Trương Trọng Nghĩa: Chuyện trong những chuyến về rừng

 13:15 | Thứ hai, 15/02/2021  0
Thỉnh thoảng dịp cuối năm, chúng tôi, những cựu cán bộ, nhân viên Báo Giải Phóng, rủ nhau về thăm căn cứ cũ, địa bàn thời kháng chiến của Trung ương Cục miền Nam, còn gọi là R hay là Miền. Mỗi năm, số người tham gia ít dần đi: 70, 60, 50, và năm nay chỉ còn gần 40. Nhiều người đã qua đời, số khác còn sống nhưng già yếu, bệnh tật. Một số bận bịu chuyện nhà cửa, con cháu. Và cũng có người không còn quan tâm nữa. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, chúng tôi đi tìm gì trong những chuyến hành hương ấy?

Những ngày xưa thân ái… 

Nhiều năm qua, do công việc, tôi có dịp gặp gỡ khách quốc tế từ nhiều châu lục. Có người từng là cựu binh trong chiến tranh, cũng có người từng phản đối Mỹ, ủng hộ cuộc kháng chiến của Việt Nam. Hầu hết đều muốn tìm hiểu sâu về cuộc kháng chiến, để trả lời câu hỏi: vì sao bên yếu hơn về vật chất lại chiến thắng? Họ đã nghe, xem, biết khá nhiều về bộ đội, về các chiến dịch, các trận đánh, nhưng rất lơ mơ về những hoạt động dân sự trong kháng chiến.

LS. Trương Trong Nghĩa.

Họ muốn biết, giữa những khu rừng già nguyên sinh ấy, không điện, không đường giao thông, không phương tiện cơ giới, không dân cư, làng xóm, ăn uống thiếu đói và sốt rét triền miên, thường xuyên phải dời cứ vì bị ném bom, càn quét, những cán bộ dân chính - những người mà cầm súng là công việc “tay trái”, thậm chí có người cả đời chưa biết bắn súng  - đã sống và làm việc như thế nào để in và phát hành hàng triệu tờ báo, vận hành đài phát thanh và thông tấn xã bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài, sáng tác văn chương, âm nhạc và hội họa, biểu diễn nghệ thuật, sản xuất phim ảnh, hoạt động giáo dục, y tế…? Từ chiến khu, các nhóm phóng viên báo chí, cán bộ tuyên truyền, nhà văn, nhạc sỹ, văn công, điện ảnh tỏa ra, bám sát các đơn vị bộ đội đang tham gia chiến dịch, các tổ chức cách mạng đang bắt rễ trong nhân dân ở khắp nông thôn, thành thị miền Nam.

Từ những năm 1960 trở đi, ngoài số cán bộ tại chỗ, cán bộ miền Nam tập kết trở về hay miền Bắc chi viện ngày càng đông. Hàng ngày, dưới những tán rừng cổ thụ, các hoạt động dân sự của chiến khu diễn ra với tính chuyên nghiệp và đẳng cấp cao. Văn công có những diễn viên múa tốt nghiệp từ Nga, các ca sĩ, nhạc công tốt nghiệp Nhạc viện Hà Nội. Báo chí, văn nghệ, điện ảnh, hội họa có nhiều người được đào tạo chính quy, cả những tên tuổi lớn của đất nước. Giáo dục, y tế cũng đều có các chuyên gia cao cấp.

Trong cơ quan “nói mấy thứ tiếng”, Hà Nội, Sài Gòn, Nghệ An, Huế, miền Tây, miền Đông, nhiều khi không hiểu nhau, hiểu nhầm hoặc trêu nhau vì phương ngữ hay ngữ điệu. Điều gì đã khiến cho những con người vốn không quen biết, từ nhiều vùng miền khác nhau, khác biệt về hoàn cảnh gia đình, về xuất thân và nghề nghiệp, về tuổi tác và giới tính, gắn kết thành một tập thể cùng sống, chết, cùng chia sẻ vận mệnh với nhau trong nhiều năm ròng giữa thiên nhiên hoang dã như thế?

