Trong sự kiện đó, thử nhìn vào bối cảnh thực tế. Hiện cả nước có 52 nhà xuất bản hoạt động trong vai trò kiểm soát nội dung, cấp giấy phép in - phát hành nhưng chỉ một phần trong số đó đủ năng lực tự tạo ra sản phẩm và kinh doanh xuất bản. Đa số hoạt động chính là cấp phép liên kết xuất bản theo trách nhiệm quản lý và thực hiện các sách được phân công, chỉ định, tham gia các dự án xuất bản theo nhiệm vụ chính trị.
Bên cạnh bộ máy chịu trách nhiệm pháp lý là các nhà xuất bản, thì góp phần làm nên diện mạo sống động của thị trường hiện tại là hàng trăm công ty tư nhân đầu tư vào thị trường sách theo cơ chế liên kết mà Luật Xuất bản (hiệu lực từ 1.7.2005) quy định. Sách do các công ty tư nhân này đang chiếm khoảng 70% sản phẩm sách toàn ngành.
Đây là con số cho thấy cơ chế xã hội hóa trong lĩnh vực đầu tư xuất bản với sự hiện diện công khai của các doanh nghiệp, thương hiệu tư nhân sau hai thập kỷ đã tạo ra một diện mạo khác biệt hoàn toàn so với trước đó - thời kỳ bao cấp và mới mở cửa, thân phận người làm sách tư nhân chỉ là những “đầu nậu”. “Đầu nậu”, cách nói không được tích cực và minh bạch lắm, nhưng khá phổ biến một thời để chỉ các ông chủ nhà sách vừa gom sách về phát hành lại vừa mon men tìm các “con đường” phi công khai thiết lập quan hệ với các nhà xuất bản để tự in sách, văn hóa phẩm khi luật chưa có con đường “thẳng thớm” cho họ.

Hội sách Frankfurt (Đức) năm 2025.
Giờ đây, 70% lượng sách trên thị trường do các bộ máy xuất bản của doanh nghiệp tư nhân thực hiện cũng cho thấy thực tế đời sống xuất bản Việt Nam đang vận hành theo xu hướng “linh hoạt” trong khuôn khổ pháp luật hiện tại: vừa tiệm cận với cơ chế thị trường vừa đảm bảo chủ trương quản lý của nhà nước trong lĩnh vực này. Qua 21 năm huy động nguồn lực xã hội hóa, ngành xuất bản đã kịp hình thành một trật tự khá cân bằng, ở đó nhà xuất bản vẫn chịu trách nhiệm về pháp lý, quản lý theo chủ trương và đồng thời có thể tự tham gia thị trường, nhưng cũng huy động được nguồn lực xã hội hóa mạnh dạn đầu tư kiếm tìm nội dung, bản quyền, tổ chức bộ máy chuyên môn chuyên nghiệp để mang đến cho thị trường sách sự đa dạng, phong phú, nhạy bén, mở kênh kết nối với thị trường xuất bản quốc tế.
Mô hình trên cũng là điều kiện tạo nên các thương hiệu xuất bản tư nhân uy tín, không chỉ đóng góp vào thị trường, mà còn góp phần phát triển dân trí, cung cấp những đại diện sáng giá cho hình ảnh nền xuất bản năng động, hiện đại Việt Nam trên bản đồ xuất bản quốc tế. Rất dễ nhận thấy điều này khi tham dự các hội sách quốc tế như Frankfurt (Đức), Bologna (Ý), Livre Paris (Pháp) hay SIBF (Hàn Quốc)...
Ở đó, những gương mặt quen thuộc của ngành xuất bản Việt Nam trong các phiên giao dịch bản quyền, giao lưu đối tác, trao đổi chuyên môn... không phải là cán bộ của các nhà xuất bản, quan chức cơ quan quản lý xuất bản mà phần lớn, chính là các chuyên viên bản quyền, phát hành của những công ty xuất bản, phân phối sách tư nhân. Bằng lực thôi thúc tự nhiên của thị trường kinh doanh, họ trở thành những người tiên phong mang hình ảnh nền xuất bản Việt Nam ra ngoài lãnh thổ quốc gia và cập nhật những giá trị của xuất bản thế giới cho thị trường trong nước.
Tuy nhiên, việc thực hiện mục đích tôn chỉ và vai trò pháp lý của các nhà xuất bản thời gian qua đã xảy ra những sự cố cho thấy các “trục trặc” nằm ở khu vực vận hành quản lý. Quá trình rà soát, cấu trúc toàn ngành được xem là cần thiết xét về mặt quản trị, nhưng điều mà các doanh nghiệp đầu tư vào xuất bản kỳ vọng nhất lúc này chắc chắn là việc rà soát, sửa chữa bộ máy hành chính cần khoanh vùng cụ thể, xử lý tồn tại “trúng đích”, khoa học và thuyết phục để thị trường xuất bản chung không bị “mất nhịp” trong một hoàn cảnh kinh tế đặt ra nhiều thách thức cho người kinh doanh.

Các công ty xuất bản, phân phối sách tư nhân khi tham dự các hội sách quốc tế đã tiên phong mang hình ảnh nền xuất bản Việt Nam ra ngoài lãnh thổ quốc gia và cập nhật những giá trị của xuất bản thế giới cho thị trường trong nước.
Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản (dự kiến hiệu lực từ 1.3.2027) chú trọng vào trách nhiệm quản lý tiền kiểm sang quản lý theo tiêu chuẩn, quản lý hậu kiểm dựa trên hạ tầng dữ liệu số, tổ chức quản lý sách xuất bản theo hình thức xây dựng kế hoạch tổng thể và xác lập nguyên tắc đảm bảo tính chính thống gồm ba lớp thẩm định đối với các “đề tài đặc biệt” (lịch sử cách mạng, chủ quyền, an ninh quốc gia, lãnh tụ và lãnh đạo đất nước qua các thời kỳ, anh hùng dân tộc)... Điều 7 văn bản luật lần này cũng xác định cơ chế “Xây dựng và phát triển các cơ quan xuất bản, truyền thông chủ lực quốc gia và hình thành các tập đoàn xuất bản, truyền thông đa nền tảng, đa sản phẩm”. Đây không phải là hình thức pháp nhân mới, mà là một mô hình tập trung mới trong quản trị nhà nước ở lĩnh vực xuất bản.
Riêng hành lang cơ chế bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư tư nhân trước những rủi ro kinh tế từ phía đối tác quản lý trong một số trường hợp “bất định”, gia tăng điều kiện thuận lợi để gia tăng động lực thị trường trong bối cảnh xuất bản toàn cầu là những kỳ vọng còn chưa cụ thể hóa trên văn bản luật.
Vấn đề đặt ra là trong cấu trúc mới, thành tố tư nhân đầu tư vào thị trường xuất bản chuyển dịch ra sao để có thể thừa kế nền tảng, giá trị mà chủ trương huy động nguồn lực xã hội hóa trong lĩnh vực này đã tạo ra trong suốt hai thập kỷ, tránh gây những “cú sốc cơ học” trong một lĩnh vực bắt rễ mật thiết vào đời sống tinh thần, văn hóa xã hội.
Bài và ảnh: Nguyễn An Nam