Từ đại học đến đô thị tri thức: Tầm nhìn chiến lược cho Hòa Lạc

 22:56 | Chủ nhật, 25/10/2026  0
Quy hoạch đô thị đại học Hòa Lạc đang đứng trước nhiều thách thức lớn về hạ tầng giao thông, thể chế quản trị và sự kết nối không gian tri thức. Từ kinh nghiệm quốc tế, các chuyên gia đã đề xuất khung giải pháp toàn diện, hướng tới mục tiêu biến Hòa Lạc thành cực tăng trưởng thông minh và trung tâm tri thức hàng đầu của Thủ đô Hà Nội.

Đây là nội dung được đề cập trong Tọa đàm quốc tế Mô hình lý thuyết và thực tiễn quy hoạch, quản trị đô thị đại học trên thế giới và Việt Nam: Bài học kinh nghiệm và hàm ý cho chiến lược phát triển Khu đô thị đại học Quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc. Sự kiện vừa qua do Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật (ĐHQGHN) tổ chức.

Quy hoạch định hướng phát triển đô thị đại học Hòa Lạc. Ảnh: Tư liệu


Tầm nhìn chuyển đổi của đô thị đại học Hòa Lạc

Quá trình xây dựng Khu đô thị ĐHQGHN tại Hòa Lạc diễn ra trong bối cảnh ĐHQGHN bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu kiến tạo một không gian tri thức có khả năng dẫn dắt sự chuyển đổi mô hình tăng trưởng của Thủ đô. Trong nền kinh tế tri thức hiện đại, đại học phải trở thành chủ thể trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tích hợp giữa giáo dục, nghiên cứu khoa học, phát triển kinh tế và đời sống cộng đồng.

PGS-TS. Nguyễn Văn Hiệu, Hiệu trưởng Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật nhấn mạnh, Hòa Lạc không chỉ đơn thuần là nơi di chuyển các cơ sở đào tạo ra khỏi khu vực nội đô chật hẹp, mà là một không gian tái cấu trúc mô hình đại học nghiên cứu liên ngành, đồng thời kết nối trực tiếp với Khu Công nghệ cao Hòa Lạc và toàn bộ cấu trúc phát triển phía Tây Hà Nội.

Từ góc nhìn quy hoạch và cơ sở pháp lý, ThS-KTS. Lê Hoàng Phương, Giám đốc Trung tâm Kiến trúc, Quy hoạch Hà Nội (Viện Quy hoạch Đô thị và Nông thôn quốc gia, Bộ Xây dựng), chỉ ra thuật ngữ đô thị đại học đã xuất hiện từ sớm trong các báo cáo quy hoạch vùng và nghị quyết của Quốc hội, nhưng đến nay vẫn chưa được pháp lý hóa hoàn toàn và chưa có bộ tiêu chí công nhận cụ thể.

Theo vị chuyên gia, lược khảo quá trình phát triển của ĐHQGHN tại Hòa Lạc qua nhiều lần điều chỉnh: từ mô hình một trường đại học đơn lẻ năm 1998, đến khu đại học tập trung năm 2004, đô thị đại học giai đoạn 2010–2011, đô thị khoa học công nghệ năm 2020 và hiện nay là cực tri thức trong quy hoạch tổng thể Thủ đô.

ThS-KTS. Lê Hoàng Phương trình bày về định hướng quy hoạch đô thị đại học. Ảnh: Đoan Túc


Nhìn nhận về tình hình thực tế hiện nay, GS. Triệu Chí Khánh, Đại học Công nghệ Cáp Nhĩ Tân (Trung Quốc), đánh giá Hòa Lạc đã chính thức chuyển từ giai đoạn xây dựng thuần túy sang giai đoạn song song giữa xây dựng và vận hành đô thị. Trong năm học này, Hòa Lạc đón khoảng 17.000 sinh viên, tăng gấp 2,5 lần so với thời gian trước.

Tuy nhiên, GS. Triệu Chí Khánh cảnh báo, mục tiêu quy mô 80.000 sinh viên vào năm 2035 sẽ vượt công suất thiết kế ban đầu là 65.000 sinh viên, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải chuyển đổi tư duy từ một dự án xây dựng khuôn viên quy mô lớn sang một đô thị tri thức vận hành linh hoạt.

