Sau công trình Sài Gòn kinh đô sông nước (NXB Trẻ, 2025) được đánh giá cao khi tái định vị đô thị này như một trung tâm hướng biển từ xưa đến nay và cả trong tương lai, mới đây, tại buổi tọa đàm Trên bến dưới thuyền – ‘Cảng thị’ sầm uất phương Nam thuộc chuỗi chuyên đề Nghe Sài Gòn kể chuyện do Trung tâm Lưu trữ quốc gia II tổ chức, nhà nghiên cứu Trần Hữu Phúc Tiến một lần nữa khẳng định điều này.

Tọa đàm "Trên bến dưới thuyền – ‘Cảng thị’ sầm uất phương Nam" thu hút sự tham gia của đông đảo khán giả, độc giả. Ảnh: Minh Hòa.
Khi bản đồ cổ 'kể chuyện' Sài Gòn
Theo ông Tiến, trong dòng lịch sử, nhà Nguyễn hầu như không để lại hình ảnh trực quan nào về Sài Gòn trước năm 1850, dẫn đến khi nghiên cứu, các nhà sử học phải dựa vào tranh vẽ, bản đồ và những ghi chép của người phương Tây.
Dẫu thiếu hụt, nhưng theo ông, có một nguồn tư liệu đáng chú ý là Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn. Năm 1777, sau khi chúa Trịnh tiến vào Thuận Hóa, Lê Quý Đôn được giao nhiệm vụ kiểm kê và khảo sát tình hình Đàng Trong. Có thể khẳng định những ghi chép này sở hữu tính chất điều tra thực địa, gần với công việc của một nhà báo hơn một học giả chỉ nghiên cứu sách vở. Từ Quảng Ngãi trở vào Gia Định, ông đã để lại nhiều quan sát giá trị về đời sống kinh tế và xã hội.
Về nguồn tư liệu phương Tây, ông Tiến cho biết nhiều bức ảnh, tranh vẽ của người Pháp sau khi chiếm Sài Gòn đã góp phần mô tả không khí nơi đây. Theo đó, một số tác phẩm năm 1866 tại khu vực Chợ Lớn cho thấy hình ảnh người Việt với trang phục, sinh hoạt và nghề nghiệp thường ngày. Và dù mang tính chủ quan của người thực hiện, đây vẫn là nguồn tư liệu trực quan quan trọng để hình dung đời sống xã hội Nam bộ vào thời điểm đó.

Chợ Lớn ngày ấy được chụp bởi nhiếp ảnh gia người Pháp Émile Gsell, khoảng năm 1866. Ảnh: Flickr Manh Hai.
Từ sau năm 1882, việc khảo sát và lập bản đồ Sài Gòn được thực hiện bằng các phương pháp hiện đại hơn, giúp xác định rõ vị trí đô thị qua từng giai đoạn phát triển. Điều này có thể khẳng định qua việc so sánh với những bản đồ năm 1825 hoặc các ghi chép của những thương nhân và nhà ngoại giao phương Tây từng đến nơi này trong thế kỷ 19.
Điều đáng chú ý là có một số bản đồ khá chính xác về tỷ lệ chiều dài đất nước từ Bắc vào Nam. Trong khi đó trên nhiều hải đồ của người Anh và các nước châu Âu, địa danh Sài Gòn đã xuất hiện từ rất sớm, thường được ghi bên cạnh Đồng Nai như một điểm giao thương quan trọng.

Bờ sông Sài Gòn nhìn từ trung tâm thành phố được chụp bởi nhiếp ảnh gia người Pháp Émile Gsell, khoảng năm 1866. Ảnh: Flickr Manh Hai.
Về mặt quy hoạch, các tài liệu lịch sử cho thấy từ đầu thế kỷ 19, Sài Gòn đã là trung tâm kinh tế lớn của Nam Bộ. Đến khi người Pháp đặt chân đến đây năm 1859, đô thị này tiếp tục được mở rộng và phát triển theo mô hình thuộc địa. Sau Hòa ước Nhâm Tuất năm 1862, quyền kiểm soát thực tế của Pháp tại Sài Gòn được củng cố, mở đường cho những chương trình quy hoạch có quy mô lớn.
Trong đó, nhiều bản đồ Sài Gòn giai đoạn 1865-1880 được lưu giữ tại Pháp cho thấy tốc độ đô thị hóa nhanh chóng của thành phố. Dễ nhận ra trên các bản quy hoạch này đã xuất hiện hệ thống đường phố, kênh rạch, công trình công cộng và những dự án hạ tầng được thiết kế khá bài bản.
Ông tiết lộ do chưa có công nghệ chụp ảnh từ trên cao, nên nhiều bản vẽ ở giai đoạn này được thực hiện bằng kỹ thuật đo đạc mặt đất kết hợp quan sát từ khinh khí cầu hoặc các cao điểm, từ đó tạo nên những phối cảnh rất chi tiết. Độ chính xác của các tư liệu này có thể được kiểm chứng qua những công trình vẫn còn tồn tại.
Chẳng hạn, có những bản vẽ Nhà thờ Đức Bà được thực hiện trước khi công trình hoàn thiện hai tháp chuông, cho thấy người vẽ ghi nhận hiện trạng thực tế tại thời điểm khảo sát chứ không phải tưởng tượng hay phục dựng về sau.

