“Qua tuổi 50, người ta thường sống với ký ức. Người già sống với ký ức, người trẻ sống với ước mơ. Tôi nghĩ ai cũng vậy, khi qua tuổi 50, ký ức tuổi thơ sẽ sống dậy. Đối với tôi, ký ức tuổi thơ sống dậy mạnh mẽ lắm. Tôi muốn làm lại những gì tuổi thơ từng trải qua” - kỹ sư Lê Quốc Việt, người thường được nông dân gọi là “ông Tư lúa mùa” chậm rãi chia sẻ câu chuyện gần 10 năm theo đuổi việc gìn giữ văn hóa lúa mùa xưa của quê hương.
Tiếc nuối về không gian văn hóa lúa mùa
Sinh năm Giáp Thìn 1964 tại xứ Cù Là - Minh Lương, tỉnh Kiên Giang cũ, ông Tư Việt là con thứ tư trong gia đình nông dân có 8 anh chị em. Cha mất sớm, sau những tháng năm tuổi thơ theo chân ngoại ra đồng, ông thành nông dân chính hiệu vì “những gì một nông dân làm được thì tôi đều làm được ở tuổi 15”.
Chọn học nông nghiệp tại Đại học Cần Thơ để làm giàu thêm kiến thức chuyên môn nhưng khi rời ghế nhà trường trở về đồng ruộng, phương thức canh tác lúa đã thay đổi theo chính sách chung của nhà nước là trồng giống cao sản ngắn ngày.
Ông chia sẻ: “Ba mươi mấy năm tiếp cận với trồng lúa ngắn ngày, tôi thấy mọi thứ thay đổi, cách sản xuất thay đổi cũng làm thay đổi luôn văn hóa. Cách con người ứng xử với thiên nhiên hay ứng xử với nhau đều thay đổi. Việc thay đổi trong trồng trọt như tăng mùa vụ, tăng phân, riết rồi môi trường sinh thái bị ô nhiễm, một số loài cá kiếm không ra, một số loài cỏ giờ không còn thấy bóng. Các giống cũ bị bỏ đi nếu không kịp lưu giữ sẽ biến mất hoàn toàn”.

Phương thức canh tác thay đổi khiến thói quen, tâp tục văn hóa đậm tình nghĩa giữa con người cũng thay đổi. “Cảm nhận từ cá nhân, tôi thấy cách ứng xử giữa con người và con người rất đặc biệt trong văn hóa lúa mùa. Khi khai phá đồng bằng, người Khmer bản địa, rồi lưu dân, dân tứ xứ tụ tập từ từ tạo nên cộng đồng. Tại sao người Nam bộ nói tiếng lớn? Vì họ ở thưa nhau quá, phải nói lớn mới nghe. Rồi không có tiền bạc gì hết, người ta vần công với nhau, sống với nhau tứ hải giai huynh đệ, gặp nhau coi như thân thích, mời cơm, mời rượu, rồi ai làm gì thì xúm nhau làm, cấy lúa vần công, nhổ mạ vần công, rồi đám cưới đám hỏi gì cũng vần công với nhau, giao lưu bằng tình làng nghĩa xóm chứ không phải bằng tiền bạc. Đó là một lối sống xã hội rất hay. Ở nhà làm bánh xèo hay chè trôi nước thì cũng bưng đi mời bác Hai, dì Bảy ăn lấy thảo. Tình nghĩa rất sâu nặng. Đó là những ứng xử về văn hóa sâu sắc, không giữ được những cái đó sẽ rất có tội với tiền nhân”, ông Tư Việt đúc kết.
Trong gia đình giữ cách sống tam đại đồng đường, bà dạy cho mẹ, mẹ dạy con cái làm mọi việc, làm bánh, nấu ăn, sắp xếp này kia. Đó là sự kế thừa, lưu giữ, truyền đời. Cha mẹ làm việc, hành động, lời nói cũng là bài học cho con cái. Đó là sự trao truyền văn hóa cho con cái và mỗi một lần trao truyền nó sẽ nâng lên, dày thêm. Sống ở chính thời điểm chuyển giao, cái cũ thì mất đi gần hết, cái mới thì đã hình thành và ngày càng phát triển theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, ông Tư Việt nhận ra nếu không kịp thời giữ lại những thứ tốt đẹp của ông bà, để mất đi thì không bao giờ tìm lại được. Với năng lực, kiến thức và đất ruộng có sẵn, ông quyết tâm làm mô hình không gian văn hóa lúa mùa từ những ký ức còn lại.