Ở Báo Giải Phóng, nhân viên cơ quan từ trẻ đến già đều bình đẳng về quyền lợi: khẩu phần ăn hàng ngày, tiêu chuẩn vải may quần áo hàng năm, dầu thắp đèn hàng tháng đều như nhau, chỉ có tiền phụ cấp tháng là theo cấp bậc, mà cũng không chênh lệch mấy. Phụ cấp không đủ để mua trà, thuốc hút, nên những người ghiền thường xuyên ghi sổ nợ căng tin, còn đường, sữa là loại hàng “xa xỉ”. Toàn cơ quan, kể cả thủ trưởng Kỳ Phương, tổng biên tập báo, năm đó khoảng 40 tuổi, ăn cùng một thứ cơm gạo hẩm xay thô (tự an ủi nhau là có vitamin B1), độn khoai mì, thức ăn là rau luộc chấm với mắm chao (một loại mắm cá mặn và nhũn nát như chao mua rẻ từ những phum sóc Campuchia).

Giờ rảnh, chúng tôi cùng uống một thứ trà, hút một loại thuốc rê, khi hết thì uống và hút “ké” nhau. Nhà văn Thép Mới, thủ trưởng của chúng tôi từ năm 1969, không bao giờ đủ thuốc hút. Ông hay gom tàn thuốc của mình, vấn và hút lại. Nhà báo Thái Duy, mỗi khi quá ngán mắm chao, cơm hẩm, cũng chỉ nướng mấy củ khoai mì ăn qua bữa. Thỉnh thoảng, có người săn hay bẫy được con thú nhỏ nào thì chia nhau trong những bữa ăn chung, không ai dành phần riêng, phần nhiều.

Mỗi tối Thứ bảy, mọi người họp mặt ở hội trường, nghe thủ trưởng thông tin thời sự, rồi cùng nhau hát mấy bài tập thể. Sau đó có mục hát cá nhân, người hát trước có quyền “bố” (chỉ định) người hát tiếp theo, không ai được từ chối. Không hát được thì có thể bắt chước gà, gáy “ò, ó, o” hai, ba lần mới được xuống, bởi có quy định “đến đây không hát thì hò; không phải con cò ngóng cổ mà nghe”. Thủ trưởng Kỳ Phương có vài lần bị “bố”, ông hay hát một bài tiếng Trung Quốc mà tôi không nhớ tên, và một bài tiếng Nga là Những người lái thuyền trên sông Volga. Sau đó, mỗi người được ăn một chén chè để “bồi dưỡng”, vì đường cát khi đó rất hiếm.

Mỗi bữa cơm, năm hay sáu người một mâm, chén ai nấy rửa, nhưng người ăn sau cùng thì phải mang tô dĩa chung của mâm ra rửa ở giếng nước. Quy tắc này áp dụng chung cho mọi người, dù lớn hay nhỏ. Tôi nhớ mãi hình ảnh nhà báo Lê Phan, quê Quảng Nam, cán bộ tập kết về, một người hồn hậu, rộng lượng. Chú ăn rất chậm, chắc để tránh đau dạ dày, nên thường xuyên phải rửa tô dĩa. 

Có một chuyện vui về sự bình đẳng trong chiến khu. Cận vệ của thủ trưởng Kỳ Phương là anh A., 16 tuổi, quê Củ Chi. Là tổng biên tập, lại thường xuyên thức đêm viết, duyệt bài, chú có tiêu chuẩn hàng tháng mấy hộp sữa và một ít cà phê. Mỗi lần pha, chú một ly, A. cũng được một ly. Một hôm, nhà thơ Lê Giang đến thăm, chú bảo A. pha cà phê sữa đãi khách.

