![]() |
Trước hết tôi muốn trở lại cái gốc của vấn đề. Đó là việc Nghị quyết Đại hội Đảng XIII đề ra mục tiêu cụ thể cho đất nước: đến năm 2030 là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao (GDP bình quân đầu người ước đạt khoảng 7.500 USD/năm); đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao (GDP bình quân đầu người trên 12.535 USD/năm).
Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế chỉ là điều kiện vật chất cho phát triển, hay chỉ là một thành tố vật chất của phát triển. Mục tiêu của Việt Nam, theo Tổng Bí thư Tô Lâm, là phát triển bền vững với những nội hàm toàn diện và sâu sắc hơn: “Tăng trưởng chỉ có ý nghĩa nếu từng người dân được hưởng thành quả phát triển theo cách công bằng, an toàn và nhân văn; chất lượng cuộc sống thực của người dân được nâng cao; không ai bị bỏ lại phía sau; tương lai của thế hệ mai sau không bị đánh đổi để đáp ứng lợi ích trước mắt của thế hệ hôm nay…
Phát triển bền vững không chỉ là vấn đề kinh tế và môi trường. Đó còn là vấn đề văn hóa, xã hội, con người, đạo lý. Một xã hội phát triển bền vững là một xã hội coi trọng chân lý, lẽ phải, công bằng, nhân ái; một xã hội mà người già được tôn trọng, trẻ em được bảo vệ, phụ nữ được trao cơ hội bình đẳng, người yếu thế được che chở; một xã hội mà niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, đối với chế độ, đối với tương lai luôn vững chắc. Phát triển mà thiếu các giá trị đó thì không phải là bền vững; không phải là mục đích của chúng tôi” (trích phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội thảo quốc tế Việt Nam học, 26.10.2025).
Phát triển hiểu theo nghĩa như vậy là một thách thức không chỉ đối với các nước chậm và đang phát triển. Ngay những nước phát triển, giữ vững được những yêu cầu, giá trị đó cũng luôn là nỗ lực thường xuyên. Mục tiêu này không chỉ là những ý muốn chính trị nhất thời của tư duy nhiệm kỳ mà còn xuất phát từ ý nguyện của nhân dân, của dân tộc.
Đề tài của Tọa đàm, theo tôi hiểu, là bàn luận những cơ hội, thách thức và góp ý cho giải pháp của mục tiêu phát triển bền vững nêu trên. Tôi thấy Đảng, Nhà nước đã nhận rõ thách thức và chỉ ra phương hướng tổng thể cho những giải pháp nhằm nắm bắt cơ hội, vượt qua lực cản. Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ ra 4 nhiệm vụ lớn:
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế pháp luật hiện đại, đồng bộ, thúc đẩy phát triển: trong 5 năm tới, triển khai toàn diện Nghị quyết 66, cải cách mạnh mẽ quy trình xây dựng, thi hành và đánh giá pháp luật. Mục tiêu: xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập sâu rộng. Khắc phục pháp luật chồng chéo, đồng thời hoàn thiện thể chế bảo vệ quyền sở hữu tài sản, quyền tự do kinh doanh, quyền đổi mới sáng tạo, tạo nền tảng pháp lý thuận lợi cho đầu tư và phát triển.
Thứ hai, đột phá trong khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thông qua triển khai quyết liệt các chương trình quốc gia về đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, lan tỏa tới doanh nghiệp và địa phương. Hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia; hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư R&D, thương mại hóa công nghệ; xây dựng hạ tầng dữ liệu và nền tảng số cho chính phủ số, kinh tế số, xã hội số. Đây là nền tảng kỹ thuật quyết định bứt phá năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Phát triển khu vực kinh tế tư nhân thực chất, trở thành “động lực quan trọng nhất” của nền kinh tế quốc gia. Ảnh minh họa: Lê Nguyên Huy
Thứ ba, tăng tốc hội nhập quốc tế toàn diện, chủ động, hiệu quả. Chủ động đàm phán, thực thi hiệu quả các FTA thế hệ mới, tận dụng cơ hội từ chuỗi cung ứng toàn cầu và dòng vốn đầu tư quốc tế. Chuyển hóa cam kết hội nhập thành tăng trưởng thực tế, mở rộng thị trường, thu hút đầu tư chất lượng cao. Đồng thời tham gia xây dựng và định hình luật chơi quốc tế trong các lĩnh vực kinh tế, công nghệ, môi trường, an ninh mạng, qua đó khẳng định vị thế và bảo vệ lợi ích quốc gia.
Thứ tư, phát triển khu vực kinh tế tư nhân thực chất, trở thành “động lực quan trọng nhất” của nền kinh tế quốc gia. Tập trung tháo gỡ điểm nghẽn về đất đai, tín dụng, công nghệ, thị trường; hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; hình thành hệ sinh thái doanh nghiệp linh hoạt, năng động. Xây dựng chiến lược phát triển các tập đoàn tư nhân lớn có năng lực cạnh tranh khu vực, quốc tế, dẫn dắt chuỗi giá trị toàn cầu (nguồn: Báo điện tử Chính phủ, 21.5.2025).
