Báo cáo "Hiện trạng đầu tư của Đức tại Việt Nam 2026/27" của AHK, đăng cuối tháng 9.2026 với số liệu chốt đến tháng 8, cho thấy hai chuyển động song song. Thứ nhất, doanh nghiệp Đức không chỉ mở rộng sản xuất truyền thống mà còn đầu tư vào lập trình, tư vấn kỹ thuật, kỹ thuật công nghiệp, tìm nguồn cung và dịch vụ quy trình kinh doanh (BPO - Business Process Outsourcing).
Thứ hai, dòng vốn tập trung quanh hai cực với chức năng khác nhau: vùng TP.HCM mở rộng (Greater HCMC) thiên về thương mại và dịch vụ, hành lang Hà Nội – Hải Phòng thiên về sản xuất công nghiệp và logistics.

Một số cột mốc tiêu biểu trong hợp tác kinh tế Đức - Việt. Trong đó, năm 1995: Mercedes-Benz xây dựng nhà máy sản xuất xe cao cấp đầu tiên; 2009: EAB nhận giấy phép đầu tiên cho một trang trại điện gió; 2017: Deutsches Haus TP.HCM trở thành tòa nhà văn phòng đầu tiên đạt chứng nhận "LEED Platinum"; 2030: Siemens sẽ triển khai tuyến đường sắt cao tốc "ICE" đầu tiên cùng Vinspeed. Nguồn: Đại diện Kinh tế Đức tại Việt Nam (AHK Vietnam).
Ba thập niên tích lũy
Theo báo cáo, các doanh nghiệp Đức bắt đầu đầu tư vào Việt Nam ngay sau khi nước này mở cửa cho vốn nước ngoài. Những dự án đầu tiên đầu thập niên 1990 gắn với hai cái tên Bültel và Tatonka. Dòng vốn mạnh lên rõ rệt sau năm 2007, khi Việt Nam gia nhập WTO và các cải cách tiếp theo cải thiện môi trường đầu tư. Báo cáo cho rằng, qua hơn ba thập niên, các doanh nghiệp Đức đã góp phần vào quá trình công nghiệp hóa, chuyển dịch năng lượng tái tạo và hiện đại hóa hạ tầng thông qua một số dự án tiêu biểu.
Hiện AHK nhận diện khoảng 620 dự án đầu tư của Đức tại Việt Nam, với tổng giá trị ước tính 3,7 tỷ USD và tạo ra ít nhất 55.000 việc làm trực tiếp. Khoảng 120 doanh nghiệp sản xuất đang hoạt động, bên cạnh nhiều công ty khác trong dịch vụ, bán hàng, tìm nguồn cung, kỹ thuật, tư vấn và các ngành số. Để so sánh, báo cáo 2023/24 ghi nhận 490 công ty, khoảng 3,1 tỷ USD và 47.000 việc làm. Các chỉ số ghi nhận mức tăng qua từng kỳ, dù đơn vị thống kê có thể không hoàn toàn đồng nhất.
Trong báo cáo cũng giải thích cách tính của AHK áp dụng phương pháp rộng hơn số liệu FDI thông thường. Ngoài vốn đầu tư trực tiếp từ Đức, AHK tính cả khoản đầu tư qua công ty con ở nước thứ ba hoặc qua các cấu trúc tập đoàn quốc tế, miễn là chủ sở hữu cuối cùng vẫn là phía Đức. AHK cho rằng cách làm này phản ánh sát hơn hiện diện thực tế của doanh nghiệp Đức. Hệ quả là các con số này không thể đặt trực tiếp cạnh số liệu đăng ký đầu tư của cơ quan quản lý Việt Nam hay bảng xếp hạng FDI theo quốc gia.
Về nguồn gốc, dòng vốn đến từ khắp các vùng kinh tế của Đức, nổi bật là Baden-Württemberg, Bayern (Bavaria) và Nordrhein-Westfalen. Hai bang đầu là nơi có nhiều doanh nghiệp ô tô, máy móc, tự động hóa và kỹ thuật chính xác hàng đầu nước Đức. Nordrhein-Westfalen là vùng công nghiệp lớn nhất, với thế mạnh về hóa chất, sản xuất và logistics. Hamburg và Frankfurt đóng góp qua thương mại, logistics và tìm nguồn cung.
Theo AHK, cơ cấu nhà đầu tư phản ánh khá sát bản đồ công nghiệp Đức.

