Nhìn Hồ Gươm từ hai góc độ
Tôi nhìn vấn đề sắp xếp, chỉnh trang lại toàn bộ khu vực Hồ Gươm dưới hai góc độ. Thứ nhất, là một người Sài Gòn thường xuyên thăm và công tác Hà Nội từ 40 năm nay. Thứ hai, là người nghiên cứu lịch sử đô thị, có tìm hiểu về quy hoạch và kiến trúc của thủ đô.
| Nhà nghiên cứu Trần Hữu Phúc Tiến. Ảnh: T.D. |
Theo tôi, điều đầu tiên cần nói là cảnh quan và các kiến trúc Hồ Gươm có tên tuổi, có giá trị văn hóa lớn và được đồng thuận rộng rãi từ lâu. Dù có thể chưa đến Hà Nội nhưng qua sách sử và văn chương, nhiều thế hệ người dân trên cả nước đã biết Thăng long - Hà Nội yêu quý có một địa điểm cổ kính và xinh đẹp tiêu biểu là Hồ Gươm, còn gọi là Hồ Hoàn Kiếm. Đặc biệt với người Sài Gòn, tôi nghĩ Hồ Gươm giống như Bến Bạch Đằng - vàm Bến Nghé là nơi chốn viếng thăm không thể thiếu của thành phố. Cả hai nơi đều giàu có những yếu tố lịch sử, nghệ thuật và tâm linh, đều trở thành một phần ký ức đô thị của cộng đồng, và kể cả ký ức dân tộc...
Đương nhiên, việc quy hoạch đô thị và xây dựng công trình ở bất cứ nơi nào đều không thể chỉ dựa vào cảm tính. Thế nhưng ký ức cộng đồng không phải là cảm tính hay cảm xúc nhất thời mà có thể bỏ qua. Bởi đó chính là "hợp chất keo sơn" hòa trộn các yếu tố nhân văn và lịch sử, để phải tính toán nhu cầu sử dụng và phản ứng của cộng đồng (cũng là người tiêu dùng) khi muốn kiến tạo hay sửa đổi một không gian sống và thưởng ngoạn. Nhất là khi không gian ấy đã chứa đựng cảnh quan và các kiến trúc hay đẹp và hợp lý thì không thể gạt bỏ, hay bất chấp chúng ngay từ lúc hình thành ý định thay đổi.
Hồ Gươm được bồi đắp bởi nhiều lớp trầm tích văn hóa - lịch sử
Lịch sử hình thành và chỉnh trang cảnh quan và các kiến trúc ở Hồ Gươm không chỉ mới 100 năm mà là một quá trình nhiều thế kỷ. Từ khoảng thế kỷ 15, Hồ Gươm từng có tên gọi đẹp là Hồ Lục Thủy, với một phần tiếp giáp khu vực phố chợ ven sông Hồng.
Khởi thủy, hồ gươm thông với sông Hồng và có diện tích lớn gấp đôi hiện tại. Trước khi người Pháp vào, Hồ Gươm đã là một tổng thể di sản độc đáo, đa tầng giá trị. Nơi đây là dấu tích sông nước và thủy sinh vật cổ xưa của Hà Nội, đồng thời là dấu tích quan trọng của nhà Lê (cung đình và thủy quân). Mặt khác, Hồ Gươm có các đền chùa, tượng đài thể hiện văn hóa và tín ngưỡng của kinh đô, nơi lui tới của giới nho học, dân cư thương nhân và thủ công.

Hình ảnh Hồ Gươm vào năm 1908. Ảnh tư liệu
Vào cuối thập niên 1880, người Pháp bắt đầu tái thiết và hiện đại hóa Hà Nội. Ngoài việc xây mới khu phố Tây (nay là các ô phố quanh các đường Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Bà Triệu, Tràng Tiền, Tràng Thi và các công trình Nhà hát lớn, Dinh Thống sứ..., họ dần dần chỉnh trang khu vực Hồ Gươm và khu Phố Cổ. Qua đó, tạo nên một diện mạo mới kết hợp cổ truyền và tân thời, giao duyên văn hóa Đông - Tây cho trung tâm Hà Nội gốc.
