Vẻ đẹp giao hòa của những rừng thông Lang Biang

 08:42 | Chủ nhật, 11/10/2026  0
Lang Biang không chỉ có những đồi thông đẹp để vãng cảnh. Nơi đây còn là một “bảo tàng sống” của sự đa dạng thực vật, một địa bàn nghiên cứu quý giá về tiến hóa, sinh thái và khả năng thích nghi của cây rừng.

Sau ngày tôi rời Đà Lạt về TP.HCM nhận công tác thông tin khoa học, TS. Phó Đức Đỉnh, chuyên gia sinh thái - tài nguyên rừng của ngành lâm nghiệp, đã gửi cho tôi một báo cáo khoa học mà anh và nhà nghiên cứu Nguyễn Duy Chính, giảng dạy tại Trường Đại học Đà Lạt, cùng xây dựng theo lời mời của Ban trù bị Hội nghị quốc tế thực vật học lần thứ 15 tại Tokyo, năm 1993. Đó là công trình Các loài thông bản địa ở tỉnh Lâm Đồng (Native Species of Pinaceae in Lam Dong Province, Viet Nam) - một tài liệu nghiên cứu chuyên sâu, mà nay nhìn lại vẫn giúp mở ra nhiều điều thú vị về họ thông trên cao nguyên Lang Biang. 

Theo tài liệu này, dựa trên kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học tiên phong, cùng phương pháp phân tích, so sánh hình thái và cấu tạo lá, Lâm Đồng có 5 loài thông bản địa thuộc 3 chi.

Chi Keteleeria có loài Keteleeria roulletii (A.Chev.) Flous, thường gọi là thông dầu, thông Bắc, thông tô hạp hay du sam. Cây cao khoảng 35m (1); lá mọc đơn, nón hạt hình trụ. Đây là một loài bản địa của Việt Nam có vùng phân bố tự nhiên ở Đông Dương và Nam Trung Hoa.

Chi Pinus có ba loài:

Pinus merkusii Jungh & de Vriese, tức thông hai lá hay thông nhựa, cây cao khoảng 30m. Lá kim xanh sẫm, mỗi búp ngắn mang hai lá. Loài này có vùng phân bố rộng ở Đông Nam Á và hiện diện tự nhiên ở Nam Lâm Đồng.

Pinus kesiya Royle ex Gordon, thông ba lá hay cây ngo, cao khoảng 30m. Mỗi búp ngắn mang ba lá kim. Đây là loài thông bản địa phân bố tự nhiên ở Bắc Lâm Đồng, đồng thời có vùng phân bố rộng ở châu Á, từ Himalaya qua Đông Nam Á đến Philippines.

Đặc biệt là Pinus dalatensis Ferré - thông năm lá hay thông Đà Lạt. Cây cao trên 30m, cành gầy, tán xòe; mỗi búp ngắn mang năm lá kim mảnh. Đây là loài đặc hữu của Việt Nam, phân bố chủ yếu ở Lạc Dương và vùng ngoại vi Đà Lạt.

Nhưng gây ấn tượng mạnh nhất đối với những người nghiên cứu rừng Lang Biang là thông hai lá dẹt, hiện được công nhận với tên Pinus krempfii Lecomte. Loài này đặc biệt đến mức từng được xếp vào một chi riêng là Ducampopinus.

Cây cao khoảng 35m, đường kính thân trên 1m. Những cây trưởng thành vươn lên tầng cao nhất của rừng nguyên sinh, nổi bật với tán lá hình quạt. Điều kỳ lạ nằm ngay ở những chiếc lá: thay vì những lá hình kim tròn, mảnh như phần lớn các loài thông, thông hai lá dẹt có hai lá phẳng, hình lưỡi kiếm trong mỗi búp ngắn. Chính đặc điểm khác thường ấy khiến nó trở thành một trong những loài thông độc đáo nhất của thế giới. Các nghiên cứu hiện đại vẫn xác nhận đây là một loài thông đặc hữu của Việt Nam, chủ yếu phân bố trên cao nguyên Lang Biang và rải rác ở vùng núi cao Nam Trung bộ.

Trồng rừng cảnh quan núi Ngự Bình - Huế cuối 1975, từ cây giống thông hai lá Pinus merkusii ở Lang Hanh - Đức Trọng.


Câu chuyện về tên khoa học của nó cũng rất thú vị. Năm 1921, nhà thực vật học người Pháp Lecomte, tác giả bộ sách nổi tiếng Thực vật chí Đông Dương, đã mô tả loài này và đặt tên Pinus krempfii. Đến năm 1944, sau khi nghiên cứu đặc điểm hình thái và cấu tạo lá đặc biệt của cây này, GS. A. Chevalier đã tách nó khỏi chi Pinus, lập chi đơn loài Ducampopinus, đặt tên Ducampopinus krempfii (Botanical Society of America, 1.12.1999) và tên đầy đủ là Ducampopinus krempfii (Lecomte) A. Chev.

Tên gọi ấy ghi dấu cả một trang lịch sử điều tra thực vật Đông Dương: “krempfii” nhằm vinh danh nhà thực vật học người Đức Krempf, người đã thu thập mẫu vật loài thông này ở thượng nguồn sông Mao (trên độ cao 1.350m) năm 1912.

