Qua đó, ta thấy có hai bản thể đang trú ngụ trong con người ông: một đứa bé với mảnh đất quê hương dịu hiền, và một trí thức hướng lòng ngưỡng mộ về vùng đất đỏ minh triết thiêng liêng.
Xứ Quảng trong miền ký ức
Là lần đầu tiên xuất hiện trong Dọc đường, với xứ Quảng quê nhà, Nguyên Ngọc đã tiếp cận vùng địa lý này bằng hai cách nhìn: gần và xa, chủ quan và khách quan. Trong nhãn quan cận, ông viết bằng ký ức, hoài niệm mang tính riêng tư. Ở đó, bài viết Mạ tôi nặng tính hồi ký, hướng đến gia đình, khác hẳn Hòa bình khó nhọc trong Dọc đường 2 chủ yếu viết về giai đoạn chiến tranh cũng như “sự nghiệp” đỡ đầu cho hơi thở mới của văn chương Việt sau năm 1975. Cũng bởi điều này, cảm xúc của ông đầy tràn và nhạy cảm hơn, nơi ta không thấy ở đó chân dung một người lính hay “người gác cửa” văn đàn, mà là đứa bé ngây thơ, nơi cậu tiếp nhận mọi thứ không chút ố tạp.

Nguyên Ngọc gặp lại mạ sau 30 năm chiến tranh (ảnh tư liệu trong sách).
Trong đây, Hưng Mỹ với bến đò dọc hiền lành, nửa quê nửa tỉnh vì dân Hội An tản cư về khá đông, từ đó mang theo không khí, văn hóa và con người nơi này đã được hiện lên. Trong rương ký ức, nơi ấy chất chứa trong ông cái buồn thôn dã man mác - nỗi sầu trong lành, gần như vô nghĩa nhưng luôn hiện diện trước cảnh biệt ly và sự chia lìa. Nơi đó còn ghi dấu mẹ ông qua những nỗng cát bỏng rát bàn chân, mà những chuyến đi mua hàng giữa trưa tựa như băng qua một “hỏa diệm sơn”. Cảnh huống ấy càng làm nổi bật ở mạ ông đức hy sinh và sự ứng biến, nơi từ không có gì đã làm ăn phát đạt, có cả cơ ngơi nhờ sự linh hoạt. Điều này khiến ông dù khoác lên mình dáng vẻ nào thì khi về nhà vẫn sẽ “đứng nép vào bên mẹ, nhỏ bé, như suốt đời tôi vẫn tựa vào sức mạnh kỳ lạ của bà mà sống và đi qua mọi thác ghềnh...”
Góc nhìn cận ấy cũng được thể hiện qua những đúc rút về Hội An mà ông là người đắm chìm vào đó. Đó là một đô thị rất nhỏ, nhưng cũng vì nhỏ mà thân mật như trong một làng, thậm chí một nhà. Ở đó con người thân thiết mà tự nhiên có trách nhiệm về nhau, coi nhau như máu mủ ruột rà. Và tuy lịch sử định danh nơi này đậm tính thương mại mà theo nghĩa thường sẽ được gán cùng những từ “nhanh chóng”, “lạnh lùng”, “cạnh tranh”, “đồng tiền”; thì Hội An vẫn là một trường hợp lạ, nơi bộ máy thương nghiệp âm thầm hoạt động mà không ồn ào, tất bật, cứ thế thong thả, ung dung mà lại chặt chẽ, hiệu lực.
Những nghề thủ công từ đây cũng giúp con người tìm lại một điều gì đó đã xưa cũ lắm, như cái chạm của người thợ may những bộ complet, khiến như Nguyên Ngọc nói: “người ngoài đến đây không thấy cái “lạ” exotique, mà là cái quen của cội nguồn chung thuở còn trong veo”. Người Hội An còn đầy phẩm hạnh, quan niệm cái nghề của mình như một tôn giáo, vì thế mà ai cũng có thể tìm thấy ở đây sự tận tâm, hết mình vì cuộc sống chung...
Với cái nhìn xa, đến từ bên ngoài, Nguyên Ngọc mang đến một lịch sử sống động của xứ Quảng khi nhận định đây là “vùng đất bản lề” mà 600 năm luôn không yên tĩnh, nơi từng là tiền tuyến, mũi nhọn, trung tâm; là nơi giành giật quyết liệt; là đất mở, khai phá và cũng là nơi tiếp nhận những hình thái kinh tế - xã hội mới mẻ... Ta thấy điều đó qua trận đánh sâu và rất bất thần của Lê Hoàn vào Indrapura (Đồng Dương) như một tín hiệu cho thấy người đứng đầu đất nước đã thấy phương hướng phát triển thiên về phía Nam.
Sau đó không lâu, Lý Thánh Tông đánh Champa, khiến Chế Củ phải dâng ba châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính rồi cuộc hôn nhân chính trị giữa Chế Mân và Huyền Trân Công chúa... Không dừng ở đó, đây cũng là nơi Nguyễn Hoàng “thoát ly”, trở thành trạm giao thương đường biển đông đúc, là nơi những nhà truyền giáo Bồ Đào Nha đến đầu tiên, cũng là nơi Pháp vào, Mỹ sang, bắt đầu giai đoạn chiến tranh trường kỳ...