Chính quyền Pháp làm nhiều việc mới mẻ: cắt bớt diện tích hồ, mở rộng con đường quanh hồ, trồng cây, cống ngầm và xây cất các nhà cửa phần lớn là công sở thấp tầng. Họ giữ lại tháp Rùa, đền Ngọc Sơn, tháp Bút và đền Bà Kiệu song cũng đã phạm lỗi khi phá bỏ chùa Báo Ân để lấy đất xây nhà bưu điện.
Cho đến trước 1945, không gian Hồ Gươm được cách tân, hoàn thiện căn bản với nhiều điểm đặc sắc. Trước nhất là khung cảnh hồ nước và cây xanh thơ mộng ngay trung tâm của một thành phố quy mô nhỏ (vẫn chỉ mới mở rộng một ít từ bờ sông Hồng trở vào). Hồ Gươm từ đó còn được gọi là hồ trung tâm, phân biệt với Hồ Tây và các hồ khác (còn trong khung cảnh nông thôn).
Kế đến, việc rất quan trọng, chính quyền sắp xếp rõ ràng chức năng phân khu hai bên bờ hồ, không để nhà cửa mọc lên tự phát. Trong đấy, khu vực nằm dọc đường Đinh Tiên Hoàng được ưu tiên dành cho các công sở (civic quartier). Nơi đây có tòa thị chính (nối tiếp phía sau là kho bạc), nhà bưu điện (giáp lưng là dinh Thống sứ - Bắc bộ phủ). Gần bên Tòa thị chính là nhà máy và sở điện lực, đối diện với đền Ngọc Sơn về sau có thêm một tu viện công giáo (sau 1954 là Sở văn hóa).

Bến tàu sông Hồng cạnh khu phố cổ thập niên 1920 trước khi bị bồi lắng. Ảnh TL
Khi tàu điện (tramway) ra đời thì có đường tàu chạy từ khu phố Tây đi ven hồ vào đến Hàng Đào và chợ Đồng Xuân. Trạm tàu điện Bờ Hồ nằm ở vị trí trạm xe du lịch hiện giờ, nhìn sang tòa nhà sở xe điện (chính là vị trí xây mới thành tòa nhà "Hàm cá mập" vào thập niên 1980 -1990, vừa bị phá bỏ). Trong khi ấy, tại bên kia bờ hồ, khu vực dọc đường Lê Thái Tổ, phần lớn là nhà cửa thương mại (khách sạn, cửa hàng, căn hộ trên lầu). Ngoài ra, còn có một trụ sở cảnh sát (bót Hàng Trống) và một biệt thự thuộc dinh Phó Toàn quyền (toàn bộ khuôn viên dinh sau 1954 là trụ sở báo Nhân Dân).
Đặc biệt, từ thập niên 1920 -1930 có thêm hai tòa nhà đẹp thể hiện phong cách kiến trúc Pháp - Đông Dương duyên dáng là trụ sở hội Khai trí Tiến đức (nay là các cơ quan thuộc ngành Văn hóa và nhà hàng Lục Thủy) và nhà hàng Thủy Tạ - tạo dáng cung điện Á Đông. Thêm nữa là một tòa biệt thự theo kiểu Bắc Pháp - tòa báo Hà Nội Mới hiện tại.
Đáng chú ý, tất cả các kiến trúc cổ và hiện đại đều có chiều cao vừa phải, không vượt quá các hàng cây. Bản thân vỉa hè dọc hồ đã trở thành vườn hoa nhưng không gian Hồ Gươm còn có vườn hoa kế cận nay là công viên và tượng đài Lý Thái Tổ. Mặt khác, hài hòa với các kiến trúc cổ, các trí thức Hà Nội trước 1945 còn thuyết phục chính quyền cho xây đền và tượng đài Lý Thái Tổ bên cạnh nhà Khai Trí Tiến Đức và bia tưởng niệm Alexandre de Rhodes, một nhà tiên phong phát triển chữ quốc ngữ gần bên đền Bà Kiệu.
