Đông Du ở Nam Kỳ: Khi phong trào tìm thấy ‘hậu phương’ lớn nhất

 20:46 | Thứ bảy, 18/04/2026  0
Tuy khởi phát trước nhất miền Bắc và miền Trung, nhưng khi lan tỏa đến miền Nam, phong trào Đông Du do Phan Bội Châu sáng lập đã có bước phát triển vượt bậc, không chỉ ở số du học sinh luôn chiếm phân nửa mà còn được hậu thuẫn một cách đặc biệt riêng tại Nam Kỳ.

Đánh dấu kỷ niệm 121 năm phong trào Đông Du (1905 - 2026), Tạp chí Xưa và Nay, Omega Plus Books và NXB Hà Nội vừa cho ra mắt tác phẩm Phong trào Đông Du ở miền Nam, tập hợp 32 bài viết của các nhà sử học và giới nghiên cứu, từ đó làm rõ một hướng phát triển của phong trào này, đặc biệt là ở miền Nam. 

Qua đây, những vấn đề như sự chuyển biến tư tưởng của Phan Bội Châu trên đất Nhật, mối quan hệ giữa Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh, vai trò của Hoàng thân Cường Để… đã được nhắc đến. Nhưng quan trọng nhất vẫn là những nghiên cứu làm nổi bật sự tham gia và đóng góp của xứ “thuộc địa Nam kỳ” về người và của, cũng như tác động của bối cảnh kinh tế - xã hội - văn hóa của vùng đất này, dẫn đến sự hình thành các đặc điểm riêng biệt của phong trào trên.

Cuốn sách tập hợp 32 bài viết của các nhà nghiên cứu về phong trào Đông Du ở Nam Kỳ. Ảnh: Omega Plus


Sự tham gia đặc biệt

Nói về đóng góp của riêng Nam kỳ, các nhà nghiên cứu khẳng định tuy có thời gian tồn tại ngắn ngủi, nhưng số du học sinh Nam kỳ tham gia phong trào luôn chiếm hơn phân nửa (bằng số học sinh ở Bắc, Trung kỳ cộng lại), ước chừng tất cả khoảng 200 người, theo Phan Bội Châu niên biểu.

Theo PGS. Võ Xuân Đàn, con số thực tế thậm chí có thể vượt mốc 200 người bởi Phan Bội Châu từng có chủ trương đề phòng mật thám phá hoại, dẫn đến con số chính xác được giữ bí mật. Trong khi đó theo một tài liệu khác là Việt Nam huyết lệ sử dẫn nguồn tư liệu của Thomas E. Ennis, thì con số này có thể lên đến 800 người, dẫn đến du học sinh Nam kỳ có nhiều khả năng trên 300 người.

Dẫu tham gia muộn hơn, nhưng vùng đất này đã tạo ra bước phát triển mới cho phong trào Đông Du, điển hình nhất là qua hai mảng báo chí và vật lực – tiền của. Các nhà nghiên cứu khẳng định tiếng gọi cứu nước đầu thế kỷ 20 đã vượt qua những giới hạn, ngăn cách của thực dân, nhanh chóng nhận được sự hưởng ứng ở khu vực này.

Tại đây, phong trào Đông Du nhanh chóng khai thác được một nguồn lực to lớn. Đơn cử hưởng ứng lời kêu gọi “khuyến quốc dân tư trợ du học văn” của Phan Bội Châu, nhân dân Nam kỳ đã hưởng ứng mạnh mẽ, lên tới 12.000 đồng hỗ trợ chung cho du học sinh Bắc kỳ và Trung kỳ. Không dừng ở đó, các lãnh tụ của phong trào Đông Du đã lập các cơ sở kinh doanh, sản xuất để tăng thêm nguồn thu. Theo nhiều thống kê, số tiền thu được từ các hoạt động này và sự đóng góp của nghĩa dân Nam kỳ lên tới 200.000 đồng.

Những nỗ lực ấy được thực hiện chủ yếu thông qua “tam trụ” đứng đầu phong trào. Đó là Gilbert Trần Chánh Chiếu không chỉ tự thân qua Hồng Kông đưa người con đang theo học tại đó sang Nhật giao phó cho phong trào mà khi trở về, ông còn góp một phần gia sản làm tài chính. Ông còn sử dụng những tờ báo mà bản thân làm chủ bút như Nông cổ Mín đàm hay Lục tỉnh Tân văn để ngầm cổ vũ.

Một số du học sinh của phong trào Đông Du. Ảnh: Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I.


Người thứ hai là Nguyễn Thần Hiến, một điền chủ ở Hà Tiên lên lập nghiệp ở Cần Thơ, chủ trương lập nên “Khuyến du Học hội”, tự thân cùng con em xuất dương tiếp tục hoạt động cho đến khi bị thực dân bắt thì tuyệt thực mà chết.

Cuối cùng là Nguyễn An Khương – thân phụ của nhà cách mạng Nguyễn An Ninh – người cùng chị gái lập Chiêu Nam Lầu làm cơ sở kinh doanh đồng thời tài trợ cho con em Nam kỳ du học… Đây thường là nơi trú ngụ của các lãnh đạo phong trào khi đến Sài Gòn, ghi dấu nhiều cuộc đón tiếp vô cùng nồng hậu.

