Tháng Tư, xem phim

 22:53 | Thứ bảy, 16/04/2016  0

Hồi tôi học lớp đạo diễn, cô giáo chủ nhiệm nhân ngày 30 tháng Tư thường hỏi, ngày đó, mấy em làm gì, ở đâu? Tôi nhớ mình đã từ nhà cũ ở chợ Vườn Chuối thả bộ đi về hướng dinh Độc Lập. Chung quanh người người nhớn nhác, có người ra hướng mé sông tìm cách nhảy xuống tàu, có người vào các nhà riêng bỏ trống khuân đồ. Áo quần lính Việt Nam Cộng Hòa la liệt nằm ngoài đường. Áo xanh bộ đội bùng nhùng trên xe ngoài Hàng Xanh và hướng sân bay tiến tới. Tất cả như một khúc phim tài liệu sống. 

 Heart and Mind, phim tài liệu khác về chiến tranh Việt Nam của Peter David, sản xuất năm 1974 và đoạt giải Oscar cho phim tài liệu hay nhất vào năm 1975. Ảnh: TL

Trước ngày 30.4.1985, một người bạn làm đạo diễn phim tài liệu, làm mối cho tôi viết kịch bản phim về nhóm lính đặc biệt của Mặt trận Giải phóng Miền Nam ngày 30.4.1975 đã vào Sài Gòn sớm nhất nay sống ra sao. Từ một vài địa chỉ, tôi tìm ra được hơn chục người, mỗi người mỗi phần số thăng trầm lắm nỗi. Anh về quê làm ruộng. Anh làm nghề quản lý khách sạn. Anh đi làm bảo vệ. Tôi còn nhớ anh làm quản lý khách sạn làm bữa nhậu mời đồng đội xưa tụ về để tôi được gặp. Anh nói, có một đứa giờ đi bán bánh giò nghen, cô chờ chút đi, đúng 7 giờ tối, cô sẽ nghe tiếng rao bánh giò, là nó đó. Quanh bàn rượu, những tâm tình chắc là không bị bóp méo thổi phồng. Có anh kể, mình vào trước rồi, lát có nhóm khác từ hướng Bắc, khác cờ, đòi nhổ cờ hai màu cắm bằng cờ một màu, vậy là có hục hặc đụng nhau. Tôi bỏ công chi kịch bản này khá nhiều, kết quả là nhận được câu cám ơn nhưng không thực hiện được vì nó… thật quá và không vui. Tiếc là tôi không còn giữ được tên tuổi của những con người nhiệt tình đó. 

Tháng 4.2015, tôi có nhóm bạn sang Cali diễn. Cũng trong tháng Tư này, trong một liên hoan phim Việt ở Cali có mấy phim của bạn tôi làm, có cả một phim tôi là người viết kịch bản nhưng tôi bỗng nhiên thấy có nhu cầu được một mình.

Những câu thơ thời chiến của anh Nguyễn Bắc Sơn, một người bạn lớn, chợt vang lên, gần gũi hơn.

Một ngày chủ nhật phơi giày trận 
Ta bỗng tìm ra một vết thương 
Vết thương bàng bạc như là khói 
Ngưng đọng nhà ai ở cuối đường

(trích "Căn bệnh thời chiến" - thơ Nguyễn Bắc Sơn)

