Tọa đàm khoa học “Nghĩa trang và an táng thông minh trong đô thị” do Viện Nghiên cứu đô thị và Phát triển Hạ tầng (Tổng hội Xây dựng Việt Nam), phối hợp cùng Ban Phục vụ Lễ tang Hà Nội tổ chức, đã góp phần tìm kiếm lời giải dung hòa giữa giá trị tâm linh truyền thống với yêu cầu phát triển bền vững.

Phiên trình bày tham luận do Đoàn Chủ tịch điều hành, gồm (từ trái sang phải): TS-KTS. Lê Thị Bích Thuận - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đô thị và Phát triển Hạ tầng), PGS-TS. Lưu Đức Hải - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đô thị và Phát triển Hạ tầng và ông Lê hồng Lân - Trường Ban Phục vụ lễ tang Hà Nội.
Văn hóa an táng và đạo hiếu trong dòng chảy đô thị
Phát biểu tại tọa đàm, ThS. Lại Thị Ngọc Diệp, Khoa Kiến trúc và Quy hoạch (Trường Đại học Xây dựng Hà Nội), cho biết trong suốt chiều dài lịch sử, mộ phần và nghĩa trang là một thiết chế văn hóa đặc biệt, đồng thời là không gian thiêng liêng lưu giữ ký ức của gia đình, dòng họ và cộng đồng, gắn bó mật thiết với đạo hiếu, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên cùng truyền thống đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc.
Tuy nhiên bà cũng chỉ ra những bất cập của mô hình địa táng truyền thống khi đặt trong bối cảnh đô thị hóa hiện nay. Với đặc trưng chiếm dụng diện tích đất lớn, xây dựng kiên cố và phân bố rải rác xen kẹt trong các khu dân cư, hình thức này đang bộc lộ vô vàn điểm nghẽn.
Thực trạng này không chỉ gây áp lực nặng nề lên quỹ đất đô thị vốn đã vô cùng chật hẹp, mà còn kéo theo những hệ lụy đáng lo ngại về ô nhiễm môi trường đất, nguồn nước và phá vỡ cảnh quan kiến trúc chung. Theo đó, bài toán đặt ra cho các nhà quản lý và giới quy hoạch hôm nay không phải là sự phủ nhận hay bài trừ truyền thống, mà là quá trình chuyển hóa thông minh để thích ứng.
Đem đến góc nhìn về ứng dụng chuyển đổi số trong lĩnh vực tâm linh, ThS. Lương Trung Kiên, Giám đốc công nghệ Công ty phần mềm VissSoft, khẳng định công nghệ hiện đại không hề làm phai mờ đi sự thành kính hay nét đẹp truyền thống. Ngược lại, nó đóng vai trò như một nhịp cầu nối dài sự kết nối thiêng liêng giữa thân nhân với người đã khuất thông qua mô hình không gian tưởng niệm số.
Thay vì phải phụ thuộc hoàn toàn vào những phần mộ vật lý đồ sộ, giờ đây mỗi ô lưu giữ tro cốt hay phần mộ sinh thái đều có thể được tích hợp mã QR hoặc gắn định danh số duy nhất. Thông qua hệ thống dữ liệu đám mây, con cháu ở bất cứ đâu cũng có thể dễ dàng truy cập, xem lại những hình ảnh kỷ niệm, gia phả dòng họ, cũng như tiểu sử cuộc đời của người đã khuất. Không gian tưởng niệm trực tuyến này không chỉ tạo sự thuận tiện tối đa cho việc thăm viếng từ xa trong nhịp sống bận rộn, mà còn giúp lưu giữ ký ức gia đình một cách bền vững qua nhiều thế hệ.

Nhà báo Đinh Ngọc Dương đem đến hội thảo những kinh nghiệm quốc tế đầy tính thực tiễn.
Về tính tất yếu của việc phát triển mô hình nhà tang lễ tích hợp dịch vụ lưu giữ tro cốt, nhà báo Đinh Ngọc Dương, Chủ tịch Hội đồng Viện Kinh tế và Dịch vụ nhân sinh, phân tích ở các quốc gia phát triển trên thế giới như Nhật Bản, Singapore hay nhiều nước châu Âu, việc đưa các cơ sở lưu giữ tro cốt văn minh, hiện đại vào ngay trong khu vực nội đô đã trở thành một chuẩn mực tất yếu.
Tại các đô thị lớn của Việt Nam, nơi quỹ đất ngày càng đắt đỏ, việc quy hoạch các khu lưu giữ tro cốt tập trung theo hướng gọn gàng, sạch sẽ và trang nghiêm ngay trong lòng thành phố sẽ giải quyết triệt để tình trạng quá tải của các nghĩa trang ngoại thành.
Mô hình tích hợp này giúp rút ngắn khoảng cách địa lý, biến việc thăm viếng người thân trở thành một hoạt động nhẹ nhàng, văn minh tương tự như việc đi lễ chùa hay dạo bước trong công viên, qua đó góp phần thay đổi diện mạo hạ tầng xã hội của đô thị.