Tư Việt bắt đầu tìm gặp những người cùng tuổi hoặc lớn hơn hiểu rõ về đồng ruộng, trò chuyện hỏi han, nắm bắt được cái hồn cốt của lúa mùa và văn hóa lúa mùa. Ông khẳng định mục đích không phải quay về cái cũ mà là bảo tồn, chắt lọc những tinh hoa, áp dụng cái mới để phát triển. “Không phải ông bà mình ngay từ đầu đã biết liền mọi thứ mà phải trải qua thời gian dài, mỗi thế hệ góp lại một ít mới hình thành được những cái đó. Tri thức và kinh nghiệm được lắng đọng qua hàng trăm năm cực kỳ quý báu. Như tôi ngày nay tiếp thu, là giá trị của cả một bề dày kinh nghiệm tích lũy được qua nhiều thế hệ truyền đời, rồi mình ứng dụng tất cả tri thức của ông bà nhưng có bổ sung kiến thức mới. Phải có cái mới nó mới phát triển chứ giữ cũ hoài thì nó chỉ đi ngang”, ông Tư Việt nói.
Năm 2017, ông Tư Việt bắt đầu sưu tập nông cụ, cũng là thời gian chuẩn bị ruộng đất, nước cho vụ lúa mùa đầu tiên. Với 25 ngàn mét vuông đất ruộng, ông đã thiết kế thành một hệ thống khép kín mô phỏng hệ sinh thái lúa mùa, có đủ ruộng cấy mùa mưa, vuông, ao cho cá tôm trú ẩn trong mùa khô. Nhờ những hiểu biết từ tuổi thơ từng làm qua, ông Tư Việt tìm đến các nơi như Đại học Cần Thơ, Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long, Viện Nghiên cứu nông nghiệp Lộc Trời... tìm các giống lúa xưa về trồng.
“Nước mưa ngập ruộng được bao nhiêu để bấy nhiêu, nhiều quá thì chảy đi. Để một tháng, cỏ mọc, cá lên đẻ, sinh sôi. Mạ thì gieo sẵn chỗ khác. Khi chuẩn bị cấy thì phát cỏ, để một thời gian cho cỏ mục trả lại dinh dưỡng cho đất, mình tính ngày rồi nhổ mạ đem cấy. Cấy lúa bằng nọc như hồi xưa. Rồi chờ tới ngày lúa làm đòng, trổ bông, chín rồi gặt. Vậy thôi, không làm đất. Mùa khô nghỉ, mùa mưa trồng”, ông Tư Việt mô tả công việc ông đang làm hàng năm, từ lúc chính thức bắt tay tái hiện không gian văn hóa lúa mùa của mình.
Sau nhiều năm sưu tập nông cụ, giờ ông phải xây thêm gian lưu giữ, trưng bày bộ nông cụ. “Khoảng 80% nông cụ có nguồn gốc từ người Khmer. Nhiều nông cụ theo người di cư từ nơi khác tới được cải tiến cho phù hợp. Nhưng nông cụ của tôi không phải hiện vật trưng bày, đó là nông cụ sống, tới phiên “thằng” nào thì “thằng” đó xuống làm, xong việc lại rửa treo lên”, ông giải thích. Tính văn hóa ẩn chứa trong từng nông cụ mà ông Tư Việt có thể ngồi giải thích say sưa hàng giờ mỗi lần có ai hỏi đến.
Trồng lúa mùa thuận tự nhiên
Câu chuyện của ông Tư Việt không dừng lại ở mô hình trồng lúa mùa 6 tháng, thời gian còn lại cho đất nghỉ ngơi mà là câu chuyện của một triết lý sâu hơn: việc sinh sống, ứng xử, sản xuất thuận tự nhiên - hay thuận thiên.
Trong tự nhiên, mọi thứ đều có sự cân bằng và có lý do để tồn tại. Ông bà xưa canh tác thuận theo tự nhiên hoàn toàn có thể giải thích được bằng kiến thức khoa học và điều này giúp áp dụng kỹ thuật tiên tiến để làm tốt hơn mọi thứ. Ví dụ ngày xưa cấy xong là chỉ chờ ngày gặt, nhưng giờ áp dụng khoa học, thả thêm bèo hoa dâu để làm phân. Kiến thức khoa học cho mình biết bèo hoa dâu có tảo lam cộng sinh hấp thu khí nitơ thành đạm, khi nó tàn thì cung cấp dinh dưỡng tốt cho cây vì hàm lượng đạm từ bèo hoa dâu rất tốt, nó tự sinh sản cũng nhanh. Hoặc cần thì bổ sung ốc bươu đen, có thể thêm được chút đỉnh thu nhập, hay nuôi vịt kiểm soát sâu bệnh, sẽ có lúa vịt, lúa cá, lúa tôm.