Trong các phim xem trong tháng Tư năm nay, cuốn phim khiến tôi thấy đọng lại trong mình lâu nhất lại là một cuốn phim có quốc tịch Hàn sản xuất năm 2000. Đó là Peppermint CandyKẹo bạc hà, của Lee Chang - Dong. Mở đầu phim, một người đàn ông đã quyết định tự tử ngay trong buổi hội ngộ bạn bè cùng lứa với tiếng thét lớn: “Tôi muốn về lại ngày cũ”. Sau đó, là năm đoạn hồi ức lại những giai đoạn quan trọng trong cuộc đời anh ta theo thứ tự lùi dần. Anh ta từng tự tử thất bại, đã phá sản, đã thăm lại người phụ nữ đầu tiên anh yêu đang hôn mê, đã từng ngoại tình và từng bị vợ ngoại tình, đã thất nghiệp, từng là công an, tra tấn người một cách man rợ đến phọt phân đầy cả tay, đã phụ tình, đã từng tham gia chiến dịch đàn áp các sinh viên chống đối và lỡ tay giết người vô tội. Đoạn hồi ức cuối, cũng là buổi picnic với nhóm bạn bè đầu phim, nhưng khuôn mặt ai cũng trong vắt đầy mơ mộng, nơi anh gặp mối tình đầu của mình. Những giai đoạn anh nhớ lại, cũng là những cái mốc đáng nhớ trong khoảng 1980 đến 2000 của Hàn Quốc. Ngoài việc viết kịch bản, viết truyện, đạo diễn phim, Lee Chang-Dong còn có lúc làm bộ trưởng Văn hóa và du lịch của Hàn Quốc vào năm 2003-2004. Chẳng biết những việc làm này có khiến trong Lee Chang-Dong có nhiều nhân cách và thái độ sống khác nhau không.

Tôi nghĩ đến điều này khi được xem Heart and Mind, phim tài liệu khác về chiến tranh Việt Nam của Peter David, sản xuất năm 1974 và đoạt giải Oscar cho phim tài liệu hay nhất vào năm 1975. Đoạn mở đầu phim ghi phía Tây Bắc Sài Gòn với bản nhạc Quảng Bình quê ta ơi cho ta hiểu vùng đất đó cũng như cả cuốn phim nghiêng hẳn về những người chống chiến tranh. Có nhiều đoạn trong phim ấy tôi không thích và đâm ra nghi ngờ tính chân thật của nó.Ví dụ như đoạn quay cô gái điếm cận kề anh lính Mỹ, với lời thúc giục nhau và tiếng bỡn cợt của khách chơi hoa: “If my chick at home could see us now…”- nếu ghệ tao ở nhà mà thấy được mình lúc này…”, tôi không thích một số người Việt trong phim bị chưng ra với những hình ảnh gần với một giống dân man ri, tôi không thích một số hình ảnh về miền Nam như là chỉ biết có làm tiền dù cuốn phim cố khá khách quan khi đưa ra cái chết của cả hai vùng Nam và Bắc Việt. Ta có thể gặp ở phim này nhiều hình ảnh ta vẫn gặp đâu đó như hình ảnh Phan Thị Kim Phúc bị bom napalm. Tôi khá bất ngờ khi nghe Diễm Châu, chủ bút tạp chí Trình bày, một người tôi khá thân phát biểu trong phim ấy bởi khi tôi gặp ông, rõ ràng chính kiến của ông đã xoay chiều. Cô Phúc giờ định cư tại Canada, thỉnh thoảng có về Việt Nam làm từ thiện. Thi sĩ Diễm Châu nay đã mất. Từ các trường hợp này, tôi tự hỏi đã có bao nhiêu người, ta tưởng là đã biết hóa ra vẫn còn những góc khuất khác mà ta chưa thể chạm nổi.

Trong những ngày tháng Tư năm nay, tôi lại nhớ một bài tạp văn sau 1975, khi đứng trước hố bom B52, Lý Lan đã có nhiều ngẫm ngợi về nó, tôi thì liên tưởng những hố bom chia cắt trong lòng người, và tự tiên đoán ít gì cũng phải năm mươi năm sau chiến tranh, ta mới có thể sang bằng phần nào những hố bom tinh thần ấy. Tính đến nay, vậy là còn mười năm nữa. Chẳng biết lúa ấy tôi còn sống và có còn nhớ những chuyện không nên quên chăng. Trong lúc chờ đến ngày ấy, tôi tạm ghi chép cho mình. Và đây là trang đầu tiên của những ghi chép mà tôi tạm đặt tên nó là Núi Ngọc.

Một.