GS. Triệu Chí Khánh trình bày thực tiễn vận hành đô thị đại học.


Nhận diện điểm nghẽn trong quản trị đô thị hiện tại

Dựa trên khung phân tích sự lệch pha giữa quy hoạch xây dựng và chiến lược phát triển, TS-KTS. Vũ Hoài Đức, giảng viên Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, chỉ ra ba tầng điểm nghẽn lớn đang kìm hãm sự bứt phá của Hòa Lạc.

Thứ nhất là điểm nghẽn hạ tầng kết nối và khoảng trễ thời gian. Hạ tầng giao thông kết nối hoàn thành chậm hơn rất nhiều so với nhu cầu sử dụng thực tế của cán bộ và sinh viên. Sinh viên đã lên Hòa Lạc học tập tập trung từ năm 2022, nhưng dự kiến đến năm 2030 các tuyến đường sắt đô thị như metro số 5 và số 8 mới có thể hoàn thành, tạo ra khoảng trễ hạ tầng kéo dài từ bốn đến năm năm. Mặc dù hiện đã có 6 tuyến xe buýt phục vụ khoảng 30.000 lượt khách mỗi ngày, nhưng đây vẫn chỉ là giải pháp mang tính tạm thời.

Thứ hai là điểm nghẽn thể chế phối hợp và quản trị nội bộ. TS. Vũ Hoài Đức cho rằng, mặc dù hầu hết các đơn vị đào tạo trực thuộc đã đưa sinh viên lên Hòa Lạc, nhưng hiện nay vẫn chưa hình thành một cơ quan quản lý đô thị đủ thẩm quyền để điều phối không gian, chia sẻ tài sản công và phát triển các dịch vụ dùng chung. Thực trạng bất cập như diện tích thư viện dùng chung tại nhà HT2 chỉ vỏn vẹn 400 m², hoàn toàn quá tải so với quy mô hàng vạn sinh viên.

Sơ đồ tuyến metro số 5 của Hà Nội. Ảnh: Tư liệu


Thứ ba là điểm nghẽn hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. TS. Vũ Hoài Đức phân tích, ĐHQGHN và Khu Công nghệ cao Hòa Lạc nằm ngay cạnh nhau về mặt địa lý nhưng chưa hình thành được vùng chồng lấn hay cơ chế hợp tác liên kết ổn định. Các dự án hạ tầng dữ liệu và công nghệ lớn của các tập đoàn hiện vẫn vận hành theo logic đầu tư riêng lẻ của từng đơn vị. Do đó, các dự án này hoàn toàn thiếu sự tích hợp trong một quy hoạch không gian ngầm và mạng lưới đổi mới sáng tạo chung.

Về điểm nghẽn hạ tầng kết nối, GS. Triệu Chí Khánh bổ sung, do diện tích đất lên tới hơn 1.113 ha nhưng các cụm công trình lại nằm cách xa nhau, gánh nặng đi lại nội bộ của sinh viên là rất lớn. Dù nhà trường đã triển khai các tuyến xe điện nội khu và xây dựng cầu hoa kết nối rút ngắn khoảng cách giữa các khu giảng đường, các giải pháp này vẫn chưa thể giải quyết triệt để sự thiếu hụt kết nối không gian.

Trong khi đó, ThS. Lê Hoàng Phương đồng tình khi nhận định rằng, công tác quản trị đô thị đại học tại Hòa Lạc đang chịu áp lực từ sự cộng hưởng giữa các tồn tại của ngành giáo dục đại học và bất cập trong phát triển đô thị. Việc đặt ra khát vọng phát triển quá cao so với năng lực thực thi và nguồn lực vận hành thực tế cũng là một rào cản lớn.

Tổ hợp HT1 – HT2 nằm trong khu đô thị ĐHQGHN. Ảnh: Minh Tuấn

Bản vẽ khu đô thị ĐHQG TP.HCM. Ảnh: Tư liệu


Bài học kinh nghiệm từ mô hình phát triển của Trung Quốc

Về quy hoạch không gian linh hoạt, GS. Triệu Chí Khánh so sánh hai mô hình điển hình tại Thâm Quyến (Quảng Đông). Mô hình thứ nhất là đô thị đại học dùng chung, nơi chính quyền xây dựng tập trung các công trình công cộng lớn như thư viện khoa học và trung tâm thể thao để nhiều trường đại học cùng sử dụng. Mô hình này mang lại hiệu ứng quy mô nhưng bộc lộ hạn chế về chi phí khoảng cách và sự phức tạp trong quản trị.