Trong ruộng lúa cỏ là bạn, cũng xài nước, dinh dưỡng, cũng quang hợp, xong nhiệm vụ thì nằm xuống trả lại cho đất, nuôi đất luôn. Nếu mùa khô mà nắng 39 - 40 độ C thì khi gặt lúa phải để yên gốc rạ cao dày hơn che phủ mặt đất nhằm bảo vệ vi sinh vật đất tốt hơn thay vì đốt hay dọn đi.
“Về kỹ thuật, mình hiểu đất khỏe thì cây mới khỏe, cây khỏe thì hoa trái chất lượng tốt. Muốn đất khỏe thì phải có một hệ vi sinh vật đất phong phú đa dạng, có thể dùng phân hữu cơ hỗ trợ. Trong đất luôn có nhiều phân tử dinh dưỡng ở dạng trơ, cây trồng không hấp thu được nhưng khi đất có vi sinh, vi sinh sẽ phân tách ra hình thái mà rễ cây có thể hấp thu. Như vậy vi sinh có nhiệm vụ phân tách dinh dưỡng trơ thành loại dễ hấp thụ nhằm cung cấp dinh dưỡng cho cây, sau khi cây sử dụng dinh dưỡng, nước, quang hợp xong, tổng hợp hydrate carbon, cây sẽ giữ lại 70% để phát triển, còn 30% tiết qua dịch rễ để trả công lại cho vi sinh trong đất, để vi sinh tiếp tục sinh sôi và làm nhiệm vụ. Nghĩa là trong tự nhiên nó đã có cơ chế qua lại sòng phẳng. Mình trồng lúa mùa để khôi phục một môi trường sinh thái cộng sinh, đa dạng sinh học. Hồi xưa là như vậy. Thuận thiên là vậy”, ông Tư Việt giải thích.
Trong tự nhiên, mọi thứ đều có sự cân bằng và có lý do để tồn tại. Ông bà xưa canh tác thuận theo tự nhiên hoàn toàn có thể giải thích được bằng kiến thức khoa học và điều này giúp áp dụng kỹ thuật tiên tiến để làm tốt hơn mọi thứ.
Biết quy luật lên xuống của nước, vận dụng quy luật đó để khai thác thuận tự nhiên cũng là điều quan trọng với lúa mùa. Nước lên, các loại cây như bông súng ma, cây cỏ mọc, cứ để nó mọc và cho cá ở. Bên cạnh đó cần chuẩn bị vài ba cái mương, khi nước giật xuống thì có chỗ sâu cho cá ở. Lúc rút nước, sạ lúa, tát mương mình còn bắt được cá. Hiểu được quy luật của tự nhiên để mà vận dụng vào cuộc sống chứ không đi trái ngược lại tự nhiên.
“Việc đắp đê bao, không cho lũ vô để mần được 3 vụ, phù sa đâu đọng lại được mà đi hết ra biển. Rồi cứ phân thuốc, vài ba năm đất kiệt sức. Rồi lại than giờ làm hết trúng, lại tăng phân, càng tăng phân càng sâu bệnh, càng thuốc nhiều. Tăng phân với thuốc thì ô nhiễm đất, nước và không khí tăng, gây ngộ độc trực tiếp và gián tiếp cho con người”, ông Tư Việt cho biết.
Thuận tự nhiên cũng có nghĩa lúa mùa 6 tháng của ông Tư Việt còn bị “chim chuột bu vô chia” nên thành quả ông thu lượm lại về cơ bản là “thấp sản”. “Nhưng giữ lại được chút ít làm giống đã vui lắm rồi”, ông cười.
Đến nay, ông Tư Việt đã hình thành được một không gian gần giống nhất với không gian văn hóa lúa mùa, tạo đa dạng sinh học, tìm lại loại cỏ, cây bản địa, mang về trồng tự nhiên để phục hồi, rồi các loài cá về sống trong ruộng khi mùa mưa đến. Ông cũng tìm kiếm nhiều người Khmer đến phụ việc đồng ruộng khi vào mùa.
Bảo tồn giống lúa bản địa
Theo thống kê, năm 1900, người Pháp khảo sát được có 500 giống lúa tại Việt Nam, nhưng đến năm 1982 - 1983 khi giáo sư Võ Tòng Xuân cho sưu tập, thì gom được 1.988 giống, dù đã có những giống mai một trong thời gian 1955 -1975 khi miền Bắc bỏ đi nhiều giống lúa bản địa mà chuyển sang trồng các giống lúa ngắn ngày năng suất cao của Trung Quốc.
