Khảo sát JETRO 2025:

Doanh nghiệp Nhật Bản lạc quan lợi nhuận nhưng áp lực tuyển dụng gia tăng

 21:26 | Thứ hai, 26/01/2026  0
Kết quả kinh doanh và động lực mở rộng kinh doanh của các doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam trong năm tài chính 2025 vẫn duy trì tích cực, nhưng khó khăn trong tuyển dụng lao động ngày càng gia tăng.

Đây là nội dung chính trong báo cáo khảo sát thực trạng doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư tại nước ngoài trong năm tài chính chính 2025 (kết thúc tháng 3.2026), được công bố hôm 26.1.2026.

Nhiều chỉ báo tích cực về lợi nhuận và kế hoạch mở rộng

Trong buổi cập nhật ấn bản dành cho thị trường Việt Nam, ông Okabe Mitsutoshi, Trưởng đại diện Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO) tại TP.HCM nhấn mạnh một số điểm tích cực thể hiện trong khảo sát đối với khoảng 900 doanh nghiệp Nhật Bản (chế tạo và phi chế tạo) tại Việt Nam.

“Trong khảo sát về dự báo lợi nhuận, tỷ lệ doanh nghiệp Nhật Bản đang hoạt động tại Việt Nam dự tính có lãi năm 2025 đạt 67,5%, ghi dấu mức cao nhất kể từ năm 2009. Đây cũng là lần đầu tiên sau 5 năm tỷ lệ này vượt mức trung bình của toàn khối ASEAN, với mức 65,3%”, ông Okabe nhấn mạnh.

Tuy nhiên, trả lời khảo sát về triển vọng lợi nhuận kinh doanh năm 2026 (so với năm 2025), chỉ có 47,6% doanh nghiệp dự báo sẽ "cải thiện". Riêng ngành Thiết bị vận tải và Linh kiện thiết bị vận tải có tỷ lệ dự báo "xấu đi" vượt trên 30%. Nguyên nhân được đề cập đến là do các đơn hàng tại các thị trường xuất khẩu của ngành đang giảm mạnh.

Một điểm tích cực khác ghi nhận từ khảo sát đó là mức độ sẵn sàng mở rộng kinh doanh của các doanh nghiệp Nhật tại Việt Nam trong vòng 1 đến 2 năm tới đạt 56,9%. Tỷ lệ này đang dẫn đầu ASEAN trong hai năm liên tiếp. “Nhiều doanh nghiệp cho biết lý do mở rộng kinh doanh là do xuất khẩu gia tăng và nhu cầu tại thị trường nội địa mở rộng, đồng thời xem xét tăng cường chức năng bán hàng”, đại diện Tổ chức JETRO tại TP.HCM nhấn mạnh.

Các doanh nghiệp cho biết, hiện Việt Nam vẫn có các lợi thế chính của môi trường đầu tư tiếp tục gia tăng. Trong đó quy mô thị trường, tiềm năng tăng trưởng, chi phí nhân công thấp và tình hình chính trị – xã hội ổn định đều ghi nhận mức tăng so với năm trước.

Tỷ lệ thu mua nội địa cũng tăng 1,5 điểm so với năm trước, đạt 38,1%. Trong đó tỷ lệ thu mua từ các doanh nghiệp địa phương đạt 18,3%, mức cao nhất kể từ khi bắt đầu thực hiện khảo sát.

Trong giai đoạn 2016– 2024, tỷ lệ này duy trì quanh mức 15%, nhưng đã lần đầu tiên vượt mốc 18% kể từ khi bắt đầu thực hiện khảo sát, cao nhất từ trước tới nay. Doanh nghiệp Nhật cho biết họ mong muốn mở rộng thu mua nội địa ổn định ở mức 49,4%.

Ông Okabe giải thích, trong lịch sử từ khi khởi động khảo sát vào năm 1987, trong năm tài chính 2025, đơn vị khảo sát đã thêm mục tác động của thuế quan Hoa Kỳ đối với các doanh nghiệp cho phù hợp với tình hình.

