Tây Nguyên - hai mùa phồn thực

 14:34 | Thứ sáu, 06/04/2018  0
Tây Nguyên, với ta, chỉ có hai cực dương - âm,  ta gọi là “mùa đực” và “mùa cái”, chứ chẳng có Xuân, Hạ, Thu, Đông nào cả. Hai tiết mùa thôi, nhưng đủ làm tròn quy luật tạo hóa, êm ái, và che chở chúng sinh. Hai mùa thôi, nhưng đủ làm Tây Nguyên mênh mông, cuồn cuộn, thâm hậu, rạng rỡ.

Ở đây, sự sống cao nguyên Jarai này, xa xưa đến giờ, không có sự đưa thành luận lý, hay lý thuyết, thành văn, mà diễn ra thuần hậu, đơn giản, như là sự trao đổi chất tự nhiên trong đời sống, rất đời, rất dân gian. Đời lang bạt, cái tàn khốc từ thiên nhiên hình như là bằng hữu, vỗ về, thành nơi trú ngụ. Nên những mùa khô tôi dạt tới Gia Lai cũng dội vào, ngấm tự nhiên trên đời lang bạt, dù mình không phải con dân. Vẫn chung một mùa dương trời đất phủ xuống miền thượng, song mùa khô Gia Lai lại cứ đội lên cái “khô” riêng của mình.

*

Đó là lúc nắng ánh vàng trên màu xanh cây trái, tràn đầy, bàng bạc khắp núi rừng xưa, và cái nóng hanh nâu cứ làm chủ không gian. Đợi sự mát mẻ như đợi những nụ hôn trời dành cho mặt đất, như các em tơ đợi cái hôn của trai non buổi đầu mùa sinh lý. Không biết nó có mang mùi vị cùng năng lượng từ đại dương qua cửa Thử - cảng thị cổ xưa của người Chăm ở kinh thành Vijaya xa xưa dưới miền biển leo đèo An Khê để về đây?

Dù ta biết con đường nhuốm màu huyền thoại mà người Cam Bốt, Ai Lao ngưỡng vọng, hành hương sang xứ sở thần linh ở vùng Ayun Ba, và M’tao Ea (thuộc Gia Lai ngày nay) đã mờ mịt từ thuở nào xa lắc. Và con đường Champa thương mại hoang sơ buổi nào đâm đại ngàn ẩn bí xuyên qua các sắc dân sơn nguyên đến tận Campuchia, Lào càng trùm lên ký ức và thách thức trí tưởng tượng người đời nay để cao nguyên Jarai được mù mờ và “sử thi” hơn.

Ta bàng hoàng trước sắc khí khô hanh khác miền hạ Lào Kon Tum khô như tan chảy trên ấy, hay ngang tàng của cao nguyên Đắk Lắk, mênh mông hoang hoải của cao nguyên M’nông bên này, và cả lững lờ của cao nguyên Mạ B’lao dưới chót nam Tây Nguyên kia nữa. Cái “khô” ở cao nguyên Jarai chẳng hiểu sao nó rất “vừa phải”, không quá tàn bạo mà cũng không lừng khừng. Có thể do độ cao trên 700m cùng khoảng lùi đủ cách xa mặt biển. 

Người bản địa Jarai tại một khu nghĩa địa của cộng đồng trong mùa Khêi ninh nơng tưng bừng buồn vui lẫn lộn. Ảnh: Trần Phong

Ta ôm mùa khô xứ lạ vào lòng, và cúi đầu hấp thụ. Ta ôm nắng biếc vào tâm trí, mà nắng biếc là thứ nắng thơm tho và độ lượng, thứ nắng có tâm hồn.

Ấy là lúc từ mặt đất, những vườn tiêu vo màu xanh thành trụ và ngửa lên trời ở Chư Sê cơ hồ không còn là trạng thái thực vật, kinh tế nông nghiệp mà phảng phất hơi thở về thứ biểu tượng phồn thực Linga-Yoni kia ở chiều cảm thức vũ trụ, trong tương tác của con người với thực tại đời sống. Linga-Yoni dựng thành vườn, vườn nọ nối vườn kia, thảm trên những khe núi, sườn đồi, lạ, hồn nhiên hơn điêu khắc, dù người nông phu tạo ra nó không hề ý thức về điều đó.

“Vương quốc hồ tiêu” Chư Sê của Tây Nguyên cũng lặp đi lặp lại cái vòng âm dương giữa được - mất, thịnh - suy, hoan hỉ với lao đao, lên hương với quỵ ngã bởi hạt tiêu diễn ra cũng tự nhiên. Đến mức cái kém cỏi, loay hoay trong việc tổ chức sản xuất ra trò cho một loại cây trồng xuất khẩu mãi cũng đong đưa như thế. Huống chi sự khổ cực, tần tảo âm thầm trong từng căn nhà, người dân, trước hết là người Jarai bản địa.