Phù hợp với đặc trưng chính trị của Việt Nam, những giải pháp này đều bắt đầu từ Đảng lãnh đạo. Từ cuối năm 2024 đến tháng 9.2025, Bộ Chính trị đã ban hành 7 nghị quyết quan trọng, bao trùm các lĩnh vực then chốt: sắp xếp, tinh gọn bộ máy của toàn bộ hệ thống chính trị; cải cách thể chế và hoạt động lập pháp; đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với chuyển đổi số; các chính sách xã hội đột phá nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và chăm sóc sức khỏe toàn dân.
Ngày 16.6.2025, Quốc hội khóa XV tại kỳ họp thứ 9 đã thông qua Nghị quyết 203 sửa đổi, bổ sung 5 điều của Hiến pháp 2013, thể chế hóa Nghị quyết 60-NQ/TW của Trung ương Đảng. Theo Hiến pháp sửa đổi, hệ thống hành chính địa phương được tổ chức theo mô hình hai cấp. Cũng tại kỳ họp này, Quốc hội thông qua Nghị quyết 202 phê chuẩn việc sáp nhập, tinh giản bộ máy chính quyền địa phương.
Đặc biệt tại kỳ họp thứ 10, khóa XV, Quốc hội đã thông qua 51 luật và 39 nghị quyết, chiếm khoảng 30% tổng số văn bản quy phạm pháp luật của cả nhiệm kỳ.
Đó là một cuộc “đại tu” hệ thống pháp luật với tiêu chí kiến tạo, minh bạch và ổn định, với mong muốn tạo niềm tin cho người dân, doanh nghiệp và nhà đầu tư, đồng thời giải phóng các nguồn lực xã hội cho tăng trưởng nhanh và bền vững. Đáng nói, có những đạo luật mới, với tinh thần và nội dung cải cách triệt để nhằm giải phóng mọi nguồn lực, khai thác mọi tiềm năng cho quốc gia.

Tương lai của thế hệ mai sau phải là mục tiêu cho định hướng phát triển. Ảnh: Hoàng Ngọc Hải
Câu chuyện tiếp theo là từ thể chế đi vào cuộc sống như thế nào? Theo tôi, cần lưu ý mấy điểm:
Một là do thay đổi phương thức và phương pháp làm luật, nhiều quy định pháp lý trong các đạo luật chỉ có nội dung mang tính nguyên tắc và định hướng, trao quyền cho Chính phủ, Thủ tướng, bộ, ngành trung ương và chính quyền địa phương cụ thể hóa bằng các văn bản dưới luật. Do đó nếu việc ban hành các văn bản dưới luật không kịp thời, hoặc không tương thích với luật, hoặc không đáp ứng được các tiêu chí của văn bản quy phạm thì sẽ gây chậm trễ, ách tắc, bất hợp lý cho việc thực thi các đạo luật hay nghị quyết của Quốc hội, trở thành những điểm nghẽn mới của thể chế.
Hai là phải thường xuyên rà soát, điều chỉnh, bổ sung các chính sách và pháp luật đang có hiệu lực. Điều này càng cần thiết vì vừa qua việc thể chế hóa theo tinh thần “vừa chạy, vừa xếp hàng” một mặt đáp ứng được yêu cầu của tình hình nhưng không tránh khỏi sai sót, bất hợp lý, chồng chéo, xung đột.
Ba là tinh thần và quan điểm cải cách của Đảng trong thực hiện các chính sách và pháp luật mới phải thấu suốt từ trên xuống dưới, phải đi vào cuộc sống một cách thực chất. Nói cách khác, khắc phục tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, “trên nói một đằng, dưới làm một nẻo”, “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Muốn vậy, phải bảo vệ quyền được phản ánh, góp ý, phản biện, khiếu nại, tố cáo của người dân và doanh nghiệp; xử lý nghiêm, kịp thời, triệt để các hành vi quan liêu, tắc trách, nhũng nhiễu, trì trệ, tiêu cực, tham nhũng trong bộ máy công quyền.
Cuối cùng con người vẫn là yếu tố quyết định. Mọi nỗ lực tăng trưởng nhằm tránh bẫy thu nhập trung bình và đạt mục tiêu phát triển bền vững chỉ trở thành hiện thực nếu có đội ngũ nhân lực tương xứng và phù hợp.
Đại hội Đảng XIV mà nhân dân kỳ vọng không chỉ ban hành những nghị quyết quan trọng cho thời kỳ 2026 - 2031 và xa hơn mà còn cần bầu ra một đội ngũ cán bộ lãnh đạo đủ năng lực, tâm huyết phụng sự cho giai đoạn cực kỳ quan trọng này của đất nước, dẫn dắt dân tộc đi vào kỷ nguyên mới với niềm tự hào chân chính rằng Việt Nam là một dân tộc anh hùng trong bảo vệ độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia; đồng thời cũng có đủ tài năng và trí tuệ để trở thành văn minh, hùng cường và thịnh vượng.
Luật sư Trương Trọng Nghĩa