Tại Việt Nam, 35% doanh nghiệp "có xuất khẩu sang Hoa Kỳ", vượt mức trung bình của ASEAN. Trong đó, xuất khẩu trực tiếp chiếm 13,8%, còn xuất khẩu gián tiếp (thông qua quốc gia/khu vực thứ ba, v.v.) chiếm 21,2%.

Theo khảo sát, nhiều doanh nghiệp vẫn duy trì xuất khẩu sang Hoa Kỳ. Tuy nhiên, khoảng 1/3 doanh nghiệp (33,8%) dự báo sẽ chịu “tác động tiêu cực lớn” từ chính sách thuế quan của Hoa Kỳ, do nhu cầu thị trường suy giảm, dù vẫn nỗ lực giữ thị phần xuất khẩu.

“Nhiều doanh nghiệp cho thấy xu hướng tiếp tục duy trì xuất khẩu sang Hoa Kỳ thông qua các biện pháp như cắt giảm chi phí nội bộ và đàm phán giá với nhà cung cấp. Đồng thời, cũng ghi nhận những nỗ lực đa dạng hóa thị trường tiêu thụ ngoài Hoa Kỳ”, ông Okabe nói.

Theo khảo sát, hai thị trường quan trọng mà các doanh nghiệp xuất khẩu của Nhật tại Việt Nam tập trung đó là Nhật Bản và Hoa Kỳ. Tuy nhiên, trong bối cảnh căng thẳng thương mại giữa Hoa Kỳ và các nước chưa hạ nhiệt, các doanh nghiệp Nhật Bản đang tìm kiếm tìm thêm thị trường xuất khẩu khác. “Nhật Bản và châu Âu sẽ có những ký kết về tự do thương mại. Trong khi Việt Nam cũng đã có ký kết tự do thương mại với châu Âu, nên nhiều doanh nghiệp Nhật tại Việt Nam đang đặt nhiều kỳ vọng vào thị trường châu Âu, tận dụng những thỏa thuận thương mại đã ký giữa cả Việt Nam và Nhật Bản với thị trường này.

“Hiện nay, các doanh nghiệp Nhật Bản đang tận dụng rất tốt các điều khoản trong thỏa thuận thương mại giữa Việt Nam và Nhật, so với các thỏa thuận giữa Nhật và các nước trong khối ASEAN”, ông Okabe cho biết.

Rủi ro môi trường đầu tư vẫn cần phải cải thiện

Mức độ cải thiện rủi ro vẫn trì trệ, đặc biệt rủi ro của môi trường đầu tư, thủ tục hành chính (cấp phép, v.v.) phức tạp vẫn đứng đầu với tỷ lệ 67,5% và con số này tiếp tục tăng so với năm trước. Mức độ đánh giá rủi ro về "thủ tục hành chính phức tạp” đã tăng mạnh kể từ năm 2019, và tiếp tục tăng thêm 5,1 điểm so với năm trước.

Trong khi đó, rủi ro "hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện và vận hành thiếu minh bạch" (đạt 58,7%) đã vượt lên thành mức độ rủi ro cao thứ hai, thay thế rủi ro"chi phí nhân công tăng cao" (57,3%) so với năm trước. Trả lời mức rủi ro tại Việt Nam này ghi nhận cao hơn ASEAN trên 20 điểm.