Ông Tiến cho biết nguồn tư liệu phương Tây phong phú cho thấy ngay từ rất sớm, Sài Gòn đã được định vị là một đô thị hướng biển. Ảnh: Minh Hòa.
Theo ông Tiến, hơn một thế kỷ trước, người Pháp cũng từng đối diện bài toán quy hoạch Sài Gòn. Theo đó khi tiếp quản thành phố, họ nhận ra đây là một đô thị sông nước với hệ thống kênh rạch chằng chịt, do đó thay vì lấp bỏ hoàn toàn, nhiều tuyến kênh quan trọng vẫn được giữ lại và tích hợp vào quy hoạch đô thị mới.
Bên cạnh đó, nhiều công trình hành chính và quân sự cũng được xây dựng trên địa thế cao, có tầm nhìn bao quát khắp sông Sài Gòn và các tuyến giao thông huyết mạch. Từ đây hình thành dần trung tâm hành chính mới của thành phố.
Một trong những nguồn tư liệu đặc biệt là các bản đồ và bản đồ quy hoạch được lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Pháp. Khi trực tiếp cầm trên tay những bản đồ cổ này, ông Tiến có thể nhận ra nhiều chi tiết mà các bản sao hiện nay không thể hiện rõ. Ông nhận định tuy giấy đã ngả màu và giòn theo thời gian, nhưng các nét vẽ vẫn cho thấy trình độ khảo sát rất cao của những người lập bản đồ thế kỷ 19.
Điểm chung của những tư liệu này là đều cho thấy trước khi người Pháp tiến hành đại quy hoạch, Sài Gòn vẫn là một đô thị ven sông phát triển mạnh nhờ thương mại. So với nhiều đô thị khác trong khu vực, có thể nói quy mô của Sài Gòn lúc bấy giờ đã khá đáng kể.

Bản đồ năm 1862, thể hiện ranh giới Sài Gòn lúc này, bao gồm chủ yếu nơi đã có đông dân cư. Ảnh: Tư liệu.

Bản đồ năm 1878, thể hiện chủ yếu phần đô thị ven đoạn giao giữa sông Sài Gòn và kênh Bến Nghé. Ảnh: Tư liệu.
Sau đó, từ các bản quy hoạch tổng thể Sài Gòn cuối thế kỷ 19 tại các cơ quan lưu trữ, ta có thể thấy tham vọng xây dựng nơi đây thành một đô thị hiện đại theo mô hình châu Âu, nhất là quy hoạch tổng thể khoảng năm 1900. Những tài liệu này phản ánh quá trình chuyển đổi từ một thành phố cảng ven sông thành trung tâm hành chính và thương mại của toàn Nam Kỳ.
Ngoài ra, những tư liệu này cũng cho thấy quá trình mở rộng không gian đô thị diễn ra một cách liên tục. Từ thời Pháp thuộc đến giai đoạn sau này, nhiều khu vực từng là vùng ven hoặc đất nông nghiệp dần được tích hợp vào cấu trúc thành phố, đặt nền móng cho sự phát triển của Sài Gòn như một trung tâm thương mại và công nghiệp lớn. Và dù trung tâm kinh tế của thành phố luôn có xu hướng dịch chuyển, nhưng vai trò của Sài Gòn với tư cách trung tâm thương mại, dịch vụ và kết nối vùng vẫn được duy trì.
Các bản đồ, tranh vẽ và ảnh tư liệu cuối thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20 ngoài ra cũng cho thấy Sài Gòn không chỉ là một đô thị thuộc địa đơn thuần mà còn là tiếp nhận rất sớm các dòng chảy công nghệ, thương mại và tư tưởng toàn cầu. Chính những yếu tố đó đã góp phần định hình diện mạo của thành phố trong hơn một thế kỷ qua.

Nhà sưu tập Nguyễn Đại Hùng Lộc trao đổi về nhiều vấn đề xoay quanh buổi tọa đàm. Ảnh: Minh Hòa
Từ đô thị ven sông đến không gian biển
Nhìn lại lịch sử phát triển của thành phố, ông Tiến nhận thấy tồn tại một câu hỏi vẫn còn giữ nguyên giá trị cho đến ngày nay: Làm thế nào để tận dụng tốt hơn lợi thế sông nước đã góp phần tạo nên Sài Gòn từ buổi đầu hình thành? Theo ông, đó không chỉ là câu chuyện của giao thông hay du lịch, mà còn là câu chuyện về bản sắc và định hướng phát triển của thành phố trong tương lai.
Từ những tư liệu để lại, ông khẳng định không quá khó thấy Sài Gòn chưa bao giờ là một nền kinh tế khép kín hay tự cung tự cấp. Ngay từ buổi đầu, nơi này đã tồn tại nhờ trao đổi hàng hóa, giao thương và kết nối với các vùng khác trong nước cũng như quốc tế. Chính yếu tố thương mại đã tạo nên bản sắc riêng cho Sài Gòn, hình thành nên sự khác biệt khi đặt lên cùng bàn cân với Singapore trong cùng khu vực.
Sau năm 1975, đặc biệt từ thời kỳ đổi mới, thành phố tiếp tục mở rộng với hàng loạt dự án quy hoạch mới. Trong số đó, khu đô thị Phú Mỹ Hưng được xem là dấu mốc quan trọng, mở ra tư duy phát triển đô thị hiện đại theo hướng quy hoạch đồng bộ thay vì mở rộng tự phát.
Theo nhà nghiên cứu, điều này không chỉ tạo nên một trung tâm đô thị mới ở phía Nam mà còn góp phần thay đổi hướng phát triển của thành phố, từ đó, khu vực Nhà Bè và vùng cửa ngõ hướng ra biển bắt đầu được nhìn nhận như những không gian phát triển chiến lược.