Không gian nhà lưu giữ tro cốt tại Việt Nam. Ảnh: Hoài An Viên

Từ tro cốt hóa thành ngọc – Xu hướng an táng mới tại Việt Nam. Ảnh: Dân Việt
Nhận thức cộng đồng và giải pháp không gian đa tầng
Các giải pháp công nghệ và mô hình quy hoạch tiên tiến đã được định hình rõ nét, song rào cản lớn nhất trong quá trình triển khai thực tế lại nằm ở thói quen và tâm lý xã hội. Trăn trở sâu sắc về vấn đề này, TS. Nguyễn Xuân Khoát, Trường Đại học Tài chính – Marketing, nhấn mạnh một bộ phận không nhỏ người dân vẫn giữ quan niệm cố hữu “mộ phần càng xây to, càng hoành tráng thì càng thể hiện lòng hiếu kính”. Tuy nhiên, việc thay đổi tư duy này là điều không thể thực hiện bằng những mệnh lệnh hành chính khô cứng hay sự áp đặt thuần túy.
Theo ông, công tác tuyên truyền và truyền thông số cần phải được tiếp cận từ gốc rễ của văn hóa và tâm lý học, đòi hỏi sự mềm mỏng, nhân văn và kiên trì. Các cơ quan chức năng cùng giới truyền thông cần chung tay kiến tạo những thông điệp chạm đến trái tim cộng đồng.
Qua đó, người dân sẽ thấu hiểu rằng giá trị đích thực của lòng hiếu thảo nằm ở tâm đức, ở cách đối nhân xử thế lúc sinh thời và sự tưởng nhớ chân thành. Thay vì nằm ở sự phô trương vật chất hay chiếm dụng tài nguyên đất đai của thế hệ tương lai.

Kết thúc phiên trình bày tham luận, phiên thảo luận thứ nhất do PGS-TS. Lưu Đức Hải chủ trì.
ThS-KTS. Nguyễn Thị Hồng Diệp, Viện Nghiên cứu đô thị và Phát triển Hạ tầng, phân tích việc phát triển kiến trúc theo chiều cao hoặc khai thác hợp lý không gian ngầm kết hợp với hệ thống cảnh quan cây xanh, mặt nước sẽ tạo ra những công trình tâm linh mang tính biểu tượng.
Những tháp lưu cốt hay công viên tưởng niệm đa tầng được thiết kế tinh tế, thông thoáng, ngập tràn ánh sáng tự nhiên không chỉ giúp tiết kiệm tối đa quỹ đất đô thị mà còn mang lại cảm giác bình yên, thanh tịnh cho người đến viếng. Đây cũng chính là hạ tầng tiếp nhận lý tưởng, đóng vai trò đòn bẩy quan trọng để hỗ trợ công tác di dời, giải tỏa các nghĩa trang cũ kỹ, tự phát đang nằm xen kẹt trong các khu dân cư.