Ông Okabe Mitsutoshi, Trưởng đại diện Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO) tại TP.HCM, chia sẻ tại họp báo. Ảnh Lan Chi


Khảo sát cũng cho thấy, có hiện tượng một số doanh nghiệp Nhật Bản cho biết sẽ thu hẹp kinh doanh và tìm kiếm thị trường khác. Ông Okabe cho biết, tình trạng này xảy ra với một số doanh nghiệp sản xuất xe máy chạy xăng. “Vì thời gian thực hiện khảo sát diễn ra ngay gần thời điểm Hà Nội công bố một số đề xuất chuyển đổi xe xăng sang xe điện nên nhiều doanh nghiệp sản xuất các linh kiện xe máy xăn bị giảm đơn hàng, nên họ lên kế hoạch giảm quy mô và chuyển thị trường. Nếu khảo sát được thực hiện sau khi Hà Nội điều chỉnh các đề xuất, kết quả khảo sát có khả năng sẽ khác về mục thu hẹp và chuyển thị trường,” ông Okabe giải thích, đồng thời cho biết thêm trong phần các rủi ro và thách thức, các doanh nghiệp Nhật Bản vẫn chỉ ra một số quan ngại. “Doanh nghiệp đang theo dõi sát sao tác động của quy định hạn chế lưu thông xe máy xăng tại Hà Nội”, ông nhấn mạnh.

Tuyển dụng lao động trở thành thách thức nổi bật

Theo kết quả khảo sát, 48,2% doanh nghiệp cho biết trong hai năm gần đây, việc tuyển dụng gặp nhiều khó khăn hơn cả trong ngành chế tạo và phi chế tạo. Con số này cho thấy sự thay đổi đáng kể so với kết quả của một cuộc khảo sát tương tự trong năm tài chính 2023, đồng thời cao hơn nhiều so với mức trung bình của ASEAN (36,8%).

Trong ngành chế tạo, tỷ lệ doanh nghiệp cho rằng "việc tuyển dụng đang trở nên khó khăn hơn" lên tới 66,7%. Đặc biệt, tình trạng thiếu hụt nhân lực trong ngành chế tạo tại khu vực miền Bắc ngày càng nghiêm trọng, với 76,0% trả lời gặp khó khăn, trong khi ở miền Nam là 56,7%.

Qua trao đổi, đại diện các doanh nghiệp cho biết, ngoài một số lý do như dân số già, không phù hợp với yêu cầu kỹ năng hay thay đổi giá trị quan, có hai lý do gây khó khăn trong tuyển dụng, đó là "mức yêu cầu về tiền lương/đãi ngộ tăng" và "cạnh tranh với các doanh nghiệp khác ngày càng gay gắt". Sự cạnh tranh trong tuyển dụng nhân công trong ngành chế tạo thường đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư từ Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc.

Trong thời gian qua, nhiều doanh nghiệp mảng sản xuất của Nhật đã phải tăng mức độ tự động hóa, lắp đặt thêm máy móc để giảm thiểu những tác động do thiếu nhân công. “Tuy nhiên, ngay cả với những doanh nghiệp có mức độ tự động hóa ở mức cao nhất cũng chưa thể chuyển 100% sang máy móc hoàn toàn. Có rất nhiều công đoạn sản xuất vẫn cần người lao động có tay nghề. Hoặc ít nhất tôi có thể nói, thời gian này và trong thời gian gần sắp tới, máy móc chưa thể thay thế người lao động hoàn toàn”, ông Okabe cho biết và nhấm mạnh thêm rằng cộng đồng doanh nghiệp Nhật Bản và các tổ chức hỗ trợ liên quan cũng thường tăng cường đào tạo, kết nối cung cầu lao động, tuy nhiên, thực tế vẫn còn nhiều thách thức.

Những rào cản lớn mà doanh nghiệp Nhật phản ánh trong khảo sát

Một số vấn đề chính mà doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam đang phải đối mặt, được ghi nhận từ hơn 220 ý kiến trả lời tự do:

1. Thủ tục hành chính (cấp phép, phê duyệt, v.v.) phức tạp

Việc thay đổi thủ tục hành chính, cũng như sự chậm trễ hoặc đình trệ do tái cơ cấu bộ máy hành chính hoặc chuyển giao thẩm quyền, đã trở thành trở ngại lớn đối với việc thi công và ký kết hợp đồng, khiến doanh nghiệp khó dự báo doanh thu và ảnh hưởng nghiêm trọng đến dòng tiền.