“Ducamp” gắn với một nhân vật có vai trò to lớn trong công tác lâm nghiệp Đông Dương. Còn “Lecomte” là tên người đặt tên khoa học đầu tiên cho loài thông này; “A. Chev” là A. Chevalier - nhà thực vật học và phân loại học danh tiếng người Pháp. 

Trong một thời gian dài, do hình thái rất cổ xưa và độc đáo, Pinus krempfii thường được xem như một “hóa thạch sống”, gợi liên tưởng đến những dạng thông cổ trong lịch sử tiến hóa. Tuy nhiên, nghiên cứu giải phẫu và đặc biệt các nghiên cứu phân tử về sau cho thấy vị trí phân loại của loài này phức tạp hơn nhiều. Một số hệ thống phân loại hiện đại đưa Ducampopinus krempfii trở lại chi Pinus, với tên được chấp nhận là Pinus krempfii Lecomte (PubMed, 3.2000).

Thông lá rủ Pinus patula ở Trạm Khảo cứu Lâm học Măng Lin - Đà Lạt. 


Điều đó không làm giảm giá trị đặc biệt của loài thông hai lá dẹt. Trái lại, chính sự khác thường về hình thái, nguồn gốc và tính đặc hữu khiến nó trở thành một đối tượng quý giá để nghiên cứu lịch sử tiến hóa của các loài thông. 

Như vậy, theo tài liệu nghiên cứu năm 1993, trong 6 loài thông phân bố tự nhiên ở Việt Nam, Lâm Đồng có tới 5 loài. Riêng cao nguyên Lang Biang có sự hiện diện của 4 loài thông bản địa, trong đó có 2 loài đặc hữu chỉ có ở Việt Nam. Chính sự tập trung đặc biệt ấy đã góp phần làm nên danh tiếng của Lang Biang như một “Chiếc nôi của cây thông”.

Ở vùng Cổng trời thuộc Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà từng ghi nhận sự hiện diện của Keteleeria roulletii, Pinus kesiya và Pinus krempfii mọc hỗn giao. Từ góc nhìn sinh thái học, đây không chỉ là một cảnh quan đẹp mà còn là một phòng thí nghiệm tự nhiên quý giá, nơi các nhà khoa học có thể quan sát sự thích nghi, cạnh tranh và tái sinh của cây rừng trong điều kiện núi cao. 

Ở đây, 108 cây thông hai lá dẹt cổ thụ Pinus krempfii Lecomte từ 700 - hơn 1.000 năm tuổi đã được công nhận là Cây di sản Việt Nam. 

Câu chuyện về thông ở Lang Biang không dừng lại ở những loài bản địa. Từ thập niên 1950, cao nguyên Lang Biang và bậc thềm Đức Trọng còn là nơi các nhà khoa học trồng khảo nghiệm 23 loài thông nước ngoài như Pinus patula quê hương là vùng núi Mexico, Pinus tropicalis ở Trung Mỹ, Pinus oocarpa của Guatemala... 

GS. Marlange, cố vấn đặc biệt của Liên Hiệp Quốc bên khu thí nghiệm trồng các loài thông ở Măng Lin - Đà Lạt 1983.


Và, trong ký ức âm nhạc của người Đà Lạt cũng có một loài thông ngoại nhập. Ca khúc Cánh buồm xa xưa (2) có câu hát gợi lên hình ảnh “Vi vu đồi thông reo xao xác lá chiều nay thu về” - hình ảnh dường như đã trở thành một phần ký ức về Đà Lạt của nhiều thế hệ. Đó là loài thông Caribe (Pinus caribaea), có nguồn gốc Trung Mỹ, cũng từng được đưa vào các chương trình khảo nghiệm ở Lang Biang. 

Đứng giữa rừng thông Lang Biang, vì thế, người ta có thể nhìn thấy nhiều lớp thời gian cùng hiện diện. Đó là những loài thông bản địa đã thích nghi với cao nguyên từ rất lâu; những loài đặc hữu mà thế giới chỉ có thể tìm thấy ở Việt Nam; là cây thông mang tên Đà Lạt Pinus dalatensis, là thông hai lá dẹt với chiếc lá kỳ lạ từng khiến các nhà phân loại học phải đặt riêng cả một chi, bên cạnh đó là những loài thông từ những miền đất xa xôi được con người đưa về thử nghiệm.

Lang Biang vì thế không chỉ có những đồi thông đẹp để vãng cảnh. Nơi đây còn là một “bảo tàng sống” của sự đa dạng thực vật, một địa bàn nghiên cứu quý giá về tiến hóa, sinh thái và khả năng thích nghi của cây rừng.

Và, có lẽ chính sự giao hòa giữa thông bản địa, thông đặc hữu cùng những loài thông từ phương trời khác đã làm nên một phần vẻ đẹp rất riêng của cao nguyên Lang Biang - nơi tiếng thông reo không chỉ gợi nhớ một Đà Lạt thơ mộng, mà còn kể câu chuyện lâu dài của rừng, của khoa học và của con người. 

Bài và ảnh: Nguyễn Hoàng Bích

_________

(1) Các chỉ số chiều cao, dài, rộng... trong tài liệu được lấy theo giá trị trung bình.
(2) La Paloma - do nhạc sĩ Sebastian Iradier (Tây Ban Nha) sáng tác sau khi trở về từ chuyến du lịch Cuba năm 1861.

bài viết liên quan
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm
Cùng chuyên mục
Xem nhiều nhất

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.