Thêm nữa giữa giao lộ kết nối Hồ Gươm với Hàng Gai, Hàng Đào, phố Cầu Gỗ đã hình thành một bồn phun nước kiểu châu Âu, làm tâm điểm vừa thuận lợi cho giao thông, vừa góp thêm điểm nhấn thú vị (quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục).
Nhìn chung, cảnh quan và các kiến trúc ở Hồ Gươm trước 1945 và còn tiếp diễn nhiều năm sau đó, đã được thiết kế hoàn mỹ, thể hiện sự tương tác hòa thuận giữa nhiều lớp lịch sử. Không gian Hồ Gươm xứng đáng là một thành công về quy hoạch và xây dựng, tạo nên một nơi chốn thi vị và hứng khởi cho cư dân và du khách!

Hồ Gươm những năm 1985 với rất ít tòa nhà cao tầng xung quanh. Ảnh: Vũ Hanh - TTXVN
Bảo vệ Hồ Gươm khi có hành vi xâm lấn!
Chúng ta không thể quên cảnh quan và các kiến trúc Hồ Gươm trước đây đã có nhiều lần bị xâm lấn và mỗi lần như thế người dân và công luận đều lên tiếng phê phán. Thời Pháp, có lúc tượng "bà đầm xòe" (Nữ thần tự do) được đặt ngang ngược trên đỉnh tháp Rùa nhưng rồi phải hạ xuống vì xã hội đồng lòng phản đối.
Thời hiện đại, việc ra đời tòa nhà Bưu điện, tòa nhà "Hàm cá mập" và trụ sở mới của UBND thành phố có hình ảnh "lạc điệu" với cảnh quan Hồ Gươm đã khiến giới chuyên môn và người dân bất bình. Vào thập niên 1980, các kiến trúc sư và trí thức Hà Nội đã có kiến nghị cảnh báo nguy cơ xây cất tràn lan, bê tông hóa, xâm thực không gian xanh của Hồ Gươm.
Tiến sĩ Hà Đình Đức, một chuyên gia sinh học, không chỉ dừng ở việc lên tiếng bảo vệ các "cụ rùa" mà còn cùng các thành viên Hội Lịch sử Việt Nam kiến nghị ngăn chặn kịp thời việc xây một cao ốc hơn 10 tầng ngay sát bờ hồ (ngay góc phố Bảo Khánh, đối diện nhà hàng Thủy Tạ). Những năm gần đây, người Hà Nội cũng đã lên tiếng phản đối tập đoàn điện lực lập dự án xây nhà một phức hợp cao tầng đối diện đền Ngọc Sơn và tháp Rùa...
Còn nhiều sự việc khác tương tự cho thấy nếu ai đó "gây hấn" với Hồ Gươm thì tiếng nói lương tri của cộng đồng sẽ thay thế "gươm thần" của người xưa để phản kháng và bảo vệ "văn vật" của Thủ đô!
"Gươm thần" công lý cần sắc bén hơn!
Thế nhưng để cứu giữ di sản, không thể chỉ có tiếng nói của người dân, giới chuyên môn và báo chí - truyền thông mà còn cần có hành động mau chóng của các cơ quan pháp luật và chính quyền. Mỗi lần công chúng lên tiếng bảo vệ cảnh quan và các kiến trúc di sản cũng là dịp để các cơ quan công quyền phải nhìn lại hệ thống pháp luật đã đủ hay chưa, và cần sửa đổi và bổ sung ra sao để pháp luật mới chính là "gươm thần" mạnh mẽ và hiệu quả nhất!
Theo tôi, đến nay pháp luật hiện hành đã có những quy định liên quan đến công trình công cộng và yêu cầu bảo vệ cảnh quan. Cụ thể, điểm d khoản 1 Điều 11 của Luật Kiến trúc - năm 2019 quy định: “Công trình công cộng, công trình phục vụ tiện ích đô thị trên tuyến phố phải bảo đảm yêu cầu thẩm mỹ, công năng sử dụng, bảo đảm an toàn cho người và phương tiện giao thông”. Thêm nữa, điểm e khoản 1 điều này cũng quy định các công trình tượng đài, điêu khắc, phù điêu, đài phun nước và công trình trang trí khác phải được thiết kế phù hợp với cảnh quan, đáp ứng yêu cầu sử dụng và thẩm mỹ nơi công cộng.