Nguyên Ngọc trong một chuyến điền dã núi rừng Tây Nguyên. Ảnh: Đan Phượng
Mặt khác, đây cũng là nơi tạo ra những Phan Châu Trinh, những Phạm Phú Thứ - những nhà cách mạng, canh tân tài năng, những người mà quan điểm sau bao thế kỷ vẫn còn vọng suốt đến ngày hôm nay. Theo nghĩa nào đó, Nguyên Ngọc hoàn toàn có thể được xếp cùng những người hiền nói trên, thông qua những đóng góp, bài viết giá trị. Nếu Phạm Phú Thứ là nhà canh tân toàn diện, Phan Châu Trinh tiếp cận công cuộc giải phóng dân tộc một cách căn cơ, thì Nguyên Ngọc là người giúp ta nhìn nhận vấn đề sâu tận bên trong. Những đóng góp của ông trong các lĩnh vực văn chương, xoay quanh Tây Nguyên cũng như chính sách phát triển đất nước đôi khi không hề dễ chịu, và cũng như Nguyễn Khắc Viện nói: “Nhiệm vụ của kẻ sĩ thời nào cũng vậy, là gây dư luận”, Nguyên Ngọc cũng là một người thường gây sửng sốt.
Tây Nguyên trong dòng chảy thời đại
Trong Dọc đường 3, bên cạnh là vùng đất của minh triết thiêng liêng, của những sử thi kể vào ban đêm, của những nhà rông, nhà dài, của những bí mật độc đáo như ta vốn biết từ Các bạn tôi ở trên ấy, Dọc đường 2... thì Tây Nguyên còn được đặt trong bối cảnh hiện đại với các vấn đề thức thời, cần có giải pháp, từ mất rừng, ô nhiễm môi sinh đến niềm tin rạn vỡ, bị bê tông hóa… Theo chiều phát triển của bộ Dọc đường, nếu những cuốn đầu Nguyên Ngọc như Lưu - Nguyễn lạc vào Đào nguyên rồi không muốn về, thì ở cuốn cuối, ông đã lánh mình ra khỏi điều đó, trở thành tiếng nói trí thức kêu gọi thêm sự quan tâm. Từ một cậu bé đến từ xứ Quảng, giờ đây người trí thức ấy nép mình nhìn ngắm Tây Nguyên thâm sâu.
Trong các bài viết, ông đã đi lại từ đầu, nhấn mạnh vào mạch nguồn sâu xa nhất để khẳng định trong văn hóa Tây Nguyên cổ truyền, làng và rừng là các đơn vị cơ bản nhất. Cũng vì điều đó, không phải không có lý do mà con người nơi đây không còn giữ đất, giữ rừng. Nguyên nhân, theo ông, bởi rừng không còn gắn bó với làng mà được các nơi khác quản lý, khiến “rừng có còn là của họ nữa đâu để họ có ý thức và có quyền được giữ!”.
Ông thẳng thắn bày tỏ: “Họ đã bị mất đi cái quyền thiêng liêng tự mình giữ gìn đất đai núi rừng của mình rồi. Họ nghĩ rừng bị phá, bị băm nát, bị làm ô uế nhầy nhụa, mất trắng rừng, là việc của nhà nước, không phải việc của họ. Và phải nói rõ và nói thật điều này, một điều có lẽ không ai không biết: khi dân đã không giữ, không còn có ý thức và không còn có quyền giữ, thì không có chức to lớn quyền lực ghê gớm đến đâu có thể giữ được”.

Điều đó cũng còn hiển hiện ở những nhà văn hóa cộng đồng được dựng xây nên mà không hề biết con người nơi đây đã có nhà rông, nhà dài. Đó còn là lễ bỏ mả đứng trước nguy cơ bị “bê tông hóa” thành các nghĩa trang của người miền xuôi, là sự đánh giá thiển cận về một kho sử thi đồ sộ, các niềm tin dân gian độc đáo... Vì thế cho đến sau cùng, ông khẳng định phải chính chủ thể con người Tây Nguyên tự mình tìm ra lời giải cho những bài toán của mình.
Để phát triển thực sự bền vững, theo Nguyên Ngọc, “vấn đề dân tộc ở Tây Nguyên, cũng như ở nhiều dân tộc khác trong cả nước trước nay, theo một cách nào đó chính là vấn đề thực sự tôn trọng các dân tộc bản địa, chống lại tư tưởng dân tộc lớn dưới mọi hình thức từ thô lỗ đến tinh vi, thực sự tin và kiên quyết trao quyền tự chủ cho người bản địa, trao quyền làm chủ, tôn trọng và tin tưởng ở sức sống và sức tự chủ, sức tự phát triển của xã hội và con người ở đây”. Dù hiện thực hóa điều ấy không dễ dàng, nhưng ông luôn tin vào thế hệ mới. Với Tây Nguyên, đó là lớp trí thức bản địa mới, có cách nghĩ, cách làm và cách hành động cân bằng giữa giữ gìn và phát triển khi là một nơi vốn trọng người hiền hơn người còn quyền.
Qua đó, trên dọc đường đi, hai miền Quảng Nam - Tây Nguyên đã làm nên ông, tạo tác nên một Nguyên Ngọc là tiếng nói trí thức luôn gây xôn xao nhưng rất cần thiết trong đời sống này. Từ những vấn đề mang tính cục bộ - địa phương, ta hiểu để giải quyết được những sự nhiễu nhương, việc hiểu cho đến tận cùng là rất cần thiết, bên cạnh cũng cần hy vọng cho một tương lai còn nhiều hứa hẹn. Thế nhưng để chạm được đến điều đó, trước hết vẫn phải bắt đầu bằng chính tiếng nói của một trí thức.
Minh Anh