Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng: Bức tranh thiên tai hiện nay mang đậm dấu ấn nhân tai

 22:32 | Thứ bảy, 09/05/2026  0
Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng yêu cầu các địa phương nhận diện rõ bức tranh thiên tai hiện nay mang đậm dấu ấn “nhân tai,” từ việc khai thác tài nguyên quá mức đến sự thay đổi nguồn nước từ thượng nguồn.

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng phát biểu tại Hội nghị. Ảnh: Thanh Liêm/TTXVN


Chiều 9.5, tại thành phố Cần Thơ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội nghị triển khai Kết luận số 26-KL/TW của Bộ Chính trị về phòng, chống sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn vùng Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2026-2035.

Phát biểu tại Hội nghị, Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng nhấn mạnh yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ từ tư duy ứng phó thụ động sang chủ động phòng ngừa, thích ứng theo hướng thuận thiên, bảo đảm tính liên kết vùng để phát triển bền vững.

Đổi mới tư duy quản lý

Tại hội nghị, Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng khẳng định Kết luận số 26-KL/TW về phòng, chống sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2026-2035 thể hiện tầm nhìn chiến lược của Bộ Chính trị trước những thách thức cực đoan từ biến đổi khí hậu và tác động của con người đối với vùng hạ du sông Mekong.

Người đứng đầu ngành nông nghiệp và môi trường yêu cầu các địa phương phải nhận diện rõ bức tranh thiên tai hiện nay mang đậm dấu ấn của “nhân tai,” từ việc khai thác tài nguyên quá mức đến sự thay đổi nguồn nước từ thượng nguồn. Việc quán triệt tinh thần chỉ đạo mới phải được thực hiện khẩn trương nhằm thay đổi căn bản phương thức quản trị rủi ro trên toàn vùng.

Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng nhấn mạnh quan điểm quản lý hiện đại không đồng nghĩa với việc ngăn cấm cực đoan mà phải hướng tới sự quản lý thông minh, linh hoạt.

Các tỉnh, thành phố cần rà soát lại toàn bộ hệ thống quy hoạch chuyên ngành, từ quy hoạch phân khu đến quy hoạch đô thị và nông thôn, bảo đảm sự tương thích với các hình thái thiên tai đặc thù. Đặc biệt, công tác quản lý tài nguyên nước, cát lòng sông và nước ngầm cần được siết chặt để tránh tình trạng sụt lún, sạt lở diễn biến phức tạp hơn.

Một trong những sáng kiến quan trọng được đề cập là việc chuyển đổi mục đích sử dụng các bãi bồi, cồn cát đang bị sạt lở thay vì đầu tư các công trình kè tốn kém. Bộ trưởng phân tích, thay vì chi hàng trăm tỷ đồng để bảo vệ những diện tích nhỏ hẹp không còn khả năng phục hồi tự nhiên, các địa phương có thể nghiên cứu biến những khu vực này thành mỏ khoáng sản phục vụ hạ tầng giao thông, từ đó tạo nguồn thu tái đầu tư cho công tác an sinh xã hội. Tư duy thích ứng này giúp cân bằng giữa lợi ích kinh tế và bảo vệ môi trường, phù hợp với nguyên tắc thuận thiên.

Về hạ tầng, Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng yêu cầu các đơn vị trực thuộc phối hợp với địa phương rà soát tính hiệu quả của các công trình kiểm soát nguồn nước.

Điển hình như mô hình cống âu Nguyễn Tấn Thành tại Đồng Tháp đã phát huy hiệu quả bảo vệ hàng chục nghìn ha sản xuất và cung cấp nước sinh hoạt cho hàng triệu dân với chi phí đầu tư hợp lý (khoảng 460 tỷ đồng). Việc nhân rộng các mô hình này cần gắn liền với tầm nhìn toàn vùng, tránh tình trạng đầu tư manh mún, cục bộ gây tổn thương cho các địa phương lân cận.

Để nâng cao năng lực quản trị, Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng chỉ đạo đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số. Các địa phương cần xây dựng hệ thống dữ liệu liên thông, cập nhật theo thời gian thực về diễn biến sụt lún, hạn mặn và nguồn nước từ thượng nguồn. Việc phát triển các ứng dụng di động như mô hình Forestry 4.0 sẽ giúp các cấp quản lý từ xã đến trung ương nắm bắt chính xác hiện trạng tài nguyên và rủi ro thiên tai, đảm bảo dữ liệu luôn “đúng, đủ, sạch, sống."

Bên cạnh các giải pháp kỹ thuật, ưu tiên hàng đầu được xác định là bảo vệ tính mạng và tài sản nhân dân. Bộ trưởng yêu cầu các tỉnh cung cấp số liệu chính xác về các hộ dân trong vùng nguy hiểm để xây dựng kế hoạch sắp xếp lại dân cư dài hạn.

Với nhu cầu di dời ước tính hàng chục nghìn hộ, việc tính toán kinh phí và quỹ đất tái định cư phải được đưa vào kế hoạch đầu tư công trung hạn và dài hạn đến năm 2035 và tầm nhìn xa hơn. Đồng thời, các địa phương cần tăng cường hợp tác quốc tế, tranh thủ nguồn lực từ các tổ chức đa phương để thực hiện các dự án hạ tầng thích ứng quy mô lớn.