A. tần ngần rồi báo cáo: “Thưa chú, cà phê thì còn, nhưng sữa chỉ còn đủ cho ly của chú và ly của cháu”.

Xã hội giữa rừng sâu 

Nhưng công việc thì không bình đẳng, tùy chuyên môn, trình độ, sức lực mỗi người. Nhỏ tuổi thì chỉ phải làm những việc nhẹ như hái lá trung quân rồi chầm lại thành những tấm lợp; phụ nhà in rã các băng chữ chì và xếp lại theo thứ tự a,b,c; nếu chữ nghĩa lanh lợi một chút thì chép tin đọc chậm, giữ thư viện hay đánh máy. Văn công giải phóng có đội múa rối phần đông là thiếu nhi 12, 13 tuổi do nhạc sĩ Phan Chí Thanh phụ trách, hay đi biểu diễn cho dân hay cho bộ đội xem. 14, 15 tuổi trở lên thì làm giao liên, đi tải gạo, đào hầm, cáng thương, vận chuyển vũ khí tiếp tế cho chiến trường... Người già, yếu, bệnh thì tất nhiên được miễn, giảm.

Trong những trận B52 ném bom xuống căn cứ, cả cơ quan chịu bom đạn như nhau trong những chiếc hầm giống nhau, và chịu đựng cùng một xác suất thương vong hay sống sót. Nói chuyện đạn bom, tôi vẫn nhớ một kỷ niệm ở cơ quan Trí vận Mặt trận T4. Máy bay Skyraider ném bom gần cơ quan. Mọi người đều xuống hầm, nhưng bác Tám Chí (Huỳnh Tấn Phát), lãnh đạo cao nhất của cơ quan, cứ ở gần cửa hầm, thỉnh thoảng ngớt bom lại thò đầu lên quan sát. Mọi người lo lắng cho ông, phê bình “chú Tám chủ quan quá”, ông chỉ cười hiền hậu. 

Chẳng hiểu sao, đời sống chiến khu khi ấy rất “dân chủ” và “pháp trị”, dù không ban hành quy định, chỉ thị hay pháp luật gì cả. Mỗi buổi chiều, hay hàng tuần, hàng tháng có cuộc họp, để mỗi người tự kiểm điểm, đánh giá mình trong ngày, trong tuần, trong tháng. Tôi nhớ các nội dung kiểm điểm là: lao động, kỷ luật, đoàn kết, cảnh giác. Từng người kiểm điểm, người khác thấy gì thì bổ sung, góp ý. Cuối cùng là mục “linh tinh đề nghị”, ai muốn đề xuất, kiến nghị gì thì cứ nói. Cơ quan có tờ báo tường, ai muốn viết gì thì cứ viết, làm thơ, viết văn cũng được, và tự dán lên. Cán bộ kháng chiến không phải thần thánh, nên có người, có lúc cũng không thoát khỏi tham, sân, si, vi phạm kỷ luật hay đạo đức.

Người vi phạm phải bị kiểm điểm trong tập thể, thậm chí trước toàn cơ quan, sau đó chịu trừng phạt; nhẹ thì phê bình, cảnh cáo, nặng hơn thì giáng cấp, khai trừ Đoàn, Đảng. Có người vì ghen tuông, bắn chết người yêu, bị xử tù mấy năm. Có người đào ngũ vì lý do cá nhân, bị bắt lại, nhưng xét thấy không phải là theo địch nên sau khi nhận hình thức kỷ luật vẫn được tiếp tục ở lại cơ quan, sinh hoạt bình thường. Mỗi khi có đợt học nghị quyết mới, mọi người đều phải chỉnh huấn, nghĩa là tự phê bình và nghe phê bình mình. Ý kiến có đúng, có sai, nhưng sau đó cứ lao vào công việc, chẳng ai “ghim gút” nhau làm gì, vì biết rằng ngày mai, tháng sau, năm tới sẽ chẳng còn đủ mặt như hôm nay! 