Khuôn viên an táng kết hợp cây xanh, tạo cảnh quan thư thái cho cõi vĩnh hằng. Ảnh: Hoài An Viên
Áp lực thực tiễn và định hướng tháo gỡ
Từ góc độ cơ quan quản lý, ông Nguyễn Tây Nam, Phó Giám đốc Sở Nội vụ Thành phố Hà Nội, đã có những phát biểu mang tính định hướng. Thủ đô Hà Nội đang đứng trước một áp lực vô cùng lớn trong công tác quản lý nghĩa trang và giải phóng mặt bằng phục vụ phát triển kinh tế – xã hội.
Qua các đợt tổng rà soát thực tế trên toàn địa bàn, thành phố hiện có từ 100.000 đến gần 110.000 ngôi mộ nằm rải rác buộc phải di chuyển để nhường chỗ cho các dự án hạ tầng và chỉnh trang đô thị, trong khi quy hoạch hiện tại mới chỉ bố trí được khoảng 18 vị trí tiếp nhận. Con số chênh lệch khổng lồ này cho thấy, nếu không có sự đột phá về tư duy và giải pháp, bài toán quỹ đất an táng sẽ trở thành một điểm nghẽn nghiêm trọng.
Từ thực tiễn quản lý đó, ông Nguyễn Tây Nam gửi gắm ba nhóm vấn đề trọng tâm tới các chuyên gia quy hoạch cùng các đơn vị cung cấp dịch vụ. Trước hết, đề nghị các công trình nghiên cứu khoa học cần phải bám sát thực tiễn đặc thù của Hà Nội, không chỉ dừng lại ở việc thiết kế các không gian lưu giữ tro cốt cho tương lai mà phải đưa ra được phương án quy hoạch khả thi, khoa học để bố trí di dời hàng trăm ngàn ngôi mộ hiện hữu về các khu tập trung một cách trật tự và ổn định.

Phó Giám đốc Sở Nội vụ Thành phố Hà Nội Nguyễn Tây Nam phát biểu tại tọa đàm.
Thứ hai, giới khoa học cần cung cấp những luận cứ vững chắc để cơ quan quản lý tham mưu tháo gỡ các vướng mắc về mặt pháp lý. Thực tế hiện nay cho thấy nhu cầu của người dân trong việc gửi tro cốt tại các cơ sở tôn giáo, nhà chùa hoặc xây dựng các bảo tháp lưu cốt riêng lẻ là rất lớn, trong khi các quy định pháp luật hiện hành lại yêu cầu việc lưu giữ tro cốt phải nằm trong khuôn viên nghĩa trang được quy hoạch.
Cuối cùng, ông Nguyễn Tây Nam nhấn mạnh, mọi giải pháp quy hoạch và ứng dụng công nghệ đều phải đặt yếu tố môi trường lên hàng đầu, đảm bảo tuyệt đối các tiêu chuẩn kỹ thuật để tạo sự yên tâm cho cộng đồng. Đồng thời, cần nghiên cứu đưa các cơ sở lưu giữ tro cốt về những khoảng cách hợp lý, gần gũi hơn với các khu dân cư để người dân thuận tiện thăm viếng. Kiến trúc của những công trình này phải được thiết kế thật sự thân thiện, ấm cúng và giàu tính thẩm mỹ, qua đó xóa bỏ hoàn toàn cảm giác u ám, lạnh lẽo thường thấy ở các nghĩa trang truyền thống.
Những ý kiến đóng góp tại sự kiện đã khẳng định tầm quan trọng của việc kết hợp hài hòa giữa trân trọng đạo lý truyền thống dân tộc với sức mạnh của công nghệ số, tư duy không gian đa tầng hiện đại, cùng cơ chế, chính sách linh hoạt của thành phố. Sự cộng hưởng này chính là “chìa khóa vàng” giúp Hà Nội giải quyết thành công bài toán hạ tầng an táng, góp phần kiến tạo Thủ đô xanh, hiện đại và phát triển bền vững cho thế hệ mai sau.
Số liệu từ báo Nhân Dân cho thấy khu vực nông thôn, mỗi xã có trung bình từ 2 đến 5 nghĩa địa, nghĩa trang nhân dân, như vậy, với hơn 7.500 xã vùng nông thôn hiện nay của cả nước thì diện tích đất dành cho việc mai táng, an táng là rất lớn. Điều đáng nói, diện tích đất này gần như sẽ tồn tại lâu dài và ngày một tăng lên, lấn dần ra các diện tích đất canh tác chung quanh, khiến nỗi lo cứ ngày một lớn dần.
Ngay tại Thủ đô Hà Nội, thời điểm năm 2023 có hơn 2.300 nghĩa trang cấp xã, thôn với tổng diện tích khoảng 2.600ha. Hầu hết nghĩa trang này đều hình thành tự phát, xây dựng không theo quy hoạch và không bảo đảm khoảng cách theo yêu cầu vệ sinh môi trường. Trong xu hướng đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, rất nhiều khu nghĩa địa vốn nằm xa khu dân cư, nay đã lọt thỏm, nằm sát trong các khu dân cư.
Bài và ảnh: Đoan Túc