Tháp rùa cổ kính trong sắc vàng của lá mùa xuân và màu đỏ rực của hoa gạo. Ảnh: Hữu Nghị/Dân Trí
Mặt khác, khoản 4 Điều 10 của Luật Kiến trúc quy định nguyên tắc không tác động tiêu cực đến cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình kiến trúc có giá trị và môi trường sinh thái. Điều 11 khẳng định kiến trúc đô thị phải hài hòa với không gian, kiến trúc, cảnh quan chung của khu vực; gắn kết giữa khu hiện hữu, khu phát triển mới, khu bảo tồn và các khu vực giáp ranh, đồng thời phù hợp với cảnh quan thiên nhiên!
Như vậy, pháp luật đã có những quy định rất chính xác về bảo vệ cảnh quan và kiến trúc ở các không gian công cộng. Song theo tôi, qua vụ việc dự kiến quy hoạch lại Hồ Gươm và xây dựng "Khải hoàn môn" tại đây, nhà nước cần kịp thời làm rõ hơn thế nào là cảnh quan thông thường và cảnh quan văn hóa gắn với di sản đặc biệt để ngăn ngừa khả năng vi phạm. Rất hoan nghênh, gần đây Luật Di sản văn hóa sửa đổi đã đưa khái niệm “cảnh quan văn hóa”. Chúng ta mong Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Bộ Xây dựng sớm dự thảo các quy định chi tiết các tiêu chí và giải pháp bảo vệ cảnh quan văn hóa về cả quy hoạch không gian và xây dựng, sửa chửa, làm mới cũng như thay đổi công năng của kiến trúc.
Thêm nữa, theo tôi cần coi không gian công cộng (không chỉ "danh lam thắng cảnh") và các công trình di sản (cảnh quan và kiến trúc) thuộc sở hữu nhà nước cũng thực sự là tài sản công. Và điều ấy cần được khẳng định, bổ sung vào Luật Quản lý, sử dụng tài sản công hiện hành. Có làm như thế thì Hồ Gươm cũng như các cảnh quan và kiến trúc di sản mới có đủ cơ chế giám sát và chế tài vi phạm bởi cộng đồng và các cơ quan pháp luật, chứ không chỉ các cơ quan chuyên môn.
Tôi đề nghị hệ thống pháp lý giám sát và chế tài để cứu giữ di sản nói chung, cũng như cảnh quan và kiến trúc nói riêng, cần có ít nhất ba cấp độ. Thứ nhất là nhận diện và công bố minh bạch thế nào là không gian công cộng cũng như cảnh quan và kiến trúc di sản. Đặc biệt làm rõ các cơ quan nào chịu trách nhiệm nghiên cứu, công bố, giám sát và xử phạt. Chẳng hạn vai trò của hội đồng nhân dân các cấp, hội đoàn, thanh tra văn hóa và thanh tra xây dựng, thanh tra môi trường và ngay cả công an và tòa án...
Thứ hai là chế độ chế tài, xử phạt nghiêm khắc từ cảnh cáo đến đình chỉ và phạt nặng với các dự kiến đe dọa và hành vi gây hại cho di sản. Và cuối cùng là trách nhiệm và giải pháp khắc phục và bồi thường khi vi phạm đã xảy ra. Qua đấy, không chỉ tháo dỡ, sửa lại cảnh quan và kiến trúc như cũ mà còn phải làm bia lưu niệm và các hình thức thông tin tái tạo phần nào hình ảnh các công trình đã "lỡ tay" làm hư hại, hay xóa bỏ mà không thể phục hồi. Tôi gọi đó là "bồi thường lịch sử", một khái niệm không dừng ở đạo đức mà còn phải đi vào quy định pháp luật.