Thỉnh thoảng, để bổ sung nhân lực, cơ quan cử người về các vùng dân cư “tuyển tân binh”. Đó là những mái đầu xanh, lần đầu “thoát ly gia đình”, nhỏ thì 12, 13, lớn hơn thì 17, 18, lớn hơn nữa thì ngoài 20. Quê thì Bến Tre, Long An, Tây Ninh, Nha Trang, Quảng Nam, tất nhiên cả Sài Gòn, Huế và Phnom Penh. Tùy hoàn cảnh, có người vừa hết cấp 1, có người đã xong tú tài, thạo tiếng Anh, tiếng Pháp, cũng có người chưa biết chữ; có người ở nhà là “cậu ấm, cô chiêu”, có người đã từng là thợ mộc, thợ nề, từng làm ruộng, làm rẫy.

Hồi đó thấy bình thường, giờ nghĩ lại, không khỏi xúc động vì sự thật này: phải tin tưởng lắm vào cách mạng, vào kháng chiến, thì các bậc cha mẹ mới cho con em mình, những thiếu nữ vừa độ trăng tròn, những thiếu niên mới “nhổ giò”, “bể tiếng”, bỏ học hành, xa tổ ấm của mẹ cha hàng trăm cây số, vào rừng sâu, núi thẳm, sống chung hàng ngày, hàng tháng, hàng năm dưới sự lãnh đạo và mệnh lệnh của những người xa lạ, chịu đựng đói khát, bệnh tật, đạn bom, lao động vất vả, và có lúc phải cầm súng chiến đấu.

Và đại đa số những người cộng sản hồi đó phải là những người trong sáng, mẫu mực trong đời sống, dũng cảm, tiên phong trong đấu tranh, biết cách tổ chức một “xã hội chiến khu” có văn hóa, có kỷ luật, có tính nhân văn, có tình nghĩa, tạo được niềm tin đối với nhân dân. Bởi không ai bị bắt buộc phải cho con “thoát ly gia đình” đi vào chiến khu, chỉ có tin tưởng sâu sắc vào chính nghĩa của sự nghiệp, vào sự lương thiện của cán bộ kháng chiến thì những người dân các vùng nông thôn, thành thị miền Nam mới chịu rứt những “núm ruột” của mình hiến dâng - vâng, phải gọi là hiến dâng - cho cách mạng như thế!

Và những câu chuyện thời nay

Trong những chuyến hành hương về rừng, sau những kỷ niệm xưa được nhắc nhớ là bao nhiêu câu chuyện thời nay. Chuyện về mấy đồng đội cũ, nhờ chức vụ nên giàu lên, nhiều nhà đất, con đi học nước ngoài; người kia thất học nên làm bảo vệ, giờ về hưu, lương thấp, không nuôi được vợ con. Chuyện về những anh X, anh V, “hồi đó, tao dẫn nó tham gia cách mạng, kết nạp nó vào Đoàn, giờ làm lớn, thấy tao không thèm chào; đến cơ quan nó không thèm tiếp, có chuyện nhờ nó không giúp”. Chuyện về những anh Y, anh Z, hồi trước hoạt động chung, nhờ “có số làm quan”, có người đỡ đầu, sau giải phóng cứ thế phất lên, vào trung ương, giờ lại nổi tiếng “tham quan”, không hiểu sao lại chưa bị xử lý!

