Tại họp báo cung cấp thông tin về các vấn đề kinh tế - xã hội trên địa bàn TP.HCM chiều 18.6 do Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy cùng Sở Văn hóa - Thể thao TP.HCM tổ chức, báo chí nêu vấn đề rằng Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8.6.2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đã được ban hành. Nếu trước đây ưu tiên thường đặt vào quy mô vốn và số lượng dự án thì nay trọng tâm chuyển sang chất lượng, trình độ công nghệ, năng lực đổi mới sáng tạo và mức độ lan tỏa tới nền kinh tế trong nước. Phóng viên đặt câu hỏi rằng FDI của thành phố đang chiếm tỷ trọng như thế nào? Thành phố chuẩn bị ra sao để áp dụng Nghị quyết này vào thực tiễn? Những khó khăn, vướng mắc của các nhà đầu tư nước ngoài chủ yếu là gì?
Tại cuộc họp báo, ông Lê Thành Nhân - Trưởng phòng Xúc tiến đầu tư Ban Quản lý Khu Công nghệ cao TP.HCM, đã chia sẻ về thực trạng dòng vốn FDI, sự chuẩn bị của thành phố cũng như những thách thức đang đặt ra khi cuộc cạnh tranh thu hút đầu tư ngày càng quyết liệt. Ông cho biết vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục giữ vai trò động lực quan trọng đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đưa Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Tại Khu Công nghệ cao TP.HCM, xu hướng chuyển dịch của dòng vốn FDI đang diễn ra khá rõ nét.

Thủ tướng vừa có quyết định về việc mở rộng và ban hành quy chế hoạt động của Khu Công nghệ cao TP.HCM. Ảnh: Znews
Lũy kế đến nay, Khu Công nghệ cao có 166 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư 13,728 tỷ USD. Trong đó, khu vực FDI chỉ gồm 57 dự án nhưng chiếm hơn 11 tỷ USD, tương đương trên 80% tổng vốn đầu tư.
Đáng chú ý, dòng vốn ngoại không còn tập trung chủ yếu vào hoạt động gia công mà đang dịch chuyển sang hai lĩnh vực chiến lược. Thứ nhất là điện tử và vi mạch bán dẫn, với các dự án nghiên cứu phát triển, kiểm thử và đóng gói của BESI (Hà Lan), Genbyte hay Dynamic Test Solutions. Thứ hai là các ngành công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo và trung tâm dữ liệu, tiêu biểu là các dự án Data Center tại lô T8 với tổng vốn đầu tư hàng trăm triệu USD.
Không chỉ mang lại nguồn vốn, khu vực FDI còn tạo hiệu ứng lan tỏa công nghệ rõ hơn so với trước đây. Theo Ban Quản lý Khu Công nghệ cao, tỷ trọng vốn của nhà đầu tư trong nước tại Khu Công nghệ cao đã tăng từ khoảng 10-12% lên 17-18%.
Sự xuất hiện và phát triển của những doanh nghiệp công nghệ Việt Nam như Gremsy trong lĩnh vực camera công nghiệp, Humasis (IVD Việt Nam), Mismart trong lĩnh vực robot hay Orioled với các thiết bị y tế thông minh được xem là minh chứng cho khả năng doanh nghiệp nội địa từng bước làm chủ công nghệ và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
“Đây là minh chứng sắc bén nhất cho chiến lược thu hút FDI tạo nền - phát triển nội sinh làm lõi”, đại diện Ban Quản lý Khu Công nghệ nhận định.
Để hiện thực hóa tinh thần Nghị quyết 10, TP.HCM đang đồng thời chuẩn bị cả quỹ đất, hạ tầng kỹ thuật lẫn cơ chế lựa chọn nhà đầu tư. Một trong những bước đi quan trọng là triển khai khu mở rộng Khu Công nghệ cao rộng 194,84 ha tại phường Long Phước vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 1061/QĐ-TTg. Khu vực này được định hướng phát triển theo mô hình khu công nghệ cao thế hệ mới, tích hợp hạ tầng số hiện đại, hạ tầng xanh, không gian nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, hướng tới mục tiêu trung hòa carbon trước năm 2050.
Song song đó, Ban Quản lý Khu Công nghệ cao đang phối hợp với Đại học Quốc gia TP.HCM hoàn thiện đề án quy hoạch lại khu đất 52,92 ha tại lô 16-17 để hình thành Trung tâm Công nghệ Chiến lược Thành phố.
Theo đề xuất, khu vực này sẽ gồm ba phân khu lớn là khu sản xuất và thử nghiệm công nghệ cao; khu dịch vụ công nghệ cao AI và Data Center; cùng khu đào tạo, nghiên cứu và ươm tạo doanh nghiệp công nghệ.
Đây được xem là dự án hạt nhân trong chiến lược phát triển công nghệ cao của TP.HCM, hướng tới thu hút các dự án thâm dụng công nghệ, thâm dụng vốn và có năng lực nghiên cứu phát triển cao.
Điểm đáng chú ý khác là sự thay đổi trong cách lựa chọn nhà đầu tư. Nếu trước đây mục tiêu chủ yếu là lấp đầy quỹ đất thì nay thành phố đặt nặng yêu cầu về chất lượng dự án.