Một phụ nữ Jarai cố gắng tìm những cây măng hiếm hoi trồi  lên bên mép rừng lồ ô cạnh suối ở mùa khô

*

May mà những cánh rừng khộp ở Chư Prông, Đức Cơ vào mùa rụng lá vàng quá đẹp, làm mụ mị thị giác, liêu liêu xứ sở. Nó hóa mộng hơn, khi trong không gian thực đó, những phụ nữ Jarai địu con và ôm mớ thổ sản cần mẫn lướt qua trong sắc nắng không nương tay của mùa khô. Nó thân thương như cánh đồng cao nguyên đôi bờ sông Ayun trắng phau sau mùa gặt của người Banar, và cộng đồng rục rịch buông lơi cho tháng ngày Khêi ninh nơng (mùa nghỉ ngơi, vui thú cùng trời đất) lê thê. Nó bừng rỡ, rộn rã khắp trùng trùng núi đồi, thung xa trong mênh mông rẫy cà phê vốn vài tuần trước còn trắng bóng bởi hoa của nó ở Chư Pảh và giờ đang trở lại thẫm bát ngát một màu xanh đặc trưng cây quê xứ núi bây giờ này.

*

Cuộc sống mùa khô còn rộn rã, chuyển động hơn cả mùa mưa. Từ con người, vật nuôi, cây trồng trên các nương đồi, bon, plei, đến hệ thống phố thị núi non đều xáo lên để chuyển hóa, tìm vững chắc trong khắc nghiệt, tịch yên.

Thời khắc này là kỳ Khêi ninh nơng của các sắc dân bản địa sơn nguyên diễn ra ở các plei thuần nông quê núi, xó rừng, vách rẫy. Rẫy nương cây trồng đã xanh um chờ kỳ thu hoa, lá, trái, củ. Đến cây cà phê cũng đã bung hết khối trắng của bông để kết hạt, thành trái. Nương theo quy luật vận hành của vũ trụ để xả cho hết nhọc nhằn, trắc trở, và cả tâm tư trong lòng là cách để cân bằng bên trong.

Những cánh rừng chuẩn bị hóa  rẫy - cuộc đối đầu luôn diễn ra giữa bao tử của con người và hệ sinh thái

Mùa khô trong lòng chúng sinh đương thành mùa của giao hòa, không còn phân biệt giữa phố với quê, xã hội nông thôn với đô thị, công nghiệp với nông nghiệp, thị dân với nông dân, người nhập cư với người bản địa, quan quyền với thường dân, vô thần với hữu thần.

Nắng nóng làm phẳng thời gian, cái giàu lẫn cái nghèo, trắc trở hay thuận lợi, hạnh phúc hay bất hạnh. Những trường ca của thiên nhiên chồng lên những giai điệu của thế tục, những nốt lặng của ký ức len trong những biến tấu phồn thực của thời đại, những hoan hỉ của nhân gian so kè với những vật vã của khí trời, cỏ cây. Âm thầm có một sự tranh ngự quyết liệt giữa thiên nhiên và con người về sự tồn tại.

*

Sông suối đã đứt đoạn, mòn mỏi, hao gầy, thì thôi ta ngắm nhìn những lòng hồ thủy điện mênh mông nước. Đại ngàn đã mờ xa, thì thôi ta ngắm nhìn những dải rừng cao su kia thay cho rừng nguyên sinh nhiệt đới. Những nhà rông nội sinh, sinh hoạt dân gian vơi đi, thì thôi ta ngắm những nhà rông kỹ nghệ lấp lánh khẩu hiệu, tuyên truyền, ở thể vật chất mà không cần tình tự, tâm hồn, là trước mắt thay cho miên viễn.

Như những vườn “triển lãm” điêu khắc rồi bỏ quên ở các khu nhà mồ Jarai, Banar dù tượng bê tông đang thay tượng gỗ ta vẫn cứ thích ghé qua. Nó vẫn mơ mộng được, như những cung đường dã quỳ đầy nắng vọng lên ngọn Chư H’Drông kia dù không còn sắc hoa vàng vẫn làm ta bồi hồi, khó quên. Cao nguyên Jarai đúng là cao nguyên phồn thực, đẫy đà, mặn mà và bí ẩn như gái xinh chưa lấm “Sài Gòn”, “Hà Nội”, “Quy Nhơn”, “Huế”, “Đà Nẵng”, cứ là chính mình. Sức sống dồi dào như vô tận, từ tốn, e lệ, biến hóa, biến ảo, và thích ứng. 

Nó khiến một kẻ không nhà, không quê xứ, không danh phận như tôi cũng thấy mắc nợ, nghĩ về, ngóng vọng, thả trôi. Thế đó, mà thoáng chút là mùa mưa lại trùm nước xuống thôi, qua bốn tháng sau, núi rừng lại tràn đầy xanh, mướt mắt. Lại chuyển hóa, tuần hoàn, tái sinh... 

Bài và ảnh: Nguyễn Hàng Tình

TAGS
bài viết liên quan
Loading...
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.