Phục hồi kinh tế sau đại dịch COVID-19

Chính sách hỗ trợ ảnh hưởng COVID-19 nên có trọng tâm hơn

 10:57 | Thứ ba, 28/04/2020  0
Đây là nhận định của PGS-TS. Phạm Thế Anh, Trưởng Bộ môn Kinh tế vĩ mô, Đại học Kinh tế Quốc dân về các chính sách hỗ trợ do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 trong cuộc trao đổi với Người Đô Thị.

LTS. Kinh tế Việt Nam đang đứng trước một đợt suy giảm lớn xuất phát từ một nguyên nhân phi kinh tế. Trong bối cảnh này, các chính sách điều hành vĩ mô có ảnh hưởng quan trọng tới sức đề kháng (khả năng chịu đựng) của nền kinh tế, giảm thiểu các tác động tiêu cực của dịch bệnh. Đặc biệt, chúng sẽ quyết định nền kinh tế có khả năng phục hồi nhanh chóng hay không, một khi bệnh dịch được kiểm soát.

Tác động của dịch bệnh tới các ngành kinh tế có sự khác biệt rất lớn. Một số ngành chịu ảnh hưởng nặng nề, các doanh nghiệp có khả năng phá sản hàng loạt (hàng không, du lịch, dịch vụ...). Một số ngành vẫn có cơ hội phát triển tốt (nông sản, thực phẩm, dược phẩm…). Do vậy, cần có sự lựa chọn hợp lý các chính sách cũng như đối tượng hỗ trợ. 

Bàn tròn trực tuyến Người Đô Thị thực hiện trên số báo phát hành ngày 27.4.2020, giới thiệu đến bạn đọc ý kiến của nhiều chuyên gia kinh tế, những doanh nhân - thành phần chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi đại dịch. Dưới đây PGS-TS. Phạm Thế Anh, Trưởng Bộ môn Kinh tế vĩ mô, Đại học Kinh tế Quốc dân, đưa ra góc nhìn riêng về các chính sách hỗ trợ do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19.

Qua các báo cáo có thể thấy sức tàn phá của đại dịch COVID-19 đối với nền kinh tế là khá lớn. Ông đánh giá những chính sách hỗ trợ của Chính phủ hiện nay thế nào?

PGS-TS. Phạm Thế Anh

Nhìn chung, Chính phủ đưa ra rất nhiều biện pháp, từ tài khóa, tiền tệ, an sinh xã hội… Có thể nói những chính sách này tương đối rộng, bao phủ lớn, gần như thế giới họ làm gì thì Việt Nam cũng có chủ trương làm hết. Tuy nhiên, một số chính sách tương đối dàn trải, chưa thực sự có trọng tâm, ví dụ như giãn/hoãn các loại thuế thu nhập doanh nghiệp, VAT, miễn tiền điện, miễn tiền thuê đất.

Nguồn lực của chúng ta hạn chế nên chính sách cần có trọng tâm hơn. Nên tập trung vào một nhóm đối tượng, nhóm ngành nghề có mức độ tổn thương lớn hoặc có sức lan tỏa lớn. Ví dụ miễn cước viễn thông hay giảm tiền điện, chúng ta không cần miễn giảm trên diện rộng. Nhà mạng hay EVN vẫn thu tiền như cũ nhưng dùng chính tiền đó, trích ra để hỗ trợ những người mất việc, những hộ gia đình mất kế sinh nhai thì có thể ý nghĩa hơn.

Ngoài lo lắng các gói hỗ trợ hiện chưa có trọng tâm thì ông có lo ngại các gói tín dụng, ví dụ gói 250.000 tỷ đồng sẽ khó được hấp thụ vào nền kinh tế? Theo ông, các gói hỗ trợ nên được thực hiện thế nào?

Ngân hàng Nhà nước chủ trương các gói cứu trợ vậy cũng tốt, nhưng việc cho ai vay, vay thế nào thì do ngân hàng thương mại quyết định. Khi đó, các ngân hàng thương mại phải thẩm định phương án kinh doanh của doanh nghiệp có khả thi hay không, nếu không thẩm định chắc chắn khó tránh nợ xấu. Nếu vài triệu tỷ đồng nợ xấu xuất hiện sẽ kéo sức khỏe của hệ thống ngân hàng xuống, ảnh hưởng rất lâu dài.

