, hoàn lại Tổ quốc những đứa con tinh thần lâu nay xa vắng.

Ông Trần Minh Công, Phó giám đốc phụ trách Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM (phải) cùng PGS-TS. Lâm Nhân, Hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa TP.HCM đại diện ông bà Lê Tất Luyện - Thụy Khuê mở niêm phong tác phẩm Nhị Kiều, sơn dầu 36 × 44cm, của Vũ Cao Đàm ngày 22.9.2025, khi bộ sưu tập “Từ Mỹ thuật Đông Dương đến Mỹ thuật Gia Định (1925 - 1975)” từ Pháp về đến TP.HCM. Ảnh: Thiên Thanh
Bởi nghệ thuật không phải chuyện đùa, mỗi bức tranh đều chở câu chuyện của một con người gắn liền với sinh mệnh người khác. Tất cả nếu để gần nhau, sẽ tạo nên một bức họa lớn, muôn vẻ, khi nhìn xa, nhìn gần. Bởi vì, chỉ hội họa mới có độc quyền, với dăm nét, có thể diễn tả một nghịch cảnh, một niềm yêu, một nỗi buồn, xuyên suốt cuộc đời chìm nổi của cả một dân tộc, bởi họa sĩ là người duy nhất có thể lưu lại những bức ký họa ngoại cảnh và trong hồn.
Bộ sưu tập lần này với 42 tác phẩm của 15 họa sĩ, được đặt tên “Từ Mỹ thuật Đông Dương đến Mỹ thuật Gia Định”, tức một con đường dài 50 năm, từ 1925, khi trường Mỹ thuật Đông Dương mở cửa đến 1975, lúc trường Mỹ thuật Gia Định ngưng hoạt động.

Tác phẩm Thiên Thai, 1975, sơn dầu 300 x 120cm, kiệt tác của Phạm Tăng.
Trong tất cả những việc mà người Pháp làm khi đánh chiếm và đô hộ nước ta, chỉ có một, một điều duy nhất đáng được tri ân: họ đã dựng trường Mỹ thuật Đông Dương để đào tạo họa sĩ. Công lao ấy dựa trên vai một người: Victor Tardieu (1870 - 1937).
Đoạt giải hội họa Đông Dương 1920, nhưng khó có thể chen chân trong môi trường hội họa Paris đã đầy rẫy nhân tài, Victor Tardieu tìm một chân trời khác. Ông đến Hà Nội ban đầu vẽ bích họa, rồi vận động thành lập một trường mỹ thuật. Năm 1925, trường được cấp giấy phép ra đời. Những khóa đầu, có 10 sinh viên, học về ba ngành: hội họa, điêu khắc và kiến trúc. Thời gian học tập được quy định là 5 năm.
Trái với người Anh khi đặt chân lên đất Ấn, họ đã dựng nên những viện mỹ thuật hoàn toàn Âu hóa, hủy diệt nghệ thuật chân truyền Ấn Độ; Victor Tardieu, ngược lại, đòi hỏi học trò phải trở về nguồn, tìm cảm hứng trong tôn giáo, phong tục Việt. Sau mười năm cố gắng, ông đã xây dựng được một trường mỹ thuật, với hai lớp học trò tài năng, sáng tạo theo kỹ thuật Tây phương, trên nền tư tưởng Đông phương.

Tác phẩm Tuồng đời, 1967, sơn dầu 20 x 25cm, kiệt tác của Bùi Xuân Phái.
Ở đây cần phải nhắc lại điều này: từ nhiều năm nay có người nêu tên họa sĩ Nam Sơn là phó giám đốc trường Mỹ thuật Đông Dương, bên cạnh Victor Tardieu. Bởi vì họ không biết tình trạng nước ta dưới thời Pháp thuộc: người Việt được chỉ định bằng chữ indigène, tức là người bản xứ trong nghĩa khinh thị. Cổng vào chợ phiên chia hai: cổng chính dành cho người Âu, cổng nhỏ bên cạnh cho người bản xứ. Tuyệt không có người indigène nào được “cầm đầu” bất cứ cái gì bên cạnh một người Pháp. Báo chí thời đó và các họa sĩ đầu tiên của Việt Nam mà tôi có dịp tiếp xúc như Lê Phổ, Vũ Cao Đàm, Lê Thị Lựu không bao giờ nói đến Nam Sơn như một ông phó giám đốc của trường: Nam Sơn chỉ là một học trò lớn tuổi có công giúp thầy mọi việc.