“Từ 500 lên 1.988 giống đánh dấu quá trình lao động sáng tạo của ông bà ta. Người nông dân đi ra đồng thấy gì khác sẽ thử, thấy thơm, ngon sẽ về nhân lên, được nhiều thì xay ăn thử, thấy tốt thì trồng mấy hecta. Người khác lại xin giống và thường những giống này lại được đặt theo tên của người trồng được. Đây như một minh chứng cho thành quả lao động sáng tạo của người nông dân. Hiện tôi cũng có hai giống lúa tên Tư Việt 1 và 2”, ông cho biết.
Dù không nhận là nhà bảo tồn hay gầy dựng, nhưng ruộng của ông Tư Việt được nhiều tổ chức trong và ngoài nước mời cộng tác trong quá trình bảo tồn, trồng, chăm sóc giống lúa bản địa, trong đó có Đại học Cần Thơ, Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế. Đến nay, ông Tư Việt đã phục dựng được 40 giống lúa mùa, phối hợp cùng Đại học Cần Thơ trẻ hóa 850 giống địa phương, chọn lọc ra hai giống riêng là TV1 và TV2... Năm 2024, ông Tư Việt được Trung ương Hội Nông dân Việt Nam vinh danh “Nhà khoa học của nhà nông”.
Thấy cách làm hay của ông Tư Việt, các bạn Thái Lan mời ông qua chia sẻ, mời gia nhập nhóm giữ gìn hạt giống bản địa khu vực Đông Nam Á. Các trường đại học tại Nhật, Thái Lan, Indonesia cũng đến tìm hiểu. “Điều đó khích lệ mình làm tốt hơn việc kể chuyện xưa và gìn giữ văn hóa lúa mùa”, ông Tư Việt nói.

Ông Tư Việt hướng dẫn du khách nước ngoài cấy lúa mùa trên khu đất rộng 2,5 ha mà gia đình ông dành trọn để bảo tồn và phục dựng giống lúa mùa. Ảnh: CTV
Là người vừa làm vừa kể chuyện, ông Tư Việt đang trăn trở về người kế thừa phát huy không gian văn hóa lúa mùa, sưu tập và gìn giữ các giống lúa xưa: “Con người qua tuổi 50 như mặt trời về chiều, mình luôn muốn làm sao để lưu giữ lại nhiều nhất những văn hóa xưa. Ngoài chuyện đang đào tạo, tôi cũng viết sách, được 3 cuốn rồi, toàn nói chuyện về văn hóa lúa mùa và quê hương Cù Là. Gần đây, tôi làm các đoạn video ngắn giải thích lưu trên YouTube, mô tả và kể các câu chuyện liên quan đến từng nông cụ”.
Không gian văn hóa lúa mùa của ông Tư Việt hiện đón tiếp học sinh, sinh viên, nhà nghiên cứu và khách đến nghe ông kể chuyện xưa, tận mắt quan sát trải nghiệm lúa mùa 6 tháng. Để không gian gần xưa hơn, ông bổ sung văn hóa phi vật thể, sưu tập thêm một số nhạc cụ Khmer và hình thành một nhóm người Khmer trình diễn các nhạc cụ và âm nhạc dân tộc. Ông còn tham vọng phục dựng lại một số lễ hội văn hóa của người Khmer như cầu mưa thuận gió hòa và cúng được mùa. “Làm cái này lên bờ xuống ruộng, nhiều khi thất vọng dữ lắm chứ không đơn giản đâu. Có ai mà làm ra bốn năm chục tấn lúa nhưng không bán được rồi để cho vịt ăn, bán đi bón ruộng không? Tôi lỗ lũy kế tới giờ cả tỷ bạc”, ông Tư Việt tâm sự.
Ông giải thích, khẩu vị của người ăn đã thay đổi. Hơn 30 năm nay, người ta lai tạo ra các giống với những chất khiến gạo dẻo hơn, mềm thơm hơn. Marketing, truyền thông cũng khiến cho khẩu vị con người thay đổi, khiến người ta khoái cơm thơm, mềm, xốp, dẻo, trong khi lúa mùa thì không được như thế, dù cấu tạo lúa dài ngày có dưỡng chất tròn đầy và bổ hơn. Trồng lúa mùa ra thì phải có người thích ăn lúa mùa. Câu chuyện quá khó!
“Chắc tổ tiên mách bảo mày phải đi làm, chứ giờ ai mà làm cái này. Nhưng mỗi người chọn một lý tưởng sống, giờ mình chọn lý tưởng này, mình cứ làm đến bao giờ tắt thở thì thôi”, ông Tư Việt vẫn hào hứng khi trải lòng về những thách thức trước mắt của không gian văn hóa lúa mùa của mình.
Bài và ảnh: Ninh Hạ