@Một ngày cuối năm của một năm còn nằm ở thế kỷ 20, M cùng một cô bạn đi thăm ông Nguyễn 1 đang nằm ở bịnh viện VX tại HN. Ông Nguyễn 1 là một người nổi tiếng của miền Bắc. Khi M ngồi ghi lại những dòng này, ông đã mất. Gần đây báo chí có nhắc tới tên ông trong một việc có liên quan một bài viết của ông được đưa vào sách giáo khoa. Nhiều người trẻ không biết tên ông. Còn những người lớn hơn M một chút thì biết chuyện ông đã từng bị đưa vào một cuốn tiểu thuyết như một ví dụ về mặt trái của thần tượng. Trong số những bài do ông viết và người khác viết về ông, M không thấy nhắc đến câu chuyện ông đã kể cho nghe ở bịnh viện.

Lúc ấy, trong phòng có bốn người. Người thứ tư là người bạn tình hiện tai của ông. Bà có là vợ của ông hay không, M không biết. Ông Nguyễn 1 kể:

“Ở thời điểm 30.4.1975, tôi đang ở một vùng quê của miền Nam. Súng bấy giờ đã tạm ngưng, nhưng không phải hoàn toàn không còn cảnh người giết người hay tự sát. Khi chúng tôi tiến vào một làng, một bà mẹ miền Nam dùng thân che một miệng hầm mà trong đó có con trai của bà đang ẩn nấp. Bà muốn đỡ đạn cho con. Chẳng mẹ nào muốn con mình bị chết. Nhất là chết ở thời điểm cả nước vừa được chính thức chạm tới cái ngưỡng của hòa bình sau một cuộc chiến kéo dài hơn hai mươi năm, tốn biết bao nhiêu là xương máu Việt. Hình ảnh ấy đập vào mặt tôi tạo một chấn động lớn khiến tôi mất sạch trí nhớ. Tôi chẳng còn nhớ mình là ai, mình nên làm gì và sẽ đi về đâu. Chỉ nhớ mang máng là nhà mình nằm đâu đó ở hướng Bắc. Thế là một mình, không giấy tờ tùy thân, tôi cứ chọn lối nhỏ, nhắm hướng Bắc mà đi. Có lúc đi bộ, có lúc đi xe với sự giúp đỡ của nhiều người, không phải trình báo mình là ai - vì mình có còn biết mình là ai đâu - với mấy đồng tiền trong túi. Cuối cùng, về đến Hà Nội, nhờ thói quen, tối biết đường về nhà. Rồi dần dà, trí nhớ mới hồi phục lại”.

Ông Nguyễn 1 là một người M không thân. Tại sao lúc ấy ông lại kể? Tạm cho là ông kể vì cô bạn Hà Nội kia. Nhưng họ đã gặp nhau biết bao lần, sao giờ phút ấy ông mới cho nghe. M cho rằng có lẽ vì sự xuất hiện của M, một đứa từ Sài Gòn ra; và có lẽ trong giây phút ấy, ông M đã cảm nhận được cái chết đã rất cận kề.

Tháng 4.2015 này, đột nhiên câu chuyện của ông cứ lởn vởn trong trí của M. M tự hỏi mình, phải chăng cái chết cũng không còn cách mình bao xa. Bạn có thể diễn dịch hiện tượng mất trí nhớ của ông Nguyễn 1 lúc ấy như thế nào? Có phải ánh nhìn bà mẹ như chiếc gương soi, mà ông ấy chợt thấy mình là hình ảnh của Thần Chết? Và tại sao khi quyết định ghi chép lại quá khứ của mình, giữa bao trùng trùng quên nhớ, M lại chọn câu chuyện này để mở đầu?

Đó là ghi chép của tôi. Còn bạn? Tôi mong là mỗi người cùng thời tôi, trước và sau tôi, những nhân chứng thời đại, nên ghi lại những cảm nhận và ký ức của mình. Nhớ là khi ghi, đừng bận tâm chuyện in và duyệt, lợi và danh… Lúc ghép lại những mẩu này, có thể bạn sẽ thấy một hình ảnh nào đó, đôi khi nghịch hẳn với chính mình. Và tôi tin, Việt Nam, những thế hệ sau này, rất cần những cuốn phim, những chân dung pha trộn giữa ngụy và chân như vậy.

Nguyễn Thị Minh Ngọc

bài viết liên quan
TAGS
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm
bài viết cùng chuyên mục
Xem nhiều nhất

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.