Ban Quản lý Khu Công nghệ cao đang xây dựng bộ tiêu chí đánh giá nhà đầu tư theo hướng định lượng, minh bạch và có khả năng đo lường hiệu quả sử dụng đất. Các dự án trung tâm dữ liệu được định hướng có suất đầu tư tối thiểu trên 100 triệu USD/ha; dự án nghiên cứu phát triển trên 11,5 triệu USD/ha; còn dự án sản xuất công nghệ cao trên 20,4 triệu USD/ha.
Không chỉ dừng ở cam kết vốn, các dự án quy mô lớn còn phải có lộ trình cụ thể về nghiên cứu phát triển, đào tạo nhân lực, nội địa hóa sản xuất và chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp Việt Nam. Thành phố cũng định hướng áp dụng cơ chế Sandbox nhằm tạo môi trường thử nghiệm có kiểm soát cho các công nghệ mới...
Dù vậy, Ban Quản lý Khu Công nghệ cao cũng đánh giá hành trình thu hút FDI chất lượng cao vẫn còn không ít trở ngại. Theo Ban Quản lý Khu Công nghệ cao, những khó khăn nổi bật hiện nay gồm sự chồng chéo giữa các quy định về đầu tư, đất đai, quy hoạch, xây dựng và thuế; tình trạng thiếu hụt nhân lực công nghệ cao; áp lực nâng cấp hạ tầng cho các ngành như AI, bán dẫn và trung tâm dữ liệu; cùng những hạn chế của hệ thống dịch vụ công điện tử và đăng ký doanh nghiệp...
Bên cạnh đó, việc áp dụng Thuế tối thiểu toàn cầu khiến nhiều ưu đãi thuế truyền thống không còn phát huy hiệu quả như trước, buộc các địa phương phải tìm kiếm lợi thế cạnh tranh mới.
Theo đại diện Ban Quản lý Khu Công nghệ cao, TP.HCM không lựa chọn cuộc đua bằng đất rẻ hay ưu đãi đơn thuần. Thành phố muốn tạo khác biệt bằng chất lượng thể chế, hệ sinh thái công nghệ và năng lực kết nối vùng.
Lợi thế lớn của TP.HCM nằm ở mạng lưới hạ tầng liên kết đang được hoàn thiện với các tuyến Vành đai 3, Vành đai 4, cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu, hệ thống cảng biển và sân bay quốc tế. Đây là nền tảng quan trọng giúp nâng cao năng lực logistics và kết nối chuỗi cung ứng.
Song song đó là chiến lược giải quyết bài toán nhân lực thông qua việc hình thành Quỹ đào tạo vi mạch cùng Đại học Quốc gia TP.HCM, nâng cấp Trung tâm Đào tạo SHTP theo tiêu chuẩn quốc tế và triển khai các chính sách thu hút chuyên gia.
Ở góc độ quản trị, TP.HCM tiếp tục thúc đẩy mô hình “Kiến tạo - Phục vụ”, khôi phục cơ chế “Một cửa tại chỗ liên thông”, đẩy mạnh số hóa thủ tục hành chính và kiên quyết xử lý các dự án chậm triển khai để tạo quỹ đất sạch cho các dự án công nghệ cao thực chất.
Theo Ban Quản lý Khu Công nghệ cao, đích đến cuối cùng không phải là những con số tỷ USD về vốn đầu tư, mà là xây dựng được một thế hệ doanh nghiệp công nghệ cao mang thương hiệu Việt Nam, đủ năng lực làm chủ công nghệ và tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
FDI vẫn chiếm tỷ trọng áp đảo tại các khu công nghiệp TP.HCM
Theo Ban Quản lý các khu chế xuất và công nghiệp TP.HCM, việc triển khai Nghị quyết số 10 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi Thành phố đang tái cấu trúc không gian phát triển công nghiệp và định hướng thu hút dòng vốn FDI thế hệ mới.
Theo quy hoạch đã được phê duyệt, TP.HCM có 105 khu chế xuất, khu công nghiệp với tổng diện tích 50.288,14 ha, chiếm khoảng 7,4% diện tích tự nhiên. Trong đó, 67 khu đã có quyết định thành lập; 58 khu đang hoạt động gồm 3 khu chế xuất và 55 khu công nghiệp với tổng diện tích 22.410,28 ha, đạt tỷ lệ lấp đầy khoảng 80%.
Hiện các khu chế xuất, khu công nghiệp của Thành phố có 5.380 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 79,22 tỷ USD. Trong đó, khu vực FDI chiếm ưu thế với 3.510 dự án và tổng vốn đăng ký 57,51 tỷ USD.
Các nguồn vốn đầu tư tập trung chủ yếu từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc và nhiều đối tác khác. Cơ cấu ngành nghề khá đa dạng, trải rộng từ cơ khí, dệt may - da giày, điện tử, nhựa - cao su, chế biến thực phẩm đến các ngành dịch vụ công nghiệp.
Để chuyển từ mục tiêu thu hút vốn sang nâng cao chất lượng và khả năng lan tỏa, TP.HCM đang ưu tiên các lĩnh vực điện tử - bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, chuỗi khối, công nghệ sinh học, vật liệu mới, năng lượng tái tạo và công nghiệp môi trường; đồng thời tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước nhằm thúc đẩy chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế...
Trọng Dân