Đoàn kết toàn dân như thời Mặt trận Việt Minh

 10:59 | Thứ tư, 18/09/2019  0
Lòng yêu nước và lợi ích dân tộc đã gắn bó mọi người Việt Nam trong một đại gia đình như Mặt trận Việt Minh; đoàn kết muôn người như một như lời ru của mẹ, của bà từ bao đời: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương; người trong một nước phải thương nhau cùng”...

LTS: Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ IX, nhiệm kỳ 2019-2024 dự kiến diễn ra trong 3 ngày (từ 18 đến 20.9), tại Hà Nội với sự tham dự của 1.300 đại biểu, trong đó có 999 đại biểu chính thức. Đại hội lần này cũng sẽ đề ra 5 Chương trình hành động quan trọng, gồm: Tuyên truyền, vận động, tập hợp các tầng lớp Nhân dân; củng cố, tăng cường, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; Vận động Nhân dân thi đua lao động sáng tạo, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh của đất nước... Nhân dịp này, tác giả Thái Duy - một nhà báo lão thành công tác cả đời tại tờ báo của MTTQ Việt Nam - báo Đại Đoàn Kết, đã gửi riêng cho Người Đô Thị bài viết, trong đó nhấn mạnh vai trò quan trọng của đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước. 

Sau hơn 30 năm ra đi tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc về nước đầu tháng 2.1941. Lúc này cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại mới gần 3 tháng, Xứ ủy Nam Kỳ và Thành ủy Sài Gòn - Gia Định bị địch bắt. Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ và các lãnh đạo chủ chốt của Đảng cộng sản Đông Dương cũng bị địch bắt ở ngoại thành Sài Gòn và bị kết án tử hình. Đảng bộ Nam Kỳ bị xóa sổ và Đảng không còn Tổng Bí thư là tổn thất quá lớn mà không đảng viên nào dám nghĩ đến.

Thừa thắng, địch tập trung quân đánh phá Bắc Kỳ, nơi có cơ quan đầu não của Đảng. Đảng phục hồi rất khó vì đoàn kết trong Mặt trận rất hẹp hòi như các đảng viên vẫn nói: “Trí, phú, địa, hào đào tận gốc, trốc tận rễ”, chỉ có giai cấp công nhân và nông dân mới thực sự là ta, còn trong mặt trận, một số thành viên khác chỉ là “bạn đường” hoặc là “đồng minh chiến lược gần hoặc xa”. Còn một số thành phần khác bị cho là bóc lột đều nằm trong diện “đào tận gốc, trốc tận rễ”.

Ngày 22.12.1944 đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập do Đại tướng Võ Nguyên Giáp đứng đầu. Ảnh: TL

Nguyễn Ái Quốc về nước ở tại Pác Bó, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Vùng rừng núi Pác Bó rất kín đáo; đường tiến, đường lùi đều thuận lợi; bên này động có thể tạm lánh sang bên kia biên giới. Từ đây Nguyễn Ái Quốc triệu tập hội nghị Trung ương lần thứ 8, họp tại bản Khuổi Nậm quyết định việc thành lập Mặt trận Việt Minh, cũng tại huyện Hà Quảng, Cao Bằng.

Đại biểu hội nghị rất hạn chế vì đường đến hội nghị không những rất xa, nhiều đoạn đường còn do địch kiểm soát phải đi đêm luồn rừng, phá rừng mà đi. Nam Kỳ không có đại biểu, Trung Kỳ được cử 2 đại biểu, còn lại là đại biểu Bắc Kỳ và Thường vụ Trung ương gồm 3 người: Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ và Hoàng Quốc Việt.  Các đại biểu dự hội nghị, kể cả 2 đại biểu Trung Kỳ gồm hơn 10 người đi cùng một đoàn lên đường sau Tết Tân Tỵ (1941). Lần đầu tiên một hội nghị trung ương họp ở trong nước dưới quyền lãnh đạo trực tiếp của Nguyễn Ái Quốc, lãnh tụ của Đảng, lại họp đúng vào thời gian Đảng bị địch dồn đến khó khăn chưa từng thấy, gượng dậy nổi không phải dễ.