KTS. Ngô Viết Nam Sơn cũng chia sẻ cùng nhà nghiên cứu Phúc Tiến và khán giả về những vấn đề xoay quanh lịch sử quy hoạch Sài Gòn - TP.HCM. Ảnh: Minh Hòa
Một vấn đề khác cũng ngày càng được quan tâm là mối quan hệ giữa thành phố với biển. Trong nhiều thế kỷ, Sài Gòn phát triển dựa trên hệ thống sông ngòi, nhưng tương lai của thành phố có thể gắn nhiều hơn với không gian ven biển và các cảng nước sâu sau khi sáp nhập tỉnh thành. Điều này tạo nên một sự dịch chuyển, khi không gian đô thị không còn chỉ giới hạn ở khu vực nội thành truyền thống mà mở rộng dần về phía sông và biển.
Theo ông Tiến, sự phát triển của khu vực Cần Giờ trong những năm gần đây phản ánh xu hướng đó. Việc mở rộng không gian đô thị về phía biển không chỉ nhằm gia tăng quỹ đất mà còn tạo thêm động lực kinh tế mới cho thành phố, kỳ vọng biến khu vực này thành cực tăng trưởng mới của TP.HCM.
Trong quá trình đó, điều quan trọng không chỉ nằm ở các dự án hạ tầng hay bất động sản, mà còn ở việc hình thành một tư duy phát triển mới. Người dân thành phố cần nhìn nhận mình là cư dân của một đô thị biển, một trung tâm kinh tế biển, chứ không chỉ là cư dân của một thành phố nằm bên sông.
Những thay đổi này có thể chưa hiện rõ trong hiện tại, nhưng ông dự đoán trong vòng 10 - 20 năm tới, tác động của chúng sẽ rõ nét hơn. Việc mở rộng không gian phát triển về phía biển sẽ tạo ra những động lực kinh tế mới, từ logistics, cảng biển, du lịch, dịch vụ hàng hải đến các ngành kinh tế xanh…
Trong bối cảnh đó, hệ thống giao thông đường thủy và kinh tế biển có thể trở thành một trong những trụ cột phát triển quan trọng của thành phố trong tương lai. Không gian sông nước vì thế không chỉ phục vụ vận tải mà còn có thể trở thành nền tảng cho du lịch, dịch vụ và các hoạt động văn hóa.
Vì vậy, khi nghĩ về tương lai của TP.HCM, cần nhìn nhận sông nước và biển không chỉ là yếu tố cảnh quan, mà là một phần cốt lõi của bản sắc đô thị. Khai thác hiệu quả lợi thế đó có thể mở ra một chương phát triển mới cho thành phố trong thế kỷ 21.
Điều này cũng sẽ cộng hưởng với “vốn quý” là khả năng thu hút con người từ khắp nơi đến sinh sống, làm việc và lập nghiệp của TP.HCM. Theo ông Tiến, bất kể đến từ đâu, khi gắn bó với thành phố này, người ta đều có thể trở thành “người Sài Gòn”. Và có thể nói tinh thần cởi mở, bao dung và khả năng hội nhập ấy chính là một trong những tài sản lớn nhất của thành phố.
Tuy nhiên, quá trình phát triển cũng đặt ra nhiều câu hỏi về bảo tồn hệ sinh thái, cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và môi trường, cũng như gìn giữ những giá trị lịch sử của một đô thị sông nước lâu đời, bởi một đô thị lớn không nên phát triển theo mô hình đơn cực, mà mỗi khu vực cần có bản sắc và chức năng riêng: nơi bảo tồn di sản, nơi phát triển tài chính, nơi phát triển công nghiệp – công nghệ, nơi hướng ra biển và kinh tế hàng hải. Chính sự đa dạng đó mới tạo nên sức sống lâu dài cho thành phố.
Vì vậy, ông khẳng định sự phát triển TP.HCM trong tương lai không chỉ là xây dựng hạ tầng hay mở rộng không gian đô thị, mà còn là tiếp nối truyền thống của một thành phố mở, một trung tâm giao thương và một đô thị sông biển có tầm vóc khu vực.
Minh Anh