Sự phân bố vốn đầu tư vào lĩnh vực sản xuất của Đức tại ba vùng công nghiệp trọng điểm. Nguồn AHK.
Siêu đô thị TP.HCM - cửa ngõ chính của nhiều doanh nghiệp Đức khi vào Việt Nam
Vùng TP.HCM mở rộng (Greater Ho Chi Minh City) - được báo cáo định nghĩa sau khi ba tỉnh thành sáp nhập - vẫn là điểm đến quan trọng nhất. Khoảng 70% doanh nghiệp Đức tại Việt Nam đặt tại thành phố và các khu vực lân cận. Vùng này đóng góp khoảng 40% GDP cả nước và cho phép doanh nghiệp tiếp cận khoảng 21 triệu dân. Các khoản đầu tư tập trung dày trong bán kính khoảng 40 km quanh trung tâm thành phố, nơi có mạng lưới nhà cung cấp lâu năm, hạ tầng logistics, khu công nghiệp và khách hàng ở ngay gần.
Với doanh nghiệp bán hàng và dịch vụ, vị trí gần khách hàng thường quan trọng hơn chi phí mặt bằng. Chi phí đất đai và nhân công tăng đang ngày càng ảnh hưởng đến quyết định đầu tư, nhưng theo báo cáo, vùng này vẫn là cửa ngõ chính và trụ sở của nhiều doanh nghiệp Đức khi vào Việt Nam. Phía Nam cũng là cụm sản xuất lớn nhất, chiếm khoảng 58% số dự án sản xuất được nhận diện, với hệ sinh thái nhà cung cấp trưởng thành và kết nối thuận lợi.

adidas vừa chính thức ra mắt Brand Center adidas đầu tiên tại Việt Nam vào tháng 4.2026, đặt tại trung tâm thương mại Saigon Centre (phường Sài Gòn, TP.HCM).
Hành lang Hà Nội – Hải Phòng là điểm đến lớn thứ hai, chiếm khoảng 25% số dự án sản xuất. Lợi thế chính của khu vực này là địa lý. Vị trí gần Trung Quốc thuận lợi cho việc kết nối nguồn linh kiện Đông Á, cảng nước sâu Hải Phòng mở đường biển cho các ngành hướng xuất khẩu, và dòng vốn vào hạ tầng công nghiệp ở đây rất mạnh. Cụm công nghiệp và hạ tầng logistics là hai trụ cột của hành lang này.
Hà Nội đồng thời là một trong ba thành phố (cùng TP.HCM và Đà Nẵng) nơi doanh nghiệp Đức đặt các đội kỹ sư và lập trình viên, phục vụ cả thị trường nội địa lẫn hoạt động quốc tế.
Miền Trung, nhất là quanh Đà Nẵng và Quảng Nam, chiếm khoảng 16% số dự án sản xuất. Khu vực này thu hút các nhà đầu tư tìm kiếm chi phí vận hành thấp hơn và những địa điểm mới nổi. Ba khu vực cộng lại chiếm gần toàn bộ số dự án sản xuất của Đức, cho thấy dòng vốn vẫn tập trung. Dù vậy, báo cáo nhận xét hoạt động sản xuất đã phân bố đều hơn so với các thập niên trước và hòa nhập sâu hơn vào hệ sinh thái công nghiệp Việt Nam.
Việt Nam không chỉ là điểm sản xuất mà còn là nền tảng khu vực cho dịch vụ kinh doanh
Sản xuất vẫn là mảng có cường độ vốn cao nhất. Khoảng 120 doanh nghiệp Đức đang vận hành cơ sở sản xuất tại Việt Nam, trải rộng từ may mặc, hóa chất, máy móc, linh kiện ô tô, điện tử đến thiết bị y tế và hàng tiêu dùng. Nhiều cơ sở phục vụ chuỗi cung ứng toàn cầu, số khác chủ yếu hướng đến thị trường nội địa.
Điểm đáng chú ý của kỳ này là mô hình đầu tư. Khoảng 71% nhà máy trong mẫu khảo sát do doanh nghiệp tự sở hữu trong khu công nghiệp. Khoảng 27% thuê nhà xưởng xây sẵn (ready-built factories). Mô hình xây theo yêu cầu (built-to-suit) vẫn hiếm.
AHK cho rằng nhà xưởng xây sẵn ngày càng được ưa chuộng vì cho phép vào thị trường nhanh hơn và giảm vốn ban đầu. Với một nhóm doanh nghiệp, việc gia nhập thị trường không cần cam kết vốn lớn ngay từ đầu đã trở thành ưu tiên.