Tôi nghĩ trước tiên cần tập trung ưu tiên vào chính sách an sinh xã hội, các đối tượng mất việc làm, không kế sinh nhai. Những đối tượng này cần tiền ngay, cần phải hỗ trợ nhanh cho họ. Còn với doanh nghiệp, cần phân chia rõ từng nhóm để hỗ trợ chứ không dàn trải.

Đối với nhóm doanh nghiệp đóng cửa như nghỉ dưỡng, du lịch, nhà hàng… hiện tại họ đâu có khách, nếu cho họ vay chắc họ cũng không có nhu cầu vay, cũng không phát sinh doanh thu hay lợi nhuận để được hưởng ưu đãi thuế. Chính sách tốt nhất với họ là miễn lãi, khoanh nợ, chứ không nên khuyến khích họ vay, vì họ đã ngừng kinh doanh hoặc có rất ít khách hàng, trong khi vẫn phải trả các chi phí cố định. Khi bệnh dịch qua đi, nếu họ còn có thể tiếp tục hoạt động thì mới khuyến khích vay nợ để phát triển sản xuất kinh doanh.

Với nhóm doanh nghiệp ít bị ảnh hưởng thì chia ra từng cấp độ. Hiện nay các doanh nghiệp lớn, nhỏ đều kêu khó khăn, cả doanh nghiệp tư nhân cũng như doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp càng lớn lại càng đòi hỗ trợ nhiều. Hiện chúng ta cũng chưa có tiêu chí thế nào là doanh nghiệp khó khăn, thiệt hại, tôi nghĩ cần phải xây dựng nhanh tiêu chí này. Ví dụ như doanh thu sụt giảm bao nhiêu, chi phí tăng bao nhiêu, có lợi nhuận hay không… Những doanh nghiệp có lợi nhuận trong thời điểm này thì không cần hỗ trợ.

Việc chậm trễ trong xây dựng tiêu chí hỗ trợ cũng sẽ khiến lúng túng trong việc giải ngân, các doanh nghiệp sẽ càng khó khăn hơn. Đối với chính sách tín dụng, hỗ trợ phải đúng những doanh nghiệp còn khỏe, còn làm ăn được, chứ hỗ trợ cho doanh nghiệp đóng cửa thì không có tác dụng. Với doanh nghiệp đã đóng cửa thì cần hỗ trợ theo kiểu khác, đó là miễn lãi, khoanh nợ.

Quan điểm của ông thế nào đối với việc nới lỏng tiền tệ, nhất là Việt Nam đã thực hiện nới lỏng tiền tệ liên tục trong nhiều năm gần đây?

Chính sách tiền tệ của Việt Nam nhìn chung có tính nới lỏng liên tục nhiều năm qua, khác nhau chỉ ở mức độ nới lỏng. Do vậy dư địa nới lỏng tiền tệ hiện nay vẫn có nhưng không nhiều. Tiền chúng ta là Việt Nam đồng, là đồng tiền yếu chứ không phải USD hay Euro, cứ nới lỏng nhiều thì câu chuyện tỷ giá lại cũng là một vấn đề. Tỷ giá kéo theo lạm phát, tỷ giá mất giá mạnh thì ảnh hưởng đến dòng vốn đầu tư, nước ngoài sẽ e ngại, giảm đầu tư vào Việt Nam.

UBND TP.HCM kiến nghị giãn thời gian thực hiện nghĩa vụ thuế, cho phép doanh nghiệp chậm nộp các loại thuế (thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế nhập khẩu...). Ảnh: CTV

Trong khi Việt Nam đang rất cần nguồn vốn ngoại, nếu họ không đầu tư thì cũng sẽ rất khó khăn, vì nguồn lực trong nước đang hạn hẹp. Tất nhiên, chúng ta chưa hết dư địa, lãi suất vẫn hạ được, tiền vẫn bơm ra được, nhưng cần thận trọng hơn.

Ông nghĩ sao về giải pháp tăng chi tiêu công hoặc giảm thuế để ứng phó với những tác động từ đại dịch? Theo ông, việc này có thực hiện được trong bối cảnh hiện nay?

Thực tế chúng ta cũng đang thực hiện điều này. Tôi cho rằng những dự án nào đã phê duyệt, có trong kế hoạch thì nên đẩy nhanh, nhất là những dự án trọng điểm quốc gia. Việc Chính phủ chuyển nhiều dự án từ BOT sang vốn nhà nước cũng là điều tốt. Tuy nhiên, chúng ta không nên mở rộng đầu tư công, tránh phân bổ dàn trải cho địa phương, điều này dễ gây thất thoát, khó quản lý các dự án một cách hiệu quả, chúng ta chỉ nên đẩy nhanh những dự án trọng điểm, đã được phê duyệt và có vốn thực hiện.