Mong rằng, quanh các vụ việc tương tự chuyện quy hoạch Hồ Gươm, chúng ta vẫn phải tuân theo nguyên tắc sống và làm việc theo pháp luật và hơn nữa theo hiểu biết xã hội và theo lương tri. Không thể không tìm hiểu kỹ lịch sử và pháp luật của vùng đất, của con người ở từng nơi chốn cụ thể trước khi đưa ra những quyết định nhân danh hiện đại hóa hay phát triển mới!
Đừng xâm lấn quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục
Qua thông tin và hình ảnh trên báo chí, tôi rất ngạc nhiên khi biết Đồ án đưa vào một loạt cấu trúc mới cả trên mặt đất và dưới không gian ngầm, trong đó quảng trường Hòa Bình với quy mô siêu lớn, được mở rộng, thay thế và đổi tên từ quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục, với Bảo tàng Hòa bình (4 tầng hầm và phần nổi cỡ 20m) hình khối không ăn nhập với bối cảnh. Khải hoàn môn cao khoảng 36m đặt tại khu vực khá sát hồ.
Nếu có một công trình "khổng lồ" như thế thì nó không những xâm lấn không gian quảng trường và bờ hồ mà còn lấn át kiến trúc nhà hàng Thủy Tạ gần đấy và cả đầu dãy phố Hàng Đào, Hàng Gai, Cầu Gỗ cũng như đoạn phố Đinh Tiên Hoàng tiếp giáp đền Bà Kiệu và đền Ngọc Sơn. Qua nhiều thập kỷ, không gian quảng trường Đông Kinh Nghĩa thục đã hoàn chỉnh, là cột mốc mở đầu khu phố cổ thương mại nối đến chợ Đồng Xuân. Trong đấy, cần nhớ nhà số 8 và số 10 Hàng Đào - hiện nay vẫn còn là dấu tích của phong trào Duy Tân, nơi đặt trường Đông Kinh Nghĩa Thục ra đời từ 1907.

Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục, một trong những không gian công cộng quan trọng ở cửa ngõ phố cổ, đang được tổ chức lại theo hướng mở rộng không gian dành cho cộng đồng. Ảnh: VGP
Việc đặt tên Đông Kinh Nghĩa Thục cho quảng trường này cũng như tên phố Lương Văn Can song song với Hàng Đào là một sáng kiến thể hiện việc trân trọng một phong trào và nhân vật lịch sử tiêu biểu cho dòng máu doanh thương và sĩ phu yêu nước. Do vậy, việc cần làm giờ đây không chỉ là ngăn chặn những công trình xây dựng xâm lấn không gian quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Đó còn là việc giữ lại tên quảng trường này.
Mặt khác, rất thiết thực, thay vì đổ tiền của dân cho những công trình to tát và lãng phí, hãy ưu tiên dùng kinh phí đó để trùng tu nhà số 8 và nhà số 10 Hàng Đào (buồn thay nơi này đang là cửa hàng quần áo!) và lập nhà lưu niệm Đông Kinh Nghĩa Thục tại đây. Việc tri ân tiền nhân, trân trọng lịch sử - văn hóa nên khởi đầu ngay từ những nghĩa cử như thế, đâu cần đến ngay những dự án cao siêu.
Hà Nội đã có kinh nghiệm quyết liệt về việc này. Chắc chúng ta còn nhớ năm 2010, nhân kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long, chính quyền thành phố sau khi lắng nghe ý kiến của dân đã quyết định bãi bỏ việc xây dựng 5 cổng chào ở các cửa ngỏ ra vào Thủ đô. Nhờ đấy tiết kiệm được ngân sách, chuyển sang chi dùng cho dân sinh. Nếu thực hiện 5 cổng chào đồ sộ nhân danh kỷ niệm lớn thì chắc hẳn tiếng xấu còn lưu truyền muôn đời trên "bia miệng" của nhân dân!
Trần Hữu Phúc Tiến (Nhà nghiên cứu)
Trung Dũng ghi