Thủ tục xin cấp giấy phép phức tạp; khi hệ thống pháp luật thay đổi, các sự việc trong quá khứ cũng bị áp dụng hồi tố và đánh giá theo quy định hiện hành.

Khi vận chuyển sản phẩm có chứa một số hóa chất thuộc diện quản lý, doanh nghiệp đã nộp hồ sơ xin cấp giấy phép mới nhưng sau hơn một năm vẫn chưa được phê duyệt.

Việc vận hành VNeID trong trường hợp người đại diện doanh nghiệp là đối tượng không cư trú về thuế. Nếu không thể vận hành doanh nghiệp một cách linh hoạt, điều này có thể khiến việc gia nhập thị trường của các mô hình kinh doanh đa dạng, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, trở nên khó khăn.

Quy định về phòng cháy chữa cháy được siết chặt, khiến chi phí bổ sung cho trang thiết bị phòng cháy gia tăng, buộc doanh nghiệp phải xem xét lại hoặc hủy bỏ kế hoạch mở rộng.

Thủ tục và các yêu cầu cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài được sửa đổi trong thời gian ngắn, khiến doanh nghiệp phải tốn thời gian và chi phí để cập nhật thông tin mới nhất và xử lý công việc thực tế.

Trong quá trình làm thủ tục xin giấy phép lao động cho nhân sự mới được cử sang, điều kiện nộp hồ sơ đã thay đổi (do nghị định mới được ban hành). Ngay cả cán bộ phụ trách của cơ quan chức năng cũng không nắm rõ cách xử lý, dẫn đến việc hồ sơ bị tạm dừng và doanh nghiệp phải làm lại toàn bộ thủ tục, bao gồm cả xin visa

2. Hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện

Thiếu hướng dẫn đối với quy định thông quan, trong khi các biện pháp xử phạt lại được áp dụng nhanh chóng. Đồng thời, quy định còn khác nhau giữa các địa phương.

Do sự khác biệt trong cách diễn giải pháp luật của chính quyền địa phương, doanh nghiệp buộc phải đưa ra các quyết định khác nhau giữa khu vực miền Trung và miền Nam.

Việc bị các cơ quan nhà nước yêu cầu hối lộ diễn ra thường xuyên.

Trong các đợt thanh tra về thuế, phòng cháy chữa cháy, v.v. tiêu chí đánh giá còn mơ hồ, dẫn đến nội dung chỉ ra khác nhau tùy theo từng cán bộ thanh tra.

Liên quan đến hoàn thuế VAT (có nhiều ý kiến phản ánh các vấn đề như hồ sơ hoàn thuế không được tiếp nhận hoặc không được hoàn thuế, v.v.)

3. Thách thức về Hạ tầng và biến đổi khí hậu

Doanh nghiệp đang đối mặt với tình trạng khó tuyển dụng lao động, cùng với rủi ro mất điện và ngập lụt. Trong đó, khó khăn về tuyển dụng và rủi ro ngập lụt được xem là những thách thức dài hạn.

Việc mất điện xảy ra thường xuyên khiến doanh nghiệp bị hạn chế về khả năng lắp đặt thiết bị và phương pháp sản xuất, gây khó khăn cho việc đầu tư quy mô lớn.

Tình trạng ùn tắc giao thông diễn ra thường xuyên gây thiệt hại kinh tế, cùng với nguy cơ gián đoạn phương tiện đi lại khi xảy ra thiên tai và các rủi ro về sức khỏe do ô nhiễm môi trường.

Tại các khu công nghiệp nơi doanh nghiệp đặt cơ sở, trong những năm gần đây, tình trạng ngập cục bộ trong thời gian ngắn do mưa lớn xảy ra ngày càng thường xuyên, gây ảnh hưởng đến việc thực hiện hoạt động kinh doanh.

Lan Chi

bài viết liên quan
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm
Cùng chuyên mục
Xem nhiều nhất

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.