Mô hình thứ hai là Đại học Khoa học và Công nghệ Phương Nam, phát triển theo cấu trúc cộng đồng ngành học nhỏ gọn với bán kính đi bộ ngắn kết hợp giảng dạy, nghiên cứu và ký túc xá.

GS. Triệu Chí Khánh đúc kết, quy hoạch linh hoạt thực sự không phải là chừa lại nhiều đất trống, mà là năng lực của cấu trúc không gian trong việc hấp thụ các thay đổi về ngành học và quy mô mà không phá vỡ khung tổng thể. Quy hoạch phải chuyển từ bản đồ tĩnh chốt một lần sang cấu trúc tiến hóa động.

Mô hình đô thị đại học tại Đại học Thâm Quyến (Trung Quốc). Ảnh: Tư liệu

Đại học Giao thông Thượng Hải (Trung Quốc). Ảnh: Tư liệu


Về chuyển đổi mô hình thể chế, TS. Trần Trí Kiệt, Viện Nghiên cứu và Thiết kế quy hoạch đô thị Đồng Tế Thượng Hải, đã chia sẻ bài học thực tiễn từ quận Dương Phố tại Thượng Hải. Theo đó, địa phương này đã chuyển đổi thành công từ một vành đai công nghiệp suy thoái thành đô thị tri thức nhờ mô hình tích hợp ba khu gồm khuôn viên đại học, khu công nghiệp và khu dân cư.

Bản chất của quy hoạch tích hợp ba khu thực chất là một thiết kế thể chế, trong đó không gian đô thị đóng vai trò làm công cụ thực thi. Đột phá này xuất phát từ logic “ba sẵn sàng” của chính quyền địa phương: sẵn sàng dành quỹ đất vị trí tốt nhất xung quanh các trường đại học để hỗ trợ mở rộng cơ sở; sẵn sàng hy sinh các dự án bất động sản thương mại thu lợi ngắn hạn để ưu tiên xây dựng công viên khoa học công nghệ đại học; và sẵn sàng bố trí nguồn lực đầu tư nhằm cải thiện môi trường khởi nghiệp.  

Khuôn viên Hòa Lạc được xây dựng theo mô hình tích hợp: trung tâm nghiên cứu chuyển giao công nghệ; trung tâm đổi mới sáng tạo; trung tâm thử nghiệm hợp tác công tư và đào tạo nghiên cứu. Ảnh: Tư liệu


Để triển khai thành công các giải pháp trên, TS. Vũ Hoài Đức kiến nghị Chính phủ xem xét thành lập đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt hoặc áp dụng cơ chế đặc khu cho Hòa Lạc. Lộ trình thực thi được phân kỳ thành ba giai đoạn rõ ràng. Theo đó, giai đoạn 2026–2027 tập trung rà soát vận hành, hoàn thiện hạ tầng dịch vụ thiết yếu, lập quy hoạch chi tiết không gian ngầm và thành lập đơn vị quản lý đô thị chuyên trách.

Giai đoạn 2027–2029 tiến hành thí điểm cơ chế đặc khu nhân tài, hình thành Vùng Đổi mới Sáng tạo và khởi công các dự án hạ tầng ngầm. Giai đoạn 2029–2030 và tầm nhìn sau 2030 sẽ hoàn thiện việc kết nối đường sắt đô thị, đưa vào vận hành các trung tâm dữ liệu ngầm và hoàn thiện đô thị tri thức Hòa Lạc trở thành cực tăng trưởng hiện đại của Thủ đô.

Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết, năm học 2026-2027 có 17.166 sinh viên sẽ học tập tại Hòa Lạc. Ảnh: Cafef/Nhịp sống thị trường


Với hệ thống giải pháp chiến lược đồng bộ và những bài học kinh nghiệm quốc tế, Hòa Lạc có cơ sở để từng bước tháo gỡ các điểm nghẽn hiện tại, hướng tới trở thành đô thị đại học thông minh, hạt nhân tri thức và cực tăng trưởng mới của Thủ đô.

Đoan Túc

bài viết liên quan
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm
Cùng chuyên mục
Xem nhiều nhất

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.