Tác phẩm Hải quỳ, sơn dầu 36 x 45cm, của Lê Phổ.
Báo Ngày Nay đưa tin: Tardieu đã phải tranh đấu không ngừng với phủ Toàn quyền cho đến khi ông qua đời (năm 1937), để trường có đủ ngân quỹ, không bị đóng cửa. Bởi vì chính quyền thực dân cho rằng: không nên bỏ tiền ra dạy những kẻ indigène nghệ thuật làm gì vì chúng không thể hiểu.
Báo Phong Hóa số 18 (20.10.1932), có bài Trường Mỹ thuật Đông Pháp, ghi công lao giáo sư Tardieu như sau: “Nền mỹ thuật của nước nhà mà có được cái kết quả tốt đẹp như vậy cũng là nhờ công trình của cụ Victor Tardieu người đã sáng lập ra nhà trường. Cụ khéo điều hòa hai nền mỹ thuật Âu Á, hết lòng chỉ bảo học trò cụ noi theo cái tinh hoa của mỹ thuật Đông phương lấy đấy làm gốc của sự học”.

Tác phẩm Trải vách quế gió vàng hiu hắt, 1994, trừu tượng, sơn dầu 60 x 60cm, của Võ Đình.
Khi chúng tôi gặp họa sĩ Lê Phổ và Vũ Cao Đàm, những năm 1990, vẫn còn nghe hai ông nhắc đến người thầy xưa với nhiều xúc động. Họa sĩ Lê Phổ kể lại: “Ông Tardieu là một ông thầy tuyệt vời đối với học trò: ông giúp đỡ chúng tôi về mọi mặt. Phải nói rằng thời đó, ngay một số người Pháp cũng ganh tị với chúng tôi, kể cả những người Pháp dạy ở trường Mỹ thuật Hà Nội. Chúng tôi làm việc nhiều, và mỗi cuộc triển lãm tranh chúng tôi bán được gần một nửa, hơn cả những người Pháp đã được giải thưởng hội họa Đông Dương và cũng triển lãm tranh ngay tại Hà Nội (...)
Ông Tardieu khi dạy chúng tôi, không muốn chúng tôi mô phỏng hội họa Tây phương, mà phải giữ vững truyền thống của mình, rồi từ truyền thống ấy, tạo ra một cái gì khác”.

Tác phẩm Một mảnh trừu tượng, 1993, sơn dầu 37,5x37,5cm, của Nguyễn Trung
Họa sĩ Vũ Cao Đàm ghi nhớ những kỷ niệm về trường: “Tôi vào trường Mỹ thuật Hà Nội năm 1926. Trường do ông Victor Tardieu thành lập và tôi đã học những môn: hình họa (dessin), hội họa (peinture) và điêu khắc (sculpture). Chúng tôi có những giáo sư chính: Ông Victor Tardieu dạy hội họa. Ông Inguimberty dạy trang trí và điêu khắc. Ông Batteur dạy kiến trúc. Bác sĩ De Phénix dạy cơ thể học.
Mỗi năm có một giáo sư hội họa được giải thưởng Đông Dương đến trường để giảng thêm. Ông Tardieu đã hy sinh tất cả cho học trò. Ngoài nhiệm vụ giảng dạy, ông còn dìu dắt và nâng đỡ học trò trong những trường hợp khó khăn để họ có điều kiện theo đuổi việc học. Bây giờ khó có thể kiếm được một người thầy sáng suốt, có lương tâm và tận tụy đến thế” (**).