Gỡ điểm nghẽn hạ tầng

Đại diện cho thành phố Cần Thơ, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Trương Cảnh Tuyên xác định việc thực hiện Kết luận số 26-KL/TW là nhiệm vụ chính trị trọng tâm của trung tâm động lực vùng. Với quy mô quản lý hơn 6.360km2 và hệ thống kênh rạch chằng chịt dài gần 13.000km, thành phố đang đối mặt với áp lực hạ tầng rất lớn trước sự thay đổi của dòng chảy và triều cường.

Chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ Trương Cảnh Tuyên phát biểu tại Hội nghị. Ảnh: Thanh Liêm/TTXVN


Thành phố kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường sớm ban hành các tiêu chuẩn kỹ thuật về quản lý nước ngầm và hạ tầng thích ứng, đồng thời hỗ trợ cơ chế chia sẻ dữ liệu liên vùng để phục vụ dự báo.

Về nhu cầu cấp bách, lãnh đạo thành phố Cần Thơ đề xuất Trung ương ưu tiên bố trí khoảng 570 tỷ đồng để khắc phục các điểm sạt lở nghiêm trọng và đầu tư dự án chống ô nhiễm rạch Khai Luông, đảm bảo bảo vệ hơn 3.000ha trước ngập úng, sạt lở.

Thành phố cũng mong muốn được hỗ trợ ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong giám sát công trình thủy lợi và nghiên cứu các mô hình nông nghiệp tiết kiệm nước nhằm giảm thiểu khai thác nước ngầm, góp phần hạn chế tình trạng sụt lún đô thị.

Một dãy nhà ven sông Nàng Mau, đoạn qua xã Thạnh Hòa, thành phố Cần Thơ bị sạt lở chỉ còn vài mảng tường. Ảnh: Thanh Liêm/TTXVN


Tại Đồng Tháp, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Nguyễn Phước Thiện nêu lên thực trạng khó khăn trong quản lý cát lòng sông phục vụ các dự án cao tốc. Ông Thiện phản ánh sự chênh lệch lớn giữa dữ liệu quy hoạch và trữ lượng cát thực tế, gây rủi ro pháp lý cho cán bộ địa phương trong quá trình cấp phép mỏ theo các nghị quyết đặc thù.

Đồng Tháp kiến nghị Bộ cần có bộ công cụ kỹ thuật hiện đại để đánh giá chính xác hệ số bồi lắng và biến động đáy sông, từ đó đưa ra cảnh báo sớm về nguy cơ sạt lở do hoạt động khai thác cát.

Vấn đề di dời dân cư cũng là điểm nghẽn lớn được lãnh đạo tỉnh Đồng Tháp đề cập. Hiện nay, đa số hộ dân sống ven kênh rạch là hộ nghèo, không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không đủ điều kiện hưởng chính sách bồi thường, tái định cư truyền thống.

Sạt lở bờ sông cắt đứt đường giao thông và đe dọa nhà ở của người dân. Ảnh: Nhựt An/TTXVN


Tỉnh kiến nghị cần có cơ chế đặc thù cho phép người dân trong diện di dời theo Kết luận 26 được nợ tiền sử dụng đất hoặc trả chậm trong thời gian dài. Giải pháp này không chỉ giúp ổn định dân sinh mà còn giảm áp lực đầu tư các công trình đê kè tại những khu vực có địa chất yếu, rủi ro sạt lở cao.

Trong khi đó, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Vĩnh Long Châu Văn Hòa thông tin địa phương đã cơ bản hoàn thành đề án chống sạt lở và bảo vệ bờ bao đến năm 2030.

Vĩnh Long thể hiện sự đồng thuận cao với chủ trương thích ứng thuận thiên thông qua kế hoạch xóa bỏ cồn Thanh Long - một khu vực sạt lở sâu trên 10m và chỉ còn 6 hộ dân sinh sống. Thay vì đầu tư 150 tỷ đồng để kè đá bao quanh cồn mà không đảm bảo hiệu quả lâu dài, tỉnh quyết định di dời dân và chuyển đổi khu vực này thành nguồn vật liệu san lấp.

Lãnh đạo tỉnh Vĩnh Long cũng đề xuất Bộ sớm ban hành hướng dẫn cụ thể về định mức di dân và các quy chuẩn về cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi phù hợp với từng phân vùng hạn mặn. Việc xây dựng một phương án di dân tổng thể cho toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long với định mức hỗ trợ rõ ràng là cơ sở quan trọng để các địa phương phối hợp triển khai đồng bộ.

Tại hội nghị, các địa phương cũng cam kết sẽ khẩn trương cập nhật các nội dung về sụt lún, sạt lở và lấn biển vào quy hoạch tỉnh ngay trong quý II.2026 để làm cơ sở pháp lý triển khai các dự án đầu tư công giai đoạn tới.

Thanh Liêm

Nguồn TTXVN/vietnamplus.vn
bài viết liên quan
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.