Nguyên Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam Hoàng Quốc Việt đã dành một số trang về hội nghị lịch sử này trong cuốn hồi ký Chặng đường nóng bỏng (Xuân Cang ghi – Nhà xuất bản Lao Động 1985, dưới đây là đoạn trích về diễn biến của hội nghị:

Chỗ họp của chúng tôi ở vùng Pác Bó, Hà Quảng nhưng khác chỗ đồng chí Nguyễn Ái Quốc ở là Hang Pác Bó​​​​​​​ mà sách báo ta thường tả. Khu rừng kín đáo lắm, tôi nhớ nhiều sáng chúng tôi phải ra tận đám ruộng bậc thang cho thoáng để vận động cơ thể và hít thở không khí. Chúng tôi tập thể dục còn “Ông Ké” thì tập “nhu quyền”, động tác khoan thai, mềm mại, đẹp và lạ.          

Một căn nhà sàn nhỏ trong rừng như một cái lán. Ngay trước lán có một cây hoa mạ màu vàng rợi. Trên sàn có một chõng tre dài làm bàn viết, những khúc gỗ làm ghế ngồi. Chính ở chỗ hoang vu, bí hiểm ấy, trong túp lều đơn sơ, trống trải đã là nơi bàn đến những vấn đề thiêng liêng nhất thuộc về vận mệnh của Tổ Quốc, những việc có tầm quan trọng quyết định đối với bước ngoặt của lịch sử nước nhà mấy năm sau đó.

Chúng tối ngồi quây quần quanh ông cụ, những ngày đầu chưa phải ghi chép gì nhiều, mắt mọi người cứ dán vào ông cụ. Mới đầu chúng tôi gọi ông cụ là đồng chí, rồi gọi là cụ, sau thấy anh Trường Chinh và anh Thụ dùng tiếng BÁC hợp với lòng mình quá nên từ đấy chúng tôi bắt đầu thưa với Bác bằng cái tên thân yêu mà bây giờ tất cả anh chị em chúng ta đều gọi.

Ngoài giờ họp, Bác thường gọi từng đại biểu ra một chỗ riêng hỏi chuyện. Tôi được Bác hỏi hai, ba lần. Bác hỏi về đời sống của nhân dân, chính sách áp bức của Nhật, Pháp. Hai anh Xứ ủy Trung Kỳ được Bác gọi riêng nhiều lần. Hội nghị lần này thiếu các đại biểu Xứ ủy Nam Kỳ vì sau khởi nghĩa, quân thù khủng bố gắt gao, nhiều xứ ủy viên bị bắt. Nhưng bù lại có anh Đỗ Anh, Xứ ủy Trung Kỳ vừa có thời gian dài công tác trong Nam ra, biết rõ tình hình trước khi Nam Kỳ khởi nghĩa thất bại.

Bác muốn biết tình hình càng sâu vào phía Nam càng tốt. Có lần Bác trò chuyện với mấy anh em chúng tôi. Bác hỏi kỹ về thái độ các tầng lớp đồng bào đối với cách mạng, người già thế nào; thanh niên, phụ nữ thế nào; thiếu nhi thế nào? Rồi đến địa chủ, tư sản. Địa chủ bóc lột tô, tức nhưng họ có ghét Tây không, có ghét Nhật không? Địa chủ có mấy hạng? Có anh em trẻ hăng hái nói: “Bóc lột là không được”, Bác lại hỏi: “Nhưng họ có giúp cách mạng, vậy họ có yêu nước không?”. Cứ như thế mà hình thành trong chúng tôi tư tưởng chỉ đạo về đường lối mặt trận ngay trong hội nghị. Trong căn nhà bé nhỏ ấy biết bao nhiêu vấn đề được sáng tỏ: Tình hình thế giới, trong nước và nhiệm vụ nóng bỏng giải phóng các dân tộc Đông Dương; đường lối đoàn kết toàn dân và chủ trương về Mặt trận Dân tộc Thống nhất… (Chặng đường nóng bỏng – Xuân Cang ghi – Nhà xuất bản Lao Động năm 1985 - trang 208 - 209)

Nguyễn Ái Quốc kiên trì giải thích tại hội nghị cũng như gặp riêng mỗi đại biểu, rằng mọi người Việt Nam đều yêu nước và đã yêu nước thì đều được tham gia Mặt trận, dù là thành phần bóc lột vì tư sản, địa chủ ở nước ta không những yêu nước mà còn biểu hiện lòng yêu nước ấy bằng việc thường xuyên ủng hộ cách mạng bằng mọi cách.

Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì đất nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn.

Thành viên của Mặt trận Việt Minh bao gồm từ thiếu niên nhi đồng, thanh niên, phụ nữ cho đến lão thành; từ công nhân, nông dân đến trí thức, văn nghệ sĩ; các đảng phái cùng với Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo, tức là bao gồm toàn thể dân tộc. Trong lời giới thiệu bộ sách “Hồ Chí Minh toàn tập” (xuất bản lần thứ hai năm 1994) có đoạn nói đến ý kiến của Hồ Chủ tịch về giai cấp tư sản, xin trích: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Đảng chỉ có thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình nếu biết tập hợp, đoàn kết các tầng lớp nhân dân trong một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi chống kẻ thù chung và xây dựng đất nước”. “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành công, đại thành công” - luận điểm nổi tiếng này của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành tư tưởng chỉ đạo chiến lược lớn xuyên suốt cả quá trình cách mạng Việt Nam.

Người cho rằng “hễ là người Việt Nam thì ai cũng có lòng yêu nước, ghét giặc nên ngày đầu khi thành lập Đảng, Người đã đề ra chủ trương thành lập Hội Phản đế đồng minh, một hình thức mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi chống đế quốc. Góp ý kiến về đường lối, chủ trương của Đảng thời kỳ 1936 -1939, Người đã bổ sung vào tên gọi Mặt trận thành Mặt trận dân tộc, dân chủ rộng rãi không những của nhân dân lao động mà gồm cả giai cấp tư sản dân tộc và nhắc nhở phải tránh hết sức để họ ở ngoài mặt trận. Ngay khi về đến Cao Bằng năm 1941, Người đã cho tổ chức thí điểm các hội quần chúng để rút kinh nghiệm tiến tới thành lập Mặt trận Việt Minh” (Hồ Chí Minh toàn tập - Tập 1, Chương XIV).

Lán Khuổi Nậm ở Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, Cao Bằng, nơi diễn ra Hội nghị Trung ương Đảng cộng sản Đông dương lần thứ VIII (5.1941) quyết định đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và thành lập Mặt trận Việt Minh.Ảnh: Tư liệu BTLSQG

Mọi người Việt Nam làm bất cứ nghề gì, sống trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng có Hội cứu quốc. Doanh nhân, tư sản có Hội Công Thương cứu quốc; binh sĩ trong quân đội thực dân Pháp có Hội Binh sĩ cứ quốc; công chức trong bộ máy cai trị của thực dân có Hội Công chức cứu quốc; Giáo phái Cao Đài có Cao Đài cứu quốc. Các hội cứu quốc, kể cả Phụ nữ Cứu quốc, Thanh niên cứu quốc... đều là thành viên của Mặt trận Việt Minh.

Nguyễn Ái Quốc kể lại với hội nghị Trung ương: những năm hoạt động cách mạng ở Mỹ, Pháp, Anh, Liên Xô, Trung Quốc, bản thân rất tự hào với chủ trương, đường lối dựng nước và giữ nước của ông cha phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của nước ta, không giống với bất cứ nước nào.

Trong lòng dân tộc không có hận thù, không có tầng lớp này chống tầng lớp kia; đã đoàn kết toàn dân thì không có đấu tranh giai cấp; người giác ngộ trước nâng đỡ, dìu dắt người giác ngộ sau; đã là người Việt Nam đều thương yêu, đùm bọc, cưu mang nhau. Lòng yêu nước và lợi ích dân tộc đã gắn bó mọi người Việt Nam trong một đại gia đình như Mặt trận Việt Minh; đoàn kết muôn người như một như lời ru của mẹ, của bà từ bao đời: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương; người trong một nước phải thương nhau cùng”.

Từ những tư tưởng đoàn kết triển khai tại Hội nghị TW8 thành lập Mặt trận Việt Minh mới thêm hiểu sâu xa về bài báo đầu tiên Nguyễn Ái Quốc viết khi về nước đăng trên báo “Việt Nam Độc lập” có đầu đề “Nên học sử ta”. Phải sống ở nước ngoài nhiều năm, lại là mấy nước lớn đã làm nên một số cuộc cách mạng lừng lẫy nổi tiếng thế giới mới thấy sử nước ta dạy cho ta những chuyện vẻ vang của tổ tiên ta thời nào cũng có nhiều người tài giỏi đánh Bắc, dẹp Nam, yên dân, trị nước, tiếng để muôn đời.