Tác phẩm Chân dung siêu thực Bùi Giáng, màu nước 30,5 x 47cm, kiệt tác của Đinh Cường
Victor Tardieu và ê-kíp giáo sư của nhà trường đã đào tạo nên những lớp họa sĩ đầu tiên của Việt Nam, với những tên tuổi như Lê Văn Đệ, Lê Phổ, Mai Thứ, Vũ Cao Đàm, Tô Ngọc Vân, Lê Thị Lựu... Họ chính là những người đã dựng nền hội họa giao hòa hai thế giới Đông - Tây, thể hiện tính cách lãng mạn, thơ mộng, cái đẹp phù ảo trong tranh, bằng tài năng vượt bực, họ đã tạo ra một thế giới trong sạch, tuyệt vời, nhưng có bề không tưởng, ra ngoài thực tế lầm than, nô lệ, của dân tộc.
Trường Mỹ thuật Gia Định mở cửa từ năm 1913, ban đầu chỉ là trường dạy vẽ (Ecole du dessin) với chủ đích đào tạo nghệ nhân thủ công. Năm 1954, Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa thành lập trường Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn và họa sĩ Lê Văn Đệ (1906 - 1966), thủ khoa khóa đầu (1925 - 1930) Mỹ thuật Đông Dương, được cử làm giám đốc đến năm 1966, khi ông qua đời.

Tác phẩm Phụ nữ Bắc vấn tóc trần, tranh lụa 21 x 31cm, kiệt tác của Vũ Cao Đàm
Năm 1957, trường Cao đẳng Mỹ thuật Huế được thành lập, hợp cùng trường Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn, tạo nên tầng lớp họa sĩ thứ nhì. Tháng 11.1966, họ thành lập Hội Họa Sĩ Trẻ; tháng 1.1967, họ công bố bản tuyên ngôn (Nhận Định) do họa sĩ Nguyễn Trung soạn, chủ trương: đoạn tuyệt với văn nghệ tiền chiến, chống lại khuynh hướng hội họa thương mại suy đồi, để “hình thành những đường lối sáng tạo độc đáo trong bầu không khí sinh hoạt hội họa trong sạch và cởi mở”.
Hội Họa Sĩ Trẻ phần lớn là những nghệ sĩ đa tài, thiên tả, phản chiến, hoặc trốn lính, hợp thành một “lực lượng hùng hậu”: Ngy Cao Uyên, Hiếu Đệ, Cù Nguyễn, Nguyễn Trung, Nghiêu Đề, Nguyễn Phước, Hồ Thành Đức, Nguyên Khai, Hồ Hữu Thủ, Mai Chững, Trịnh Cung, Đinh Cường... đã vượt qua hội họa lãng mạn của nhóm Mỹ thuật Đông Dương, để đưa hội họa Việt Nam vào thời hiện đại, với những ảo ảnh mới, những vết hằn của chiến tranh, những nét quằn quại của đời thực.

Tác phẩm Bát máu, cực thực, sơn dầu 70 x 55,5cm, của Đỗ Quang Em
Sưu tập “Từ Mỹ thuật Đông Dương đến Mỹ thuật Gia Định”, dù chỉ với một số tranh khiêm nhường mà chúng tôi sở hữu, có tham vọng mở cửa vào lại hành trình này, giúp người thưởng ngoạn hôm nay và mai sau, nhìn thấy một mảng tác phẩm của những họa sĩ tiền bối, những người làm nghệ thuật sống ở ngoài nước, và của những họa sĩ đã tham dự cuộc đổi mới nghệ thuật Việt Nam.
Bộ sưu tập được trao tặng với nguyện ước sau này chúng ta sẽ không chỉ giữ lại ảnh chụp những bức tranh được đưa lên các sàn đấu giá quốc tế, giá ngàn vạn Mỹ kim, chúng ta không phải rơi vào cảnh “tự hào” là có tác phẩm “góp mặt với thế giới” nhưng sự thực, chẳng mấy ai được nhìn thấy tận mắt, một vài bức tranh, của các danh họa Việt Nam, trong một bảo tàng Việt Nam, bởi vì những tác phẩm nghệ thuật của chúng ta đã tản mạn, tan tác ở nước ngoài, thất lạc trên quê hương, mất dần cùng năm tháng.
Thụy Khuê
__________
(*) Hình tranh trong bài là một số tác phẩm thuộc bộ sưu tập ông bà Lê Tất Luyện - Thụy Khuê hiến tặng
(**) Phát thanh trên đài RFI: “Nói chuyện với họa sĩ Vũ Cao Đàm” ngày 24.3.1991 và “Nói chuyện với họa sĩ Lê Phổ” ngày 7.3.1993.