Ngoài ra những gương mặt nổi bật khác ở các tỉnh Bến Tre, Hậu Giang, Tiền Giang… và cụ thể như Nguyễn Quang Diêu với những áng thơ đấu tranh nhiệt huyết; Huỳnh Đình Điển dùng tài nghệ đờn ca tài tử để cổ vũ phong trào yêu nước; Trương Duy Toàn – thư ký đặc biệt của Đức Cường Để; Nguyễn Háo Vĩnh – một trong những du học sinh đầu tiên của phong trào Đông Du… cũng được nhắc đến, họa nên thời kỳ sống động của những tư tưởng đi trước thời đại.

Phân nhánh nhỏ hơn, các nhà nghiên cứu cũng đi sâu phân tích vai trò của phụ nữ Nam kỳ Lục tỉnh qua hai nhân vật Nguyễn Thị Xuyên – bà chủ của Chiêu Nam Lầu, cơ sở liên lạc tin cậy đầu tiên giữa Sài Gòn và các lãnh đạo Đông Du; cũng như Triệu Trưng – nữ thành viên duy nhất được biết đến trong lực lượng tham gia phong trào. Ngoài ra đó còn là mối liên hệ giữa Đạo Cao Đài với phong trào, qua những tên tuổi như Lê Văn Trung, Nguyễn Phát Trước…

Phan Bội Châu và Kỳ Ngoại Hầu Cường Để ở Nhật năm 1908. Ảnh được phục hồi từ nguồn Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I.


Nguyên nhân tạo nên khác biệt

Nhận định về đóng góp của khu vực Nam kỳ, phần đa các nhà nghiên cứu đều nhất quán rằng khi vào đến đây, phong trào Đông Du đã tìm thấy nguồn lực của một xứ sở năng động như Phan Bội Châu có lần từng viết: “Mỗi lần thống kê tiền bạc ở trong nước gửi ra thấy nhiều nhất là Nam kỳ... hiện thời lưu học sinh ở Nam kỳ đông hơn nên hậu viện trông vào Nam kỳ là vậy”.

Giải đáp nguyên nhân, có nhiều lý do đã được đưa ra. Trước tiên đó là tính cách nghĩa hiệp, trọng nghĩa khinh tài của dân Nam bộ, bên cạnh truyền thống yêu nước, bởi ngay từ những ngày đầu thực dân Pháp đến Nam kỳ, bất chấp sự khuyên bảo, ngăn cấm của triều đình Huế, nhân dân Nam kỳ đã đứng lên kiên quyết chống thực dân Pháp xâm lược.

Bên cạnh đó, Nam kỳ là vùng đất tiếp cận sớm với tư bản phương Tây, với luồng tư tưởng dân chủ tư sản nên sớm nhận thức được tính cách mạng của nhiều hình thức vận động đấu tranh giải phóng dân tộc, chứ không chỉ có con đường vũ trang, đứng lên khởi nghĩa.

Khách sạn Chiêu Nam Lầu (đường Nguyễn Huệ ngày nay) là nơi tụ họp những nhà yêu nước lớn cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, cũng như hậu thuẫn cho phong trào Đông Du. Ảnh: Tư liệu


Không dừng ở đó, trước phong trào Đông Du ở đây nổ ra, thì tại Sài Gòn nói riêng, các thị xã rộng khắp nói chung đã xuất hiện hình thức đi Tây học. Tuy mục đích ban đầu chưa phải là đi để cứu đất nước nhưng khi được trang bị những kiến thức khoa học - kỹ thuật hiện đại, họ đã sở hữu những nhận thức mới mà chính quyền thực dân với tư cách là người bảo hộ Tây học chưa thể lường trước.

Ngoài ra, những chính sách trong công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp cũng tạo điều kiện cho quá trình này, có thể kể đến việc làm xuất hiện những tầng lớp mới như đại điền chủ, điền chủ, tá điền. Trong khi đó, để có đội ngũ thừa hành bản xứ, việc thành lập Sở Học chánh Nam kỳ và ban hành Chương trình Giáo dục Pháp Việt ở Nam kỳ cũng đã hình thành đội ngũ trí thức tương lai, một phần trong đó sau này tham gia phong trào Đông Du.

Khi đi sâu vào những nhân vật có đóng góp lớn như Nguyễn An Khương, Nguyễn Thần Hiến, Nguyễn An Cư, Trần Chánh Chiếu... các nhà nghiên cứu đều cho thấy đây là những người có đầu óc năng động, thực tiễn, cho nên kinh doanh rất có hiệu quả, từ đó gây quỹ, hậu thuẫn mạnh mẽ cho phong trào này.

Từ những điều trên, không khó lý giải vì sao tại Nam kỳ phong trào Đông Du nói riêng, cũng như Duy Tân và Minh Tân nói chung lại có những yêu cầu và hình thức tổ chức ở mức độ cao hơn so với Bắc kỳ và Trung kỳ khi diễn ra trên nhiều lĩnh vực: ngôn luận, kinh tế, công thương…

Đối chiếu với ngày hiện tại, qua cuốn sách này, hơn một thế kỷ nhìn lại, khi đất nước đang tiến bước vào công cuộc hội nhập toàn cầu lẫn trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghệ thông tin thay đổi từng ngày, với một quốc gia độc lập, liên tục tìm tòi đổi mới sáng tạo, bài học Đông Du vẫn còn giá trị cũng như thức thời hơn bao giờ hết. Trong đó “kinh nghiệm” quan trọng nhất vẫn là từ bỏ tư tưởng “cầu viện” để vươn tới “cầu học”, bên cạnh việc hết sức tránh chủ nghĩa kinh nghiệm, sự hời hợt trong nhận thức và cách suy nghĩ chủ quan, bảo thủ, giáo điều.

Minh Anh

bài viết liên quan
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm
Cùng chuyên mục
Xem nhiều nhất

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.