Các hoạt động tiêu biểu trong lĩnh vực CNTT và dịch vụ kỹ thuật số của Đức tại TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Hà Nội. Nguồn AHK
Đằng sau tên tuổi sản xuất của Đức, báo cáo mô tả một cơ cấu khác. Hoạt động bán hàng và dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các chức năng kinh doanh của doanh nghiệp Đức tại Việt Nam, hỗ trợ máy móc, thiết bị gia dụng, giải pháp công nghiệp và dịch vụ kỹ thuật trên thị trường nội địa. Hơn 250 công ty hoạt động trong mảng này. Nói cách khác, tính theo số lượng, hiện diện của Đức chủ yếu là thương mại và dịch vụ. Tính theo cường độ vốn, sản xuất vẫn là mảng lớn nhất.
Mảng đang tăng nhanh là lập trình, tư vấn kỹ thuật, kỹ thuật công nghiệp, tìm nguồn cung và BPO. AHK nhận định hoạt động lập trình và BPO đã trở thành một cấu phần quan trọng của đầu tư Đức trong những năm gần đây. Nguồn kỹ sư và nhân lực công nghệ ngày càng dồi dào là một lý do. Các công ty Đức trong phát triển phần mềm, kỹ thuật công nghiệp, tự động hóa và dịch vụ số đã lập đội nhóm tại TP.HCM, Hà Nội và Đà Nẵng.
Báo cáo kết luận Việt Nam không còn chỉ được nhìn như địa điểm sản xuất mà còn là nền tảng khu vực cho chăm sóc khách hàng, kỹ thuật và dịch vụ kinh doanh.
"China+1" và triển vọng 2026/27
Một động lực xuyên suốt là đa dạng hóa chuỗi cung ứng. Theo báo cáo, nhiều doanh nghiệp Đức nhìn Việt Nam như địa điểm bổ sung cho sản xuất và tìm nguồn cung trong chiến lược khu vực rộng hơn, không phải để thay thế các cơ sở ở nơi khác. Cách diễn đạt này quan trọng vì phản ánh một thực tế rằng doanh nghiệp Đức đã và đang phân tán rủi ro, không rút khỏi thị trường lớn nhất châu Á.
Các yếu tố hỗ trợ được nêu gồm môi trường chính trị tương đối ổn định, chi phí lao động cạnh tranh, chất lượng nhân lực cải thiện, vị trí thuận lợi trong các chuỗi cung ứng khu vực và khung đầu tư ngày càng mở. Mạng lưới hiệp định thương mại tự do rộng và việc nâng cấp hạ tầng liên tục củng cố thêm sức hấp dẫn.
Về tâm lý kinh doanh, khảo sát AHK World Business Outlook mùa thu 2025 cho thấy 88% doanh nghiệp Đức tại Việt Nam đánh giá tình hình kinh doanh hiện tại là "tốt" hoặc "tạm ổn", và hơn một nửa dự định mở rộng đầu tư trong năm 2026. Tuy nhiên, đây là con số tham khảo và nên được xem xét cẩn trọng vì là khảo sát do chính AHK thực hiện với doanh nghiệp trong mạng lưới của mình, và những đơn vị đã rút lui hoặc thu hẹp không nằm trong mẫu.
Triển vọng còn gắn với một áp lực mà báo cáo chỉ ra, đó là chi phí đất đai và nhân công tăng ở vùng TP.HCM ngày càng chi phối quyết định đầu tư. Nếu xu hướng này tiếp diễn, tỷ lệ 58% – 25% – 16% giữa ba khu vực sản xuất có thể dịch chuyển trong những năm tới, với miền Trung và phía Bắc nhận thêm dòng vốn.
Qua ba thập niên, Việt Nam đã đi từ vị trí địa điểm gia công chi phí thấp đến chỗ vừa là cơ sở sản xuất, vừa là thị trường, vừa là nơi đặt các đội ngũ kỹ thuật và dịch vụ của doanh nghiệp Đức ở Đông Nam Á. Số dự án, số nhà máy và số việc làm tăng qua từng kỳ báo cáo là bằng chứng cho thay đổi đó. Giai đoạn 2026/27 nhiều khả năng đi tiếp theo hướng ấy, với sản xuất hiện đại đi cùng dịch vụ kỹ thuật và công nghệ số có giá trị gia tăng cao hơn.
Lan Chi