Tại lễ khánh thành bia kỷ niệm Báo Giải Phóng (Lò Gò, Xa Mát - Tây Ninh, 2018), từ phải: ông Trương Hòa Bình (Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng) và phu nhân; ông Trần Lưu Quang (Ủy viên Trung ương Đảng, hiện là Phó Bí thư Thường trực Thành ủy TP.HCM); ông Nguyễn Văn Nên (hiện là Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy TP.HCM); ông Hồng Thanh Quang (nguyên Tổng biên tập Báo Đại Đoàn Kết); ông Võ Văn Phuông (Phó trưởng ban Tuyên giáo Trung ương). Ảnh: Thế Thanh 

Chuyện về tham nhũng khắp nơi, từ việc nhỏ đến việc lớn đều phải chung chi, lo lót. Chuyện cán bộ địa phương chèn ép, chiếm đất của dân, kể cả những người diện chính sách. Chị B. bực dọc: “Mẹ nó, hồi xưa mà cán bộ như vậy thì làm sao dân ủng hộ, làm sao thắng Mỹ? Bây giờ mà kháng chiến chống xâm lược với những cán bộ biến chất như vậy thì liệu dân có còn theo không?”. Anh H. than thở: “Đạo đức xã hội xuống cấp, ở nhà chưa chắc an toàn, nói gì ra đường. Lương hưu thấp, con cái cũng không khá giả, lo cho chúng nó không xong, mình có ốm đau, già yếu chắc vào nhà dưỡng lão!”

Giữa làn khói hương nghi ngút, bên những dĩa trái cây, hộp bánh, chung rượu, ly trà tưởng nhớ những đồng đội đã ngã xuống, từng đàn bướm tụ về, lượn quanh những tấm bia, những tượng đài kỷ niệm của báo Giải Phóng và các cơ quan của Ban Tuyên huấn Trung ương Cục, nơi diễn ra trận càn Junction City ác liệt, kéo dài 3 tháng kể từ mùng một Tết Đinh Mùi 1967, một chiến dịch lớn nhất ở Việt Nam đi vào quân sử của Hoa Kỳ với nhận xét: không đạt mục tiêu đề ra. Vài người chỉ vào đàn bướm thì thào “anh chị em mình về đấy”, và trên nét mặt hầu như ai cũng tin như vậy!

Câu chuyện chuyển dần sang những vụ đại án đã, đang và sẽ diễn ra. Những người từng cống hiến trọn sức trẻ và tuổi xuân từ những ngày kháng chiến còn trứng nước giờ đây không giấu nhau sự thất vọng và bực bội. Họ thậm chí phẫn nộ trước sự hoành hành của những kẻ làm giàu bất chính; những kẻ đang lạm dụng những vị trí công quyền để trục lợi, chạy bằng cấp, chạy chức vụ, chạy bầu cử, trắng trợn ưu ái người nhà hay phe phái; những băng nhóm có tổ chức dựa vào những đồng tiền phi nghĩa và thế lực bất công ấy để gây tội ác, chèn ép, trấn áp những người lương thiện, yếu thế. Họ kể với nhau, cũng là với các chiến hữu đã nằm lại nơi đây mà khi nhắm mắt vẫn tin sẽ có ngày hòa bình, thống nhất, sẽ trở về quê, về với gia đình, và sẽ xây dựng đất nước “to đẹp hơn”, nhưng phải “đàng hoàng hơn”, như Bác Hồ đã nói.

Bực thì nói vậy, nhưng tôi chắc rằng, năm tới, chúng tôi, cũng như hàng ngàn cựu cán bộ kháng chiến từng sống ở R., sẽ lại hùn nhau thuê những chuyến xe về lại Chàng Riệc, Rùm Đuôn, Suối Chò, Suối Mây, Trảng Tà Xia, Trảng Cố Vấn, về thượng nguồn sông Vàm Cỏ Đông với Bến Ra, Sáu Cầu, Lò Gò, Xa Mát, để thắp những nén nhang tình nghĩa cho những đồng đội đã nằm lại trong những cánh rừng xa xôi, lạnh lẽo, nhưng với chúng tôi thì mãi mãi linh thiêng. Về đây để hồi tưởng lại một quãng đời trong sáng, đẹp đẽ và để tiếp tục sống xứng đáng với ký ức ấy.  

Trương Trọng Nghĩa 

*Bài viết đã đăng trên Giai phẩm Người Đô Thị Tết 2021

bài viết liên quan
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.