Ông có đồng tình việc rà soát đầu tư công để chuyển đầu tư công qua chi tiêu thường xuyên? Có khuyến nghị rằng nên tạm dừng các dự án lớn chưa cấp thiết, để dùng nguồn vốn đó hỗ trợ nền kinh tế. Quan điểm của ông về vấn đề này?

Tôi không đồng tình lắm với quan điểm này. Dự án nào có kế hoạch của dự án đó, không nên lấy tiền của cao tốc Bắc Nam hay sân bay Long Thành để cứu trợ người dân. Không nên lấy tiền của cái này đắp sang cái kia, dù tiền nào cũng là tiền. Các gói cứu trợ an sinh xã hội có tiền riêng rồi, nếu cần thì phát hành trái phiếu để thực hiện. Hiện nay chưa đến mức phải hy sinh các dự án lớn để thực hiện chính sách an sinh xã hội. Nhất là gói an sinh xã hội chỉ đề xuất có 62.000 tỷ đồng, còn tổng đầu tư công tới 700.000 tỷ đồng, khá lớn.

Chúng ta có nên vay từ các quỹ quốc tế như IMF hay WB? Nhiều ý kiến cho rằng điều này cũng là giải pháp tốt...

Tôi nghĩ nên vay. Nguồn lực tài chính của chúng ta hạn hẹp, trong khi đây là nguồn vay ưu đãi, lãi suất thấp, họ sẵn sàng trợ giúp thì chúng ta nên vay. Còn vay thương mại lãi suất khá đắt đỏ.

Bên cạnh cơ hội phát triển, làm thế nào tận dụng cơ hội này để đào thải những khu vực không hiệu quả trong nền kinh tế?

Thị trường sẽ tự đào thải thôi. Với doanh nghiệp nguồn lực yếu, nhà xưởng, máy móc đều đi thuê thì dễ bị đào thải. Còn doanh nghiệp nào tồn tại được qua đợt dịch thì cần hỗ trợ. Như tôi đã  nói, cần có tiêu chí hỗ trợ rõ ràng, không tràn lan, kể cả doanh nghiệp nhà nước hay tư nhân. Những doanh nghiệp còn khả năng hoạt động, chuyển hướng kinh doanh hiệu quả thì nên hỗ trợ tín dụng cho họ để vực dậy nền kinh tế.

Theo ông, cần những giải pháp nào để vực dậy nền kinh tế?

Ngoài những chính sách mà Chính phủ đưa ra thì tôi nghĩ dịch bệnh này chưa biết khi nào kết thúc, do đó ngoài việc kiểm soát dịch cần nới dần các hoạt động kinh tế. Nguồn lực chúng ta hữu hạn nên không thể trợ cấp mãi vì đối tượng cần hỗ trợ khi thực hiện giãn cách xã hội là rất rộng. Việc này cần linh hoạt chính sách, cần tạo điều kiện cho các hoạt động kinh tế còn hoạt động được, bớt đối tượng trợ cấp đi. Nhiều địa phương không có dịch thì phải nới dần các biện pháp cách ly để hoạt động bình thường.

Chính quyền cần đặt ra các tiêu chuẩn như người lao động, khách hàng… phải cách nhau bao nhiêu mét, phải mang khẩu trang, đồ bảo hộ, quy trình vệ sinh… để họ thực hiện và quay trở lại sản xuất kinh doanh chứ nếu cấm hết thì sức khỏe nền kinh tế ngày càng yếu. Quan trọng nhất là phải cho hoạt động kinh tế dần hồi phục, chứ thế này mãi thì không được. Tôi nghĩ Chính phủ chắc cũng sốt ruột.

Ngoài ra, cải cách môi trường kinh doanh, thể chế cũng cần được tiếp tục thực hiện. Theo đó, cần gỡ bỏ các rào cản, thủ tục, thông thoáng chính sách cho doanh nghiệp, chứ đừng để họ phải kêu nhiều quá. 

Hoài Phong

bài viết liên quan
Loading...
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm

Đọc tin nhanh

#điểm báo Người Đô Thị
*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.