Sức mạnh của toàn dân phải tập trung cao độ mới có thể đánh thăng mọi kẻ thù xâm lược mạnh hơn ta gấp bội. Bài học mãi mãi vô giá. Nguyễn Ái Quốc ghi trong bài báo “Nên học sử ta” như sau: Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì đất nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn. Vậy ta phải biết đoàn kết, đoàn kết mau, đoàn kết chắc chắn thêm lên mãi dưới ngọn cờ Việt Minh để đánh đuổi Tây, Nhật khôi phục lại độc lập, tự do”.

Các đại biểu đều mong đoàn kết toàn dân như Mặt trận Việt Minh được thực hiện rộng rãi trên cả nước, chắc chắn ở đâu nhân dân cũng nhiệt liệt ủng hộ. Các đại biểu đều có nhận xét đồng chí Nguyễn Ái Quốc về nước rất đúng lúc, chậm một thời gian nữa thôi, chưa rõ cách mạng Việt Nam sẽ đi về đâu.

Theo đề nghị của Nguyễn Ái Quốc, hội nghị đã cử đại biểuTrường Chinh làm Tổng Bí thư thay Tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ đã bị địch sát hại. Nắm vững tôn chỉ, mục đích của Mặt trận Việt Minh là đoàn kết không bỏ sót ai, không loại trừ ai, tất cả đều là ta, mọi giai cấp, mọi đảng phái đều sát cánh bên nhau dưới ngọn cờ dân tộc chống Pháp, Nhật, giành thống nhất và độc lập cho Tổ Quốc.

Mở trường lớp đào tạo cán bộ Việt Minh là đòi hỏi vô cùng cấp bách của tình hình đặc biệt khi quân đồng minh đã chiếm ưu thế so với phát xít Đức; riêng Hồng quân Liên Xô đã tiến vào đất Đức. Tài liệu học tập là “Lịch sử nước ta”, Nguyễn Ái Quốc viết khi về đến Cao Bằng theo thể diễn ca để dễ thuộc lòng vì còn có nhiều người mù chữ, kể cả một số cán bộ cơ sở: Lớp học của các tỉnh ủy viên tập trung ở xã Vân Xuyên, huyện Hiệp Hòa, Bắc Giang, mỗi lớp thời gian học là 8-9 ngày. Tổng Bí thư Trường Chinh đã trực tiếp phụ trách lớp học này với nội dung tận dụng thời cơ để tiến đến tổng khởi nghĩa vì chắc chắn Liên Xô đè bẹp phát xít Đức, tạo thuận lợi để các dân tộc thuộc địa trong đó có Việt Nam giành lại quyền làm chủ đất nước.

Khi có ngoại xâm, chính nền tảng đoàn kết toàn dân như Mặt trận Việt Minh thời ấy mới tập trung hết mức mọi nhân tài, vật lực chống được lực lượng xâm lược.

Đoàn kết toàn dân, một số người giàu có ở thành phố và nông thôn đã tham gia Việt Minh. Ông bà Trịnh Văn Bô, nhà buôn tơ lụa giàu có nổi tiếng khu buôn bán sầm uất hàng Ngang, hàng Đào đã là cơ sở của Mặt trận Việt Minh từ năm 1944. Mấy lần cách mạng cần một vạn hoặc hai vạn đồng (tiền Đông Dương), ông bà đều có ngay (1 tạ gạo giá 18 đồng 5 hào). Gần sát ngày tổng khởi nghĩa, cách mạng cần 6 vạn đồng Đông Dương, cần ngay trong vòng 6 tiếng đồng hồ, ông bà đã phải lấy tơ từ trong kho ra bán mới đủ tiền cho cách mạng trong khi giá tơ còn thấp. Sau ngày 2 tháng 9 thành lập nước, ông bà thu xếp ngay món tiền một triệu đồng Đông Dương cho ngân hàng quốc gia, ông Trịnh Văn Bô được nhà nước cử làm Tổng giám đốc ngân hàng.

Cũng khoảng năm 1944, nhà đại điền chủ Huỳnh Thiên Lộc ở miền Tây Nam bộ đã tham gia Đảng Dân chủ (trong Mặt trận Việt Minh), ông đã hiến cho mặt trận 2 vạn hecta ruộng đất ở Rạch Giá và tham gia Mặt trận Việt Minh của tỉnh. Trong phong trào hiến điền từ năm 1950, ông đã đi khắp miền Tây Nam bộ vận động điền chủ hưởng ứng. Do uy tín của ông, ông đã góp phần đưa đến kết quả tốt đẹp, hàng vạn nông dân có ruộng đất, đời sống được cải thiện, kháng chiến được đẩy mạnh và đoàn kết trong mặt trận Dân tộc Thống nhất được vững vàng.

Nhà nước dân chủ cộng hòa ra đời, ông được tham gia chính phủ, là bộ trưởng Bộ Canh nông, ông từng học ở Pháp và tốt nghiệp kỹ sư canh nông. Hồ Chủ tịch sang thăm nước Pháp theo lời mời của Chính phủ Pháp, Bộ trưởng Huỳnh Thiên Lộc là một thành viên trong phái đoàn của Chủ tịch nước.

Chính phủ lâm thời được thành lập ngày 25.8.1945 do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, quy tụ nhiều trí thức không phân biệt thành phần, đảng phái. Ảnh: TL

Chỉ trong vòng hơn 4 năm, từ 1941 đến 1945, với nghị quyết lịch sử thông qua tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8, quyết định thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất rộng rãi mang tên Việt Nam Độc lập Đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) mà khối đoàn kết toàn dân đã được củng cố rộng rãi, liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước. Tháng 8.1945 khi chiến tranh thế giới lần thứ hai biến chuyển nhanh với sự đầu hàng của quân đội Nhật trước quân đội đồng minh; Mặt trận Việt Minh đã sẵn sàng để đảm đương hai nhiệm vụ lịch sử to lớn là tổng khởi nghĩa và hoàn thành Cách mạng tháng Tám. Rõ ràng không có Mặt trận Việt Minh đoàn kết theo đúng truyền thống của ông cha muôn người như một, chắc chắn không có Cách mạng tháng Tám, không có nhà nước dân chủ cộng hòa, càng không thể có 30 năm kháng chiến đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Khi có ngoại xâm, chính nền tảng đoàn kết toàn dân như Mặt trận Việt Minh thời ấy mới tập trung hết mức mọi nhân tài, vật lực chống được lực lượng xâm lược.

Nay đất nước độc lập và thống nhất đã hơn bốn mưới năm, chỉ còn ta với ta, lại càng phải nhìn nhận lại thật sâu sắc bài học đoàn kết toàn dân. Chúng ta đang đối diện với các câu hỏi vì sao hơn 40 năm rồi mà nền công nghiệp Việt Nam phần lớn vẫn chuyên về khai thác tài nguyên, vẫn chưa thoát khỏi trình độ “gia công lắp ráp”. Công nghiệp hỗ trợ phát triển vẫn còn chậm, nền kinh tế đã có một số khởi sắc nhưng vẫn còn lệ thuộc vào “nhập khẩu đầu vào”. Năng suất lao động đã được cải tiến nhưng vẫn còn thua kém các nước Đông Nam Á (Singapore hơn ta 10 lần, Malaysia hơn ta gần 5 lần), Việt Nam rơi vào bẫy thu nhập trung bình chủ yếu vì năng suất lao động thấp.

Ngành ô tô được bảo hộ cao nhất trong vòng gần 3 thập kỷ qua nhưng vẫn chưa thấy trưởng thành. Công nghiệp ô tô của ta chưa thể cạnh tranh với ô tô của các nước cùng khu vực. Phải chăng chúng ta Đổi mới đã mấy chục năm nhưng đổi mới vẫn chưa toàn diện, mạnh mẽ và triệt để vì chưa có niềm tin thực sự vào sức mạnh Đoàn kết toàn dân như Mặt trận Việt Minh hơn 70 năm trước.

Phải chăng, cách nghĩ, cách làm về Đoàn kết toàn dân phải như thời Mặt trận Việt Minh mới có thể tập trung cao độ sức người, sức của, người tài giỏi mới thực sự được trọng dụng trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt của giai đoạn hội nhập quốc tế mới thực hiện được nền kinh tế thị trường lành mạnh, phát triển đất nước bền vững, độc lập tự chủ, văn minh./.

Thái